Phác đồ điều trị

Phác đồ điều trị đau dây thần kinh số 5 – V

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

I. ĐẠI CƯƠNG

Có nhiều loại đau ở mặt khác nhau nhưng mô tả đầu tiên và đầy đủ nhất là đau dây thần kinh số V của John Locke. Đây là lần đầu tiên ông điều trị cho vợ một bá tước Northumberland và là một đại sứ Anh tại Pháp vào tháng 4 năm 1677.

Vào năm 1773, John Forthergill mô tả 14 trường hợp thường gặp và nhấn mạnh đến loại đau này xảy ra đột ngột và bất ngờ được gọi là đau dây thần kinh số V, thường gặp người lớn tuổi, nữ nhiều hơn nam. Từ năm 1773, đau này (tic douloreux) được công nhận như một thực thể lâm sàng.

Đau dây thần kinh số V là một loại đau rất đặc thù, trong cơn đau thường rất nặng, xảy ra đột ngột và thường kéo dài từ vài giây cho đến không quá một phút. Đau này thường là tự phát hoặc xuất phát từ một điểm đau như cò súng (trigger spot). Đau dây thần kinh số V thường xuất hiện một bên, cũng có một số rất hiếm xuất hiện đau dây V hai bên, chiếm 3-6 % trường hợp. Những trường hợp đau hai bên không phải xuất hiện cùng một lúc mà đau một bên trong một thời gian dài rồi sau đó mới xuất hiện phía đối bên.

Đau dây thần kinh V là một triệu chứng đặc thù (không phải là một bệnh). Trên 70% đau dây V trên 70 tuổi, đau dây V cũng được liên kết với những nguyên nhân và cơ chế sinh lý bệnh khác nhau.

Đa số các bệnh nhân đau dây thần kinh V khi khám lâm sàng là hoàn toàn bình thừơng. Tuy nhiên cũng có 1 số trường hợp đau ở ½ mặt liên quan đến 1 số bệnh lý vùng góc cầu – tiểu não như xơ cứng rải rác (multiple sclerosis), u màng não (meningiomas), u dây V (schwannomas), u nang thượng bì (epidermoid cyst)…

II. CHẨN ĐOÁN

  1. Triệu chứng lâm sàng :
  • Tiền sử có cơn đau ngắn kịch phát, như điện giật, như dao đâm, thóang qua ở vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba.
  • Khởi đầu một bên một cách đột ngột và chấm dứt sau vài giây đến 2 phút.
  • Đau khi nói chuyện, ăn nhai, khi hôn, uống nước, đánh răng.
  • Thăm khám thần kinh bình thường.
  • Giữa các cơn đau là thời kỳ tương đối không đau.
  • Chú ý : Đau ở bệnh nhân Zona, viêm xoang, tăng nhãn áp, đau răng.
    1. Cận lâm sàng:

Xuqng, siêu âm để chẩn đoán phân biệt đau do nguyên nhân khác.

  1. Chẩn đoán phân biệt:

1/ Đau thần kinh sau Herpes : thường khai thác bệnh sử sẽ phát hiện tình trạng nhiễm Herpes trước đây .

2/ Đau đầu từng chuỗi : đau một bên mặt kèm theo chảy nước mắt , nước mũi , mồ hôi và các triệu chứng khác

3/ Hội chứng SUNCT : xãy ra ở nam giới trên 50 tuổi với các đặc điểm gần giống đau thần kinh V , thường khu trú quanh mắt hoặc vùng thái dương và dấu hiệu đặc trưng nhất là tình trạng đỏ mắt , chảy nước mắt kèm theo .

4/ Đau mặt không điển hình : triệu chứng tương tự đau thần kinh V , nhưng mức độ không dữ dội bằng , đồng thời không đáp ứng với Tegretol .

5/ Đau co thắt nữa mặt : nguyên nhân do thần kinh VII bị kích thích , thường đau và gây co giật các cơ một bên mặt , nhưng không dữ dội như đau thần kinh V .

III.  ĐIỀU TRỊ:

  1. Nguyên tắc: cắt cơn đau
  2. Điều trị:

Carbamazepin 200mg (tegretol) tăng liều dần đến khi hết triệu chứng, duy trì liều 1-2 tuần, giảm liều dần.

  • Liều khởi phát:

+ 100 – 400mg, 1-2 lần/ngày.

+ Liều tối đa 1200mg/ngày.

  • Trường hợp điều trị Carbamazepin không hiệu quả ta có thể phối hợp Gabapentin (neurotin) 300mg, 300-600mg/ngày.
  • Thuốc hỗ trợ : MgB6 hoặc Vitamin 3B( B1, B6, B12).

IV.  XUẤT VIỆN, THEO DÕI

Tái khám để chỉnh liều thuốc và theo dõi đau tái phát.

Hỏi đáp - bình luận