Điều trị những trường hợp tăng huyết áp đặc biệt cần chú ý gì?

Bệnh tim mạch

Tăng huyết áp dao động

Thể này hay xảy ra ở người trẻ hoặc ở những người có cường giao cảm. Stress, trạng thái căng thẳng thần kinh, những mâu thuẫn nội tâm… là những yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh, ở những bệnh nhân này, có tăng hoạt tính các hệ làm tăng huyết áp dẫn đến giải phóng nhiều adrenalin, nor- adrenalin, renin, angiotensin… làm tăng nhịp tim và làm huyết áp không ổn định. Dùng các chất ức chế thụ thể giao cảm bêta (như propranolol. ..) là tốt nhất hoặc các chất ức chế men chuyển (như Capto­pril…). Ngoài ra, nên dùng thêm thuốc an thần như Seduxen, Tranxene, ổn định trạng thái thần kinh.

Tăng huyết áp và suy mạch vành

Các chất ức chế thụ thể giao cảm bêta và các chất ức chế calci đều có hiệu lực trong điều trị bệnh suy mạch vành, vì vậy 2 loại thuốc này dùng rất tốt và hợp lý cho các bệnh nhân có hai bệnh đồng thời. Với nifedipin (Adalat) vì phải dùng thuốc lâu dài, không dùng loại có tác dụng nhanh vì các nghiên cứu thấy thuốc làm tăng tai biến mạch vành, chỉ nên dùng loại được bào chế dưới dạng giải phóng chậm Adalat LA. Cũng có thể dùng các chất ức chế men chuyển (như Captopril), nhiều nghiên cứu cho thấy có tác dụng tốt làm giảm suy mạch vành.

Không nên dùng hydralazin vì thuốc này gây nach nhanh làm tim phải làm việc nhiều hơn dễ xảy ra cơn đau thắt ngực.

Khi dùng các thuốc lợi tiểu thuộc nhóm có thải kali thì cần bổ xung kali kịp thời vì giảm kali máu dễ làm rối loạn chuyển hoá của cơ tim ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tim.

Điều trị những trường hợp tăng huyết áp đặc biệt
Điều trị những trường hợp tăng huyết áp đặc biệt cần chú ý

Tăng huyết áp và suy tim

Nên dùng các chất ức chế men chuyển như .. vừa hạ được huyết áp, vừa có tác dụng tốt trong điều trị suy tim vì do giãn mạch nên thuốc làm máu ứ lại ở ngoại vi và giảm lượng máu về tim, như vậy giảm được gánh nặng cho tim. Cũng cần phối hợp với một thứ thuốc lợi tiểu để giải quyết tình trạng phù nhưng chọn loại lợi tiểu thải kali như hypothiazid vì các thuốc như Captopril có khuynh hướng giữ kali.

Không được dùng các thuốc ức chế calci làm giảm sức co bóp cơ tim như verapamil, tildiem. Với thuốc ức chế thụ thể giao cảm bêta, tuy gần đây đã được dùng trong suy tim phối hợp với các thuốc kinh điển (như digitalis, thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển) nhưng với bệnh nhân tăng huyết áp có suy tim cần thận trọng, phải do thày thuốc quyết định, cách dùng và liều dùng không đúng có thể dẫn đến những tác dụng phụ không tốt.

Tăng huyết áp và suy thận

Các thuốc có thể dùng được: thuốc ức chế thụ thể giao cảm bêta, thuốc ức chế calci, alpha-methyl- dopa. Thận trọng khi dùng thuốc ức chế men chuyển, không chỉ định khi kali máu >5,5mmol/l, khi có hẹp động mạch thận hai bên.

Thuốc lợi tiểu: tránh dùng hypothiazid vì thuốc này làm giảm độ lọc của cầu thận, không dùng nhóm thuốc lợi tiểu giữ kali như spironolacton (Aldacton) vì có nguy cơ làm kali trong máu tăng cao hơn rất nguy hiểm. Chỉ dùng furosemid (Lasilix, Lasix).

Tăng huyết áp và đái tháo đường

Phải đưa huyết áp xuống ít nhất dưới 130/85mmHg, thấp hơn các trường hợp không có bệnh đái tháo đường, tốt nhất đưa về mức huyết áp bình thường hoặc huyết áp tối ưu.

Nhóm thuốc ức chế men chuyển (Captopril, Coversyl, Renitec, Accupril…) làm chậm tiến triển xấu của rối loạn chức năng cầu thận trong bệnh đái tháo đường nhất là khi đã thấy có albumin niệu, làm chậm tiến triển của biến chứng võng mạc kể cả ở bệnh nhân dái tháo đường typ I không có tăng huyết áp.

Có thể dùng nhóm thuốc ức chế calci, thuốc ức chế thụ thể alpha. về nhóm thuốc lợi tiểu, nên dùng indapamid (Natrilix SR), thuốc này không tác động đến chuyển hoá glucose và lipid, làm giảm huyết áp, giảm albumin niệu vi thể trên bệnh nhân tăng huyết áp có đái tháo đường.

Hỏi đáp - bình luận