Blog Trang 535

Kháng sinh Lincosanid

Tính chất: clindamycin và lincomycin là các kháng sinh gần với nhóm macrolid nên việc dùng toàn thân bị hạn chế do có nguy cơ viêm đại tràng giả mạc; thải trừ qua mật, kém phân bố trong dịch não tuỷ.

Phổ kháng khuẩn

Các loại thường nhạy cảm; cầu trùng ái khí gram dương (tụ cầu, liên cầu, gồm cả phế cầu); trực khuẩn ái khí gram âm (Bacteroides fragilis, Fusobacterium), cầu trùng kỵ khí gram dương (Peptococus, Peptostreptococus),trực khuẩn kỵ khí gram dương không tạo bào tử (Clostridium perfringens, Propionibacterium, Eubacterium, Actinomyces).

Các loại thường đề kháng:

Haemophylus influenza, Streptococus faecalis, các loại vi khuẩn ruột. Đề kháng chéo giữa clindamycin và lincomycin.

Chỉ định

Theo đường tiêm: giới hạn cho các nhiễm trùng nặng do các chủng kỵ khí và do tụ cầu khuẩn (kể cả loại tiết men penicillinase). Clindamycin không được chỉ định trong viêm màng não hay trong các nhiễm trùng thận và tiết niệu.

Các thuốc bôi da được dùng trong các dạng viêm và mụn trong bệnh trứng cá đa dạng ở người trẻ.

Thận trọng

Khi bị suy thận và gan, hiệu chỉnh liều dùng theo nồng độ trong huyết tương.

Khi bị ỉa chảy, ngừng ngay trị liệu do có thể bị viêm đại tràng giả mạc.

Đã bị dị ứng với clindamycin hay lincomycin.

Tiền sử viêm đại tràng.

Nhiễm trùng màng não (do thuốc phân bố không đủ trong dịch não tủy).

Tác dụng phụ

Viêm đại tràng giả mạc: biến chứng hay gặp và đôi khi rất nặng; trong bệnh viện, có thể viêm đại tràng do Clostridium difficile, chữa bằng uống vancomycin hay thay bằng uống metronidazol.

Nhiễm độc gan: tăng transaminase, đôi khi vàng da.

Phản ứng dị ứng: phát ban, nổi mẩn da, hội chứng Steven – Johnson, hội chứng Lyell.

Nhiễm độc tủy: giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu.

Tương tác: với các macrolid (có thể đối vận); với các thuốc giãn cơ (cộng hợp), với diphenoxylat (tránh phối hợp).

CÁC BIỆT DƯỢC (Lincosanid)

Clindamycin

Dalacine ® (Pharmacia & Upjohn) Liều dùng:

Theo đuờng uống: người lớn 600- 2400 mg chia 3-4 lần; trẻ em 15 mg/kg/ngày.

Theo đường tiêm bắp thịt: tối đa 600 mg/lần tiêm.

Truyền tĩnh mạch: người lớn 600-2400 mg/24 giờ chia 2-4 lần; trẻ em 15-40 mg/kg/24 giờ.

Không tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch.

Bôi da 2-4 lần mỗi ngày (sáng và tối).

Lincomycin

Lincocine ® (Pharmacia & Upjohn). Liều dùng:

Theo đường uống: người lớn 1,5- 2 g/ngày, chia 3-4 lần; trẻ em 30- 60 mg/kg/ngày.

Theo đường tiêm bắp thịt hay truyền tĩnh mạch: người lớn 1,2- 1,8 g/24 giờ, chia 2-3 lần; trẻ em 10 – 20 mg/kg/ngày.Không tiêm tĩnh mạch trực tiếp.

Chăm sóc người bệnh Lỵ Amíp

Lỵ A míp là tình trạng nhiễm trùng ở ruột già do Entamoeba histolytica. Hầu hết ở dạng mang mầm bệnh không triệu chứng, một số biểu hiện mở dạng tiêu chảy nhẹ kéo dài hoặc trầm trọng hơn là lỵ tối cấp. Biểu hiện lâm sàng ngoài ruột là gan, màng bụng, màng phổi, ngoài tim.

Tác nhân gây bệnh chính là Entamoeba histolytica, trong cơ thể tồn tại dưới ba dạng: thể hoạt động ăn hồng cầu; thể không ăn hồng cầu; thể bào nang.

Bệnh lỵ A míp lây qua đường tiêu hóa, phương thức lây bệnh: gián tiếp qua thức ăn, nguồn nước, thú vật mang mầm bệnh. Lây trực tiếp qua bàn tay bị nhiễm bẩn các bào nang và thức ăn lên miệng. Lứa tuổi mắc lỵ A míp nhiều nhất ở 20-30 tuổi, ít măc ở trẻ dưới 5 tuổi.

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Bệnh lỵ a míp là một bệnh đa dạng. Phần lớn người nhiễm amíp có ít hoặc không có triệu chứng. Khi có triệu chứng biểu hiện ở nhiều thể:

Cấp tính

Triệu chứng thường gặp là hội chứng lỵ: đau bụng, mót rặn, đi ngoài phân nhầy máu.

Đau bụng ở vùng manh tràng, dọc theo khung đại tràng và nhất vùng hố chậu trái do tổn thương đại tràng sigma.

Mót rặn: cảm giác buồn đi đại tiện một cách bức thiết, đau rát hậu môn.

Đi ngoài phân nhầy máu, đôi khi xen kẽ với đi ngoài phân lỏng, số lượng không nhiều nhưng đi nhiều lần.

Thể nhẹ: toàn trạng tốt, đi ngoài phân nhầy máu mũi, phân có ít dưỡng bào.

Thể trung bình: mệt nhọc, đi ngoài phân nhầy máu mũi 5-15 lần, phân có nhiều dưỡng bào, niêm mạc có nhiều vết loét điển hình.

Thể nặng: toàn trạng suy nhược, mất nước, rối loạn điện giải, có thể trụy tim mạch, bụng chướng, mót rặn, đi ngoài phân nhầy máu 15 lần/ngày. Niêm mạc trực tràng tổn thương nặng, nhiều vết loét xuất huyết.

Bán cấp

ít khi mót rặn, đau bụng ít, đi ngoài phân lỏng, ít nhầy, đôi khi có táo bón, có thể diễn biến thành thể cấp.

Mạn tính

Sau một giai đoạn cấp tính hay bán cấp, bệnh trở thành mạn tính với nhiều đợt bệnh cách nhau. Triệu chứng lâm sàng như viêm đại tràng mạn:

Đau bụng liên tục hay từng cơn, có thể không khu trú hay tập trung ở khung đại tràng, manh tràng.

Rối loạn tiêu hóa: thường là tiêu chảy, đầy hơi, ăn không tiêu đối với một số thức ăn như sữa, chất bột. Bệnh nhân suy nhược, biếng ăn, sụt cân.

U amíp

Thường thấy ở manh tràng, đại tràng ngang, trực tràng, đại tràng sigma, có thể gây lồng ruột. Chẩn đoán khó, dễ nhầm với các khối u thực sự của đại tràng.

BIẾN CHỨNG

Thủng ruột

Thủng ruột dẫn đến viêm phúc mạc là biến chứng gây tử vong thường gặp nhất. Ở thể trung bình, thể nặng các niêm mạc và lớp dưới niêm mạc đại tràng bị phá hủy nặng nề gây thủng ruột: biểu hiện lâm sàng đau bụng dữ dội, sốt cao, co cứng thành bụng, cần xử trí ngoại khoa cấp.

Xuất huyết tiêu hóa

Do tổn thương mạch máu, đôi khi trầm trọng cần truyền máu cấp và dùng thuốc diệt amíp

Lồng ruột

Thường gặp nhất ở vùng manh tràng. Viêm loét đại tràng sau lỵ: không tìm thấy amíp trong ruột, nhưng phản ứng huyết thanh (+) với hiệu giá cao.

Viêm ruột thừa do amíp

Các biến chứng hiếm: nhiễm khuẩn tiền liệt tuyến, nhiễm khuẩn âm đạo, áp xe não, áp xe lách.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc diệt amíp

Thuốc diệt a míp khuếch tán.

Thuốc diệt amíp trực tiếp trong lòng đại tràng.

Điều trị triệu chứng

Điều trị nhiễm khuẩn tại ruột: điều trị bào nang trong phân, dưỡng bào trong phân.

Điều trị nhiễm khuẩn ngoài ruột.

XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG

Xét nghiệm phân tìm a míp: soi, cấy phân.

Nội soi: soi trực tràng và đại tràng sigma.

X-quang ruột già.

Huyết thanh chẩn đoán.

QUY TRÌNH CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH LỴ AMÍP

1. Nhận định

Hỏi

Tiền sử đau bụng, vị trí đau: quanh rốn hay vùng đại tràng? đau ở bên phải hay bên trái khung đại tràng? Đau quặn bụng hay âm ỉ, liên tục từng con, hay dữ dội?

Đi ngoài phân lỏng có nhầy máu mũi? số lần đi ngoài, số lượng phân?

Có biểu hiện mót rặn?

Có biểu hiện sốt, nhiệt độ cao nhất?

Có mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn hay nôn?

Bụng có đầy hoi không?

Có đau rát vùng hậu môn?

Có bị sụt cân so với 1 tháng gần đây?

Thăm khám thể chất

Dấu hiệu sinh tồn:

Nhiệt độ: có thể không sốt hoặc sốt cao trong trường hợp biến chứng thủng ruột, nhiệt độ > 39° c.

Mạch: bình thường theo tuổi, có thể nhanh nhỏ và không đo được trong trường hợp mất nước trụy tim mạch đối với thể nặng.

Huyết áp: bình thường theo tuổi, có thể tụt huyết áp hoặc không đo được trong trường họp trụy tim mạch.

Nhịp thở bình thường theo tuổi, có thể thở nhanh, khó thở.

Da, niêm mạc

Đánh giá tình trạng mất nước: mức độ mất nước.

Da khô nhăn, môi khô.

Vẻ mặt mệt mỏi, bơ phờ, nhăn nhó do đau bụng.

Dấu hiệu nhiễm khuẩn: môi khô lưỡi bẩn.

Hô hấp

Khó thở: thở nhanh, thở nông trong tình trạng mắc lỵ amíp thể nặng, mất nước, rối loạn điện giải dẫn đến trụy tim mạch.

Tuần hoàn: trong trường hợp mất nước sẽ có biểu hiện

Mạch nhanh nhỏ.

Da nổi vân tím, vã mồ hôi, chi lạnh.

Giai đoạn chưa có dấu hiệu mất nước huyết áp có thể ổn định.

Giai đoạn muộn mạch, huyết áp không đo được.

Tình trạng toàn thân

Khám bụng xem có phản ứng thành bụng hay không: vị trí đau, tình trạng chướng bụng.

Đại tiện: tính chất phân.

Nước tiểu.

2. Xác định vấn đề ưu tiên chăm sóc người bệnh lỵ amíp

Chăm sóc người bệnh lỵ amip cấp, bán cấp, thể nhẹ:

Giảm đau bụng, giảm co thắt đại tràng giúp người bệnh dễ chịu

  • Chăm sóc

Thực hiện thuốc giảm đau bụng, giảm co thắt cho người bệnh theo y lệnh (thuốc uống hay thuốc tiêm).

Đo dấu hiệu sinh tồn.

Hướng dẫn người bệnh chườm vùng khung đại tràng.

Cho người bệnh ăn thức ăn mềm dễ tiêu như cháo thịt nạc, com mềm, hạn chế ăn chất tanh. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Hướng dẫn người bệnh uống nhiều nước.

Hướng dẫn người bệnh vệ sinh tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.

Yệ sinh cá nhân, vệ sinh sạch sẽ hậu môn sau mỗi lần đi ngoài.

Lấy bệnh phẩm xét nghiệm đúng quy trình.

Xử lý chất thải (phân, dịch nôn) theo quy định trước khi đổ vào bồn cầu.

  • Theo dõi

Theo dõi tình trạng đau bụng của người bệnh: đau bụng thường đau ở vùng manh tràng (hố chậu phải, rất dễ nhầm với viêm ruột thừa), dọc theo khung đại tràng (dễ nhầm với loét dạ dày) và nhất hố chậu phải do tổn thương đại tràng sigma.

Theo dõi tình trạng mót rặn: đau rát vùng hậu môn, kèm cảm giác đòi hỏi đi đại tiện.

Theo dõi phân: phân nhầy máu, đôi khi kèm phân lỏng, số lượng không nhiều, nhưng đi đại tiện nhiều lần. Thể bán cấp có thể đi ngoài phân táo.

Theo dõi mạch, nhiệt độ huyết áp.

Theo dõi tình trạng xuất huyết niêm mạc trực tràng do tổn thương.

Chăm sóc người bệnh lỵ amip mạn tính, thể nặng

Bù nước và điện giải trong trường hợp nặng, suy kiệt

  • Chăm sóc

Bù đủ nước và điện giải cho người bệnh bằng đường uống hoặc truyền tĩnh mạch.

Đặt ngay đường truyền tĩnh mạch ngoại vi, thực hiện truyền dịch theo chỉ định.

Đo mạch, nhiệt độ huyết áp theo giờ tùy từng tình trạng mỗi người bệnh.

Đảm bảo thông khí cho người bệnh: cho người bệnh thở ô xy nếu có khó thở theo y lệnh, nằm đầu cao dề chịu.

Thực hiện y lệnh thuốc giảm đau, thuốc điều trị theo y lệnh đầy đủ, kịp thời và chính xác.

Hạ sốt khi sốt cao trong trường hợp biến chứng như nhiễm khuẩn, thủng ruột,… bằng cách chườm mát, lau người nước ấm, uống thuốc hạ sốt theo y lệnh.

Lấy bệnh phẩm xét nghiệm máu, cấy máu, phân đúng quy trình.

  • Theo dõi

Nhịp thở, kiểu thở, tím tái.

Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp 3 – 6 giờ/lần, tùy tình trạng mỗi người bệnh.

Theo dõi dấu hiệu mất nước và điện giải.

Theo dõi con đau bụng: đau âm ỉ hay đau dữ dội (trong trường hợp biến chứng thủng ruột, viêm phúc mạc), theo dõi chướng bụng.

Theo dõi đau vùng gan.

Theo dõi tình trạng mót rặn.

Theo dõi phân: nhầy máu mũi, số lần đi ngoài, số lượng phân.

Dinh dưỡng, vệ sinh và theo dõi các biến chứng

  • Chăm sóc

Cho người bệnh ăn thức ăn mềm dễ tiêu, đối với trường họp táo bón ăn ít chất xơ, tinh bột. Hạn chế uống sữa, chất bột đối với trường hợp khó tiêu, chướng bụng, kiêng mỡ, chất tanh.

Sắp xếp người bệnh nằm buồng bệnh thuận lợi cho việc đi vệ sinh.

Đối với người bệnh nặng cần cho nằm giường có lỗ để giúp đại tiếu tiện dễ dàng hoặc đóng bỉm.

Vệ sinh răng miệng, thân thể, hậu môn, sinh dục bằng nước ấm, thay quần áo hàng ngày, người bệnh nặng cần có sự hồ trợ trong chăm sóc.

Người bệnh bị biến chứng sa trực tràng cần ngâm rửa nước ấm và các dung dịch sát khuẩn sau mỗi lần đi ngoài.

Xử lý chất thải bằng dung dịch khử khuẩn chloramin B theo quy định để khoảng 10-15 phút trước khi đổ vào bồn cầu.

Báo ngay bác sỳ khi có diến biến bất thường.

  • Theo dõi

Các dấu hiệu như đau bụng dữ dội (thủng ruột), đau vùng gan (áp xe gan), xuất huyết niêm mạc trực tràng, chướng bụng,…

Xuất huyết tiêu hóa do tổn thưong mạch máu: nôn ra máu, đi ngoài ra máu với số lượng nhiều.

Lồng ruột, viêm ruột thừa cấp do amip,…

Hướng dẫn, tư vấn cho người bệnh và người nhà người bệnh

Hướng dẫn cách theo dõi và phát hiện các dấu hiệu bất thường liên quan đến biến chứng như thủng ruột, xuất huyết, trụy mạch, khó thở,… báo ngay NVYT để xử lý kịp thời.

Vệ sinh an toàn thực phẩm: ăn chín uống sôi, thức ăn phải được đậy kín tránh ruồi nhặng.

Sử dụng nước sạch: nên sử dụng nguồn nước đã được lọc và chín.

Vệ sinh tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, sau khi chăm sóc người bệnh và sờ vào các vật dụng của người bệnh.

Xử lý các chất thải như phân, rác, chất nôn,… của người bệnh đúng quy định.

 

Cây Gấc

Tên khoa học:

Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng, họ Bầu bí (Cucurbitaceae).

Tên khác: Mộc miết (木鳖), Muricic (Pháp), Cochinchina Momordica (Anh).

Mô tả:

Cây gấc là một loại dây leo, mỗi năm lụi một lần, nhưng lại đâm chồi từ gốc cũ lên vào mùa xuân năm sau. Lá mọc so le, chia thùy khía sâu tới ½ phiến lá. Hoa đực, hoa cái riêng biệt, cánh hoa màu vàng nhạt. Mùa hoa tháng 4-5. Quả hình bầu dục dài độ 15-20cm, đáy nhọn, ngoài có nhiều gai, khi chín màu vàng đỏ đẹp tươi. Mùa quả tháng 6 đến tháng 2 năm sau. Gấc nếp thì thưa gai hơn gấc tẻ.

Trong quả có nhiều hạt xếp thành những hàng dọc, quanh hạt có màng màu đỏ máu, tươi. Bóc lớp màng đỏ sẽ thấy hạt hình gần giống con ba ba nhỏ, ngoài có lớp vỏ cứng, mép có răng cưa. Trong hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu.

Cây gấc mọc leo, gốc sống nhiều năm
Cây gấc mọc leo, gốc sống nhiều năm

Phân bố:

Gấc mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta.

Thu hái:

Trồng bằng hạt hay giâm cành vào các tháng 2 – 3, trồng một năm có thể thu hoạch hàng chục năm. Ngay năm đầu đã có quả nhưng ít, càng về sau càng nhiều quả.

Bộ phận dùng:

Màng hạt, nhân hạt (Mộc miết tử – Semen Momordicae), rễ.

+ Hạt gấc: Còn gọi là Mộc miết tử là hạt lấy ở quả gấc chín (Semen Momordicae) đã bốc vỏ màng và chế biến khô.

+ Dầu gấc: (Oleum Momordicae) là dầu ép từ màng đỏ bọc hạt gấc.

+ Rễ gấc: Còn gọi là Phòng kỷ nam là rễ cây gấc (Radix Momordiae) phơi khô.

Thành phần hoá học:

Nhân hạt Gấc có khoảng 6% nước, 8,9% chất vô cơ 55,3% acid béo 16,5% protein, 2,9% đường. 1,8% tanin, 2,8% cellulose và một số enzym. Hạt gấc chứa acid momordic, gypsogenin, acid oleanolic, acid a- elacostearic, còn có acid amin, alcol. Dầu gấc chứa acid oleic 44,4%, acid linoleic 14,7%, acid stearic 7,89%, acid palmatic 33,8%. Màng hạt Gấc chứa một chất dầu màu đỏ mà thành phần chủ yếu là b-caroten và lycopen là những tiền sinh tố A khi vào cơ thể sẽ biến thành vitamin A, lượng b-caroten của Gấc cao gấp đôi của Cà rốt. Thân củ chứa chondrillasterol, cucurbitadienol, 1 glycoprotein và 2 glycosid có tác dụng hạ huyết áp. Rễ chứa momordin một saponin triterpenoid; các chiết xuất cồn có sterol, bessisterol tương đương với spinasterol.

Công dụng, cách dùng:

+ Màng gấc: Nhân dân ta dùng đồ xôi, ăn cả xôi và màng gấc.

+ Dầu gấc: Dầu gấc có tác dụng như những thuốc có vitamin A, dùng bôi lên các vết thương, vết loét, vết bỏng làm cho chóng lành, lên da. Uống dầu gấc, người bệnh chóng lên cân, tăng sức chống đỡ bệnh tật của cơ thể, do chất caroten dưới tác dụng của men carotenase có nhiều trong gan sẽ tách caroten thành hai phần tử vitamin A. Dùng cho trẻ em chậm lớn trong bệnh khô mắt, quáng gà. Liều dùng dầu gấc: Mỗi ngày 2 lần, uống trước 2 bữa ăn chính mỗi lần ăn chính mỗi lần 5 giọt, có thể tăng lên 25 giọt. Trẻ em 5-10 giọt 1 ngày. Dùng ngoài dưới dạng thuốc mỡ 5-10p100 dầu gấc hay bơi bằng dầu nguyên chất (chữa bỏng).

+ Hạt gấc: Theo Đông y, hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, có độc, dùng chữa các chứng bệnh ung thũng, mụn nhọt độc, tràng nhạt, eczema, viêm da thần kinh, trĩ, phụ nữ sưng vú. Có thể chế thuốc viên hay tán bột uống. Liều uống từ 0,8-1,2g.

Nhưng thường dùng đắp ngoài da đồ mụn nhọt. Nhân dân ta còn dùng để đắp chữa chai bàn chân.

+ Rễ gấc: Sao vàng, tán mỏng, dùng uống chữa tê thấp sưng chân gọi là Phòng kỷ nam.

+ Lá gấc: Viện Đông y dùng lá gấc với tầm gửi đắp ngoài ra làm thuốc tiêu sưng tấy.

Thuốc ứng dụng từ quả gấc và hạt gấc

Bài 1. Thuốc chữa bệnh sưng vú

+ Hạt gấc                             15g

+ Rượu trắng                       15ml

Hạt gấc bỏ vỏ cứng giã nhỏ, cho vào rượu trộn đều, đắp vào chỗ đau. Ngày thay thuốc một lần. cần dùng liền từ 3-5 ngày.

Bài 2. Thuốc chữa bệnh quai bị

+ Hạt gấc                             2 hạt

+ Nhựa cây đại                     20g

Hạt gấc bỏ vỏ cứng, giã nhỏ cho vào nhựa cây hoa đại trộn đều, đắp lên chỗ đau. cần đắp liền 3-5 ngày.

Bài 3: Thuốc chữa bệnh sốt rét

+ Nhân hạt gấc 100g

+ Vẩy tê tê 100g

Vẩy tê tê nướng phồng cùng hạt gấc tán bột mịn. Người bệnh ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g trước bữa ăn với nước có pha 20% rượu trắng.

Bài 4. Thuốc giúp sáng mắt

+ Quả gấc 1.000g

+ Gạo nếp 500g

+ Đường cát vàng 300g

Quả gấc rửa sạch, đem đồ chín, bỏ vỏ, bỏ hạt, phần còn lại xay nhỏ; cho đường cát vàng vào quấy đều, đun nhỏ lửa, đảo đều tay để chất lỏng của gấc chuyển dần đến cao đặc. Gạo nếp rang vàng tán nhỏ mịn, khi cao gấc đã đặc, cho bột gạo nếp vào luyện viên bằng đầu ngón tay cái, phơi khô đem dùng. Người bệnh ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 viên thuốc với nước sôi để nguội, sau khi ăn. Trẻ dưới 1 tuổi uống bằng 1/3 người lớn.

Dầu gấc làm thuốc giúp sáng mắt
Dầu gấc làm thuốc giúp sáng mắt

Bài 5. Thuốc chữa mụn nhọt

+ Hạt gấc                              30g

+ Vỏ cây đại tươi                  30g

Hạt gấc bỏ vỏ đen, cùng vỏ đại giã nhỏ trải vải mỏng buộc vào chỗ đau, ngày thay thuốc một lần. cần làm liền 5 ngày.

Bài 6. Thuốc chữa bệnh trĩ ngoại

+ Hạt gấc                              50g

+ Lá vông nem                      50g

Hạt gấc bỏ vỏ đen, lá vông nem rửa sạch thái nhỏ. Cả hai thứ giã nhỏ, cho vào vải mỏng gói lại đặt vào hậu môn, ngày thay thuốc một lần. cần làm liền 9 ngày.

Chú ý:

Nhân hạt gấc còn gọi là Phiên mộc miết, theo Đông y có tính rất lạnh, ăn phải thì cấm khẩu nguy hiểm.

Xem tiếp:

Tác dụng chữa bệnh tuyệt diệu của Quả Gấc và hạt gấc

Chứng đau cơ và cách chữa

Theo thống kê, 90% người bị đau cứng cơ – một bệnh rối loạn bí hiểm và có khả năng gây suy nhược. Bệnh thường gặp ở phụ nữ từ 20-55 tuổi. Những người bị đau cơ thường thấy toàn thân nhức mỏi, không xác định được điểm đau và kèm theo là sự mệt mỏi quá mức.

Nhận dạng chứng đau cơ

Thông thường, những phụ nữ bị bệnh đau cơ sẽ gặp một số vấn đề về sức khoẻ, chẳng hạn như hội chứng mẫn cảm đường ruột, đau hoặc yếu hàm, mất ngủ, mệt lả, hội chứng tiền kinh nguyệt, cảm thấy sốt hoặc ớn lạnh mà nhiệt độ cơ thể không tăng và thậm chí đau ngực. Vì đau cơ giống với rất nhiều chứng rối loạn khác nên việc chẩn đoán chính xác bệnh là rất khó.

Nhận dạng chứng đau cơ
Nhận dạng chứng đau cơ

Gần đây, Hội Thấp khớp Hoa Kỳ đưa ra một phương pháp có thể phân biệt giữa trường hợp đau cơ thực sự và đau cơ do các bệnh khác. Theo đó, ở trường hợp bị đau cơ thực sự, bệnh nhân phải đau khắp trên ít nhất 11 trong 18 điểm mềm tiêu chuẩn. Những điểm này nằm ở hông, mắt cá chân, đầu gối, ngực trên, hàm, cổ, lưng trên và lưng dưới, khuỷu và cổ tay.

Mặc dù đã xác định được các điểm đau và bệnh nhân thấy đau ghê gớm, nhưng điều kỳ lạ là các thử nghiệm y tế không phát hiện được nguyên nhân thực thể gây đau. Vậy là các thầy thuốc lại phải tiến hành thêm một loạt xét nghiệm khác để loại trừ các bệnh cũng gây đau như viêm khớp, các bệnh liên quan đến mô hoặc thậm chí tuyến giáp bị thiểu năng (có thể gây mệt lả…) sau đó mới xét đến chẩn đoán đau cơ.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng đau cơ là do một bệnh nhiễm trùng do virus chưa được phát hiện gây ra. Tuy vậy, qua kiểm nghiệm thực tế, một số nghiên cứu khám phá ra rằng ở những người bị bệnh đau cơ, hệ thống miễn dịch của họ có những thành phần nhất định hoạt động bất thường và có những dấu hiệu về sự thay đổi của chức năng miễn dịch, chứng tỏ hệ thống miễn dịch đang tiến hành một cuộc chiến đấu ở mức độ thấp chống lại một tác nhân gây viêm nhiễm. Vì vậy, củng cố hệ thống miễn dịch là một nhân tố làm giảm các triệu chứng.

Theo các nhà nghiên cứu, đau cơ cũng có thể là kết quả của sự rối loạn giấc ngủ. Nghiên cứu bằng cách chụp não cho thấy những bệnh nhân ngủ không ngon giấc tỏ ra có nhiều triệu chứng của bệnh đau cơ. Nghiên cứu cũng cho thấy, phụ nữ bị bệnh đau cơ có các hoá chất trọng yếu giúp hồi phục cơ bắp ở mức thấp hơn bình thường. Vì bệnh nhân trầm cảm cũng có vấn đề miễn dịch tương tự những người bị đau cơ, nên rất có thể có mối quan hệ giữa trầm cảm, hệ thống miễn dịch và sự rối loạn khó hiểu này. Thật không may, cho đến nay vẫn chưa có một cách chữa hiệu quả nào cho bệnh này, vì thế giải pháp đối với hầu hết các bệnh nhân thường là tìm cách chế ngự các triệu chứng của bệnh.

Những người bị bệnh đau cơ phải đặc biệt chú ý kiểm soát stress
Những người bị bệnh đau cơ phải đặc biệt chú ý kiểm soát stress

Việc cần làm khi bị đau cơ

Tập thể dục tuyệt đối quan trọng đối với những người bị các triệu chứng của bệnh đau cơ. Tập thể dục sẽ giúp tăng cường khả năng của hệ tim mạch và cải thiện sự rắn chắc của cơ bắp. Bạn nên tập những môn thể dục ít va chạm như bơi, đi xe đạp, vươn người, đi bộ và thể dục nhịp điệu. Có thể bạn sẽ đau hơn trong vài tuần đầu khi tập, nhưng khi cơ bắp đã quen, cái đau sẽ dịu.

Những người bị bệnh đau cơ phải đặc biệt chú ý kiểm soát stress, vì các cơn đau sẽ dày hơn, mức độ tăng hơn khi bị khủng hoảng tinh thần. Bệnh thường khởi phát trong thời kỳ bị stress lớn như ly hôn, thay đổi việc làm, di chuyển nhà hoặc mất người thân trong gia đình. Kiểm soát stress đóng vai trò then chốt trong việc phục hồi sức khoẻ đối với bệnh nhân đau cơ. Ngoài ra, Yoga, bấm huyệt và các liệu pháp giảm stress khác có thể có ích, vì giúp bạn thư giãn tinh thần và cơ bắp.

Hãy đi khám bệnh tổng quát để xem có bị bệnh nào khác nữa không.

Nên dùng một số thuốc chống viêm giảm đau theo đúng hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Ngoài ra, bạn có thể dùng các loại bôi chiết xuất từ dược thảo như dầu hoa anh thảo chẳng hạn. Loại thảo dược này thường được dùng để chữa bệnh viêm đa khớp dạng thấp hoặc viêm tấy mô mềm của khớp. Nó có thể làm dịu một sô chỗ đau của khớp đi kèm với chứng đau cơ.

Thủng thực quản – Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Thủng thực quản là tập hợp các tổn thương tất cả các lớp của thành thực quản làm thông lòng thực quản với bên ngoài do các nguyên nhân khác nhau như vết thương, chấn thương và thủng thực quản tự phát hoặc do thầy thuốc gây ra. Dù do nguyên nhân nào thì thủng thực quản cũng có những điểm chung là bệnh cảnh lâm sàng giống nhau, đều có nguy cơ viêm trung thất, nguyên tắc và các phương pháp điều trị giống nhau.

Thủng thực quản là một tổn thương ít gặp trong ngoại khoa nhưng lại là tổn thương thủng có tiên lượng nặng nhất trong các loại tổn thương thủng của ông tiêu hoá vì chẩn đoán thường muộn, điều trị còn khó khăn và tỷ lệ tử vong rất cao (20-30%) mặc dù hồi sức và điều trị phẫu thuật đã có rất nhiều tiến bộ.

NGUYÊN NHÂN

Có rất nhiều nguyên nhân gây thủng thực quản với các cơ chế gây thủng khác nhau như do vết thương, chấn thương từ ngoài vào (vết thương do bạch khí, hoả khí, tai biến phẫu thuật), hoặc từ trong ra (nội soi, dị vật), hoặc là vỡ thực quản tự phát do tăng áp lực đột ngột trong lòng làm xé rách thực quản hoặc là do các bệnh lý thực quản (ung thư thực quản).

Thủng thực quản do tai biến của phẫu thuật, thủ thuật

  • Tai biến của nội soi

Thủng thực quản do nội soi là nguyên nhân thường gặp nhất, chiếm trên 50% trong tất cả các nguyên nhân gây thủng thực quản. Tỷ lệ thủng thực quản trong nội soi chẩn đoán ước tính khoảng 0,13-0,4%. Trong nội soi chẩn đoán, thủng thực quản có thể gặp khi có thoát vị hoành, dùng ống soi cứng, đặt ông soi mò mẫm, không kiểm soát bằng mắt. Trong nội soi điều trị, nong thực quản điều trị các nguyên nhân hẹp ở thực quản (sẹo hẹp thực quản sau bỏng, điều trị co thắt tâm vị…) là nguyên nhân gây thủng thực quản hay gặp nhất, sau đó là các tai biến trong các điều trị tạm thời hẹp thực quản do ung thư (đặt nong thực quản, laser), tiêm xơ cầm máu.

  • Tai biến phẫu thuật

Các phẫu thuật ở vùng cổ, ngực và bụng trên đều có thể gây ra vết thương thực quản do cắt phải thực quản, do các tổn thương của tạng lân cận xâm lấn vào thành thực quản hoặc do các dụng cụ phẫu thuật đặt tại chỗ tỳ đè vào thực quản lâu ngày gây thủng. Các phẫu thuật ở vùng cổ có thể làm thủng thực quản là cắt tuyên giáp do ung thư, hoặc tuyến giáp quá to, các nẹp, vít cột sống cổ tỳ đè vào thực quản, mở khí quản không đúng kỹ thuật. Các phẫu thuật ở lồng ngực như cắt phổi, soi trung thất có thể gây tổn thương thực quản ngực. Ở bụng, các phau thuật có thể gây thủng thực quản là mở cơ thực quản ngoài niêm mạc (phâu thuạt Heller), cắt thân thần kinh X, các phẫu thuật điều trị thoát vị hoành.

  • Các nguyên nhân khác

Tai biến của đặt bóng Blakemore, bóng Linton để cầm máu trong chảy máu do tăng áp lực tĩnh mạch cửa vì thành thực quản rất dễ tổn thương do thiêu máu, tỳ ép kéo dài của bóng. Thủng thực quản do ong nội khí quản và thở máy kéo dài rất ít gặp.

Vết thương và chấn thương thực quản

Vết thương thực quản do bạch khí và hoả khí ít gặp ở cổ, vết thương thực quản thường phối hợp với các vết thương mạch máu lớn vùng cổ hoặc khí phế quản với biểu hiện lâm sàng là chảy máu lớn hoặc tràn khí lớn dưới da cổ hoặc trung thất.

Vỡ thực quản do chấn thương bụng hoặc chấn thương ngực kín rất hiếm gặp và chủ yếu thấy ở những bệnh nhân đa chấn thương. Sự tăng áp lực đột ngột trong lòng thực quản thường gây vỡ thực quản ngực. Ở đoạn thực quản 1/3 trên, đường vỡ ở mặt trước và thường kèm theo vỡ phần màng khí quản. Một số trường hợp vỡ thực quản do hút vào ống hơi có áp lực cao, đường vỡ thực quản thường rất lớn.

Vỡ thực quản tự phát

Vỡ thực quản tự phát là vỡ thực quản sau nôn mạnh và nhiều, bao gồm hội chứng Boerhaave, hội chứng Mallory – Weiss và máu tụ tự phát thành thực quản. Hội chứng Boerhaave được định nghĩa là tổn thương vỡ hoàn toàn các lớp của thực quản ngực không do chấn thương. Cơ chế vỡ thực quản là do nôn mạnh gây tăng áp lực đột ngột trong lòng thực quản trong khi cơ nhẫn hầu đóng kín. Trong các trường hợp vỡ thực quản tự phát, thường thấy có các tổn thương thực quản, thần kinh phối hợp như viêm thực quản, tăng trương lực cơ thắt dưới của thực quản, túi thừa thực quản ngực… Hội chứng Mallory – Weiss có cơ chế chấn thương tương tự như hội chứng Boerhaave, nhưng tổn thương là rách dọc niêm mạc tâm vị, lớp cơ không bị tổn thương.

Thủng thực quản do dị vật

Nguyên nhân thường gặp nhất là do nuốt phải xương. Vị trí thủng thường ở những nơi hẹp của thực quản, đặc biệt là ở thực quản ngực. Chiều dài xương và hình dáng của mảnh xương là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây mắc lại ở thưc quản và gây thủng. Thủng thực quản có thể dc mảnh xương bị mắc lại và choc thủng thành thực quản, cũng có thể do thủ thuật lấy xương qua nội soi gây thủng. Cần hết sức chú ý tìm dấu hiệu thủng thực quản trước, trong và sau soi thực quản lấy xương mắc.

Một số nguyên nhân khác

  • Thủng các khối u của thực quản hoặc các khối u của trung thất, u phổi vỡ vào thực quản.
  • Các tổn thương viêm lao, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.
  • Uống phải các chất ăn mòn (acid, kiềm mạnh).

SINH BỆNH HỌC

Trừ các cơ chế thủng thực quản do tai biến của phẫu thuật, nội soi, cơ chế của vỡ thực quản tự phát là do tăng áp lực đột ngột trong lòng thực quản do nôn hoặc nấc mạnh khi cơ thắt trên của thực quản đóng kín. Vỡ hoặc thủng thực quản làm lòng thực quản thông với các khoang tế bào ở phía trên là khoang sau hầu, sau thực quản cổ và phía dưới là khoang tế bào của trung thất sau. Hơi nuốt vào, thậm chí là do bơm hơi khi soi thực quản làm tách các khoang tế bào lỏng lẻo, gây ra hiện tượng tràn khí dưới da cổ và tràn khí trung thất. Nước bọt, thức ăn chảy vào các khoang tế bào nhanh chóng dẫn tới tình trạng viêm trung thất nhiễm khuẩn nặng. Viêm trung thất nhiễm khuẩn thường xuất hiện sau thủng 12 giờ. Dịch acid của dạ dày tràn vào trung thất trong các trường hợp vỡ thực quản thấp, trào ngược dịch dạ dày lên thực quản vào trung thất có thể làm nặng thêm tình trạng nhiễm khuẩn trung thất. Viêm trung thất còn gây ra phản ứng tăng tiết của khí phế quản, nhiễm trùng phổi. Ngược lại, nhiễm trùng ở phổi bị nặng thêm do vỡ thực quản thông với màng phổi hoặc thứ phát do các ổ áp xe trung thất vỡ vào màng phổi gây lên.

Diễn biến tự nhiên của quá trình viêm trung thất là rất nặng do nhiễm trùng, nhiễm độc và do các biến chứng hô hấp nặng. Nguy cơ này có thể nhẹ hơn trong các trường hợp trung thất đã xơ hoá như trong các trường hợp viêm thực quản trào ngược hoặc sau các viêm chít hẹp thực quản sau bỏng thực quản.

GIẢI PHẪU BỆNH

  • Thủng thực quản do thủ thuật nội soi: tổn thương thủng thực quản thường là các lỗ thủng nhỏ, bò sắc gọn, nhỏ, dài, chéo từ trên xuống, lỗ trong và lỗ ngoài lệch nhau hoặc là tổn thương xé rách thành thực quản tương ứng với chỗ thành thực quản bệnh lý.
  • Vỡ thực quản do chấn thương: thường gặp ở 1/3 trên của thực quản ngực do các chấn thương mạnh vào lồng ngực. Tổn thương ở thực quản thường kèm theo tổn thương màng sau của khí phế quản và các tạng trong lồng ngực.
  • Vết thương thực quản: ít gặp và ít khi là tổn thương thực quản đơn độc. ở cổ, vết thương thực quản thường kèm theo tổn thương các mạch máu lớn ở cổ và khí quản nên triệu chứng lâm sàng thường bị che lấp bởi hội chứng chảy máu hoặc khó thở.
  • Thủng thực quản tự phát: tổn thương là những đường vỡ dọc, thường năm ở bờ trái của thành thực quản ngực trên cơ hoành. Kích thước của đường vỡ tư 3-4cm, đôi khi tới Đường vỡ thường làm rách tất cả các lớp của thành thực quản, đôi khi là đường vỡ không hoàn toàn, không tổn thương hêt các lớp cua thanh thực quản, sau đó do các nhiễm trùng tại chỗ gây hoại tủ hoàn toàn thành thực quản. Một điểm cần lưu ý là tổn thương lớp niêm mạc bao giờ cũng rộng hơn lơp cơ nên cần phải mở rộng lớp cơ trước khi khâu vết thương để tránh bỏ sót đương vơ dưới niêm mạc. Ngoài ra, có thể gặp các tổn thương phối hợp đã có từ trước như viêm thực quản, túi thừa thực quản, co thắt tâm vị…
  • Thủng thực quản do dị vật: thường gặp nhất là do nuốt phải xương. Chiều dài xương và hình dáng sắc nhọn, góc cạnh của mảnh xương là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây mắc lại và gây thủng. Thủng thực quản có thể do mảnh xương chọc thủng thành thực quản, cũng có thể do thủ thuật lấy xương qua nội soi gây thủng. Do vậy, tổn thương thủng có thể nhỏ nhưng có khi rất phức tạp.
  • Vị trí của lỗ thủng: vị trí của lỗ thủng có thể ở mọi vị trí của thực quản. Tuy nhiên, trong thủng thực quản tự phát, vị trí lỗ thủng thường gặp nhất là thực quản 1/3 dưới, bò trái của thực quản, trong khi vết thương thực quản và dị vật thực quản lại hay gặp ở đoạn thực quản cổ. Vị trí thủng thực quản hay gặp nhất trong các thủ thuật nội soi là thực quản ngực và thực quản cổ, ngay dưới miệng thực quản. Thủng thực quản do chấn thương thường gặp ở thực quản ngực 1/3 trên.

TRIỆU CHỨNG VÀ CHẨN ĐOÁN

ChẨn đoán thủng thực quản thường khó và muộn vì các triệu chứng đặc trưng thường ít gặp hoặc xuất hiện muộn. Trong chấn thương và vết thương thực quản, các triệu chứng thường bị che lấp bởi bệnh cảnh của đa chấn thương hoặc hội chứng chảy máu, khó thở do tổn thương các mạch máu lớn hoặc tổn thương khí phế quản.

  • Thủng thực quản thường được phát hiện và chẩn đoán trong các hoàn cảnh sau:
  • Trong khi làm nội soi với gây tê tại chỗ, bệnh nhân thấy đau đột ngột dữ dội, đặc biệt là xuất hiện sau một cử động bất thường hoặc sau khi bệnh nhân nấc mạnh. Khi nội soi với gây mê toàn thân, không thấy được dấu hiệu đau nhưng khi rút ống nội soi từ từ và kiểm soát bằng mắt có thể phát hiện được tổn thương thực quản.
  • Khi nuốt phải dị vật, bệnh nhân thấy đau đột ngột, khu trú, liên tục ở một vùng.
  • Vỡ thực quản tự phát được nghĩ đến khi bệnh nhân có đau ngực, khó thở đột ngột, tràn khí dưới da cổ sau nôn hoặc nấc mạnh.
  • Các trường hợp chấn thương hoặc vết thương thực quản thường phát hiện muộn hoặc phát hiện khi mổ để xử lý các tổn thương phối hợp ở cổ va trong lồng ngực.

Triệu chứng lâm sàng

Đau: đau là triệu chứng chính, đau dữ dội và liên tục. Đau sau xương ức hoặc trên rốn trong các trường hợp thủng thực quản tự phát, đau cao ở vùng cổ đối với thủng thực quản cổ. Đau tăng khi nuốt nên bệnh nhân không dám nuốt và thường phải nhổ nước bọt.

  • Khó thở: rất thường gặp nhất là trong các thủng thực quản ngực vào màng phổi. Khó thỏ kèm theo đau, có thể kèm theo thay đổi giọng nói.
  • Tình trạng sốc có thể xuất hiện rất sớm với các dấu hiệu mạch nhanh, nhỏ và huyết áp tụt.
  • Nôn máu là dấu hiệu có giá trị nhưng rất ít gặp.
  • Tràn khí dưới da vùng cổ xuất hiện sớm: cổ phồng to lên, sờ thấy mềm và có dấu hiệu lép bép của khí dưới da.
  • Trong trường hợp thủng thực quản cổ, bệnh nhân cảm thấy rất đau khi người thầy thuốc cầm vào sụn giáp và lắc nhẹ sang hai bên. Trong các tổn thương thực quản bụng, có dấu hiệu co cứng hoặc phản ứng thành bụng trên rốn.
  • Trong trường hợp thủng thực quản 1/3 trên kèm theo có rách màng sau của khí quản, bệnh nhân có dấu hiệu ho, sặc khi nuốt do đường vỡ làm thông thực quản với khí quản.

Khi thấy có sự phối hợp của 3 triệu chứng (đau khi nuốt, khó thở và tràn khí dưới da cổ), cần nghĩ tới tổn thương thủng thực quản và phải ngừng cho ăn qua miệng, làm các thăm khám cận lâm sàng để khẳng định chẩn đoán và điều trị sớm.

Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm, sau vài giờ sẽ dẫn tới tình trạng viêm trung thất nhiễm khuẩn rất nặng. Bệnh nhân sốt cao 39-40°, vẻ mặt hốc hác, tăng tiết đờm dãi, khó thở, tím tái.

Triệu chứng cận lâm sàng

  • Chụp X quang lồng ngực

Chụp ngực thẳng, nghiêng, lấy cả vùng cổ thường thấy có hình ảnh tràn khí dưới da vùng cổ. Hình ảnh tràn khí trung thất có từ 75-80% các trường hợp, có khi thấy hình ảnh hơi hình chữ V trên cơ hoành (dấu hiệu Nacle – Rio). Nếu để muộn, có thể thấy dấu hiệu trung thất giãn rộng do tụ dịch, áp xe trung thất, tràn dịch và tràn khí màng phổi do thủng vào màng phổi hoặc là tràn dịch do phản ứng của màng phổi. Trên phim chụp nghiêng vùng cổ có thể thấy dấu hiệu hơi sau thực quản (dấu hiệu Minigerode) khoang sau thực quản rộng ra, đẩy thực quản và khí quản ra trước. .

  • Chụp bụng không chuẩn bị

Chụp bụng không chuẩn bị có thể thấy hơi tự do trong ổ bụng (dấu hiệu liềm hơi dưới hoành trên phim chụp đứng) hoặc có thể thấy có hơi sau phúc mạc trong các trường hợp thủng thực quản bụng sau phúc mạc.

  • Chụp cản quang thực quản

Chụp thực quản với thuốc cản quang hoà tan trong nước có thể xác định được 80% các trường hợp thủng thực quản, ngoài ra còn giúp xác định vị trí tổn thương và bên thành thực quản bị tổn thương để chọn đường mổ phù hợp. Trên phim chụp thực quản cản quang, thủng thực quản được khang định khi có các hình ảnh sau:

Hình khấc ở thực quản trong trường hợp tổn thương mới chỉ có ở thành thực quản.

Hình đám thuốc cản quang trên cơ hoành trái trong trường hợp vỡ thực quản tự phát.

Đường rò thuốc cản quang ra ngoài thực quản vào trung thất, màng phổi trong các tổn thương làm thủng hoàn toàn thành thực quản ngực hoặc cổ thấp.

  • Chọc màng phổi

Trong các trường hợp có tràn dịch màng phổi, chọc màng phổi thấy dịch màng phổi có mầu xanh nhạt của dịch dạ dày. Xét nghiệm dịch có pH < 6. Dịch chọc màng phổi có màu xanh sau khi cho bệnh nhân uống xanh Methylen chứng tỏ là có thông thương giữa ông tiêu hoá và màng phổi.

  • Chụp cắt lớp vi tính

Dấu hiệu thủng thực quản trên phim chụp cắt lớp vi tính có uống thuốc cản quang dạng nước là hình ảnh rò thuốc cản quang ra ngoài thực quản vào trung thất, dấu hiệu tràn khí trung thất và tổ chức phần mềm ở cổ. Dấu hiệu tràn khí trung thất và tổ chức phần mềm thấy rất rõ trên phim chụp cắt lớp. Áp xe trung thất thể hiện dưới dạng ổ dịch có hơi ở giữa. Chụp cắt lớp có hai lợi ích căn bản là chẩn đoán và đánh giá chính xác, toàn diện các ổ nhiễm khuẩn, áp xe trung thất trong các trường hợp thủng muộn, giúp lựa chọn đường dẫn lưu ổ áp xe qua da. Hơn nữa, chụp cắt lớp là phương tiện tốt nhất để chẩn đoán tổn thương tụ máu thành thực quản.

  • Nội soi

Lợi ích của nội soi trong chẩn đoán thủng thực quản còn đang được thảo luận. Một số tác giả cho rằng, nội soi thực quản với ống soi mềm có bơm hơi có thể làm lan tràn nhiễm khuẩn vào trung thất. Do vậy, chụp thực quản cản quan thường là lựa chọn đầu tiên để chẩn đoán, nội soi chỉ áp dụng khi chụp X quang không khẳng định được chẩn đoán và nội soi phải thực hiện trong phòng mổ ngay trước khi mổ. Một số tác giả lại cho rằng nội soi rất có giá trị để chẩn đoán nhất là trong các trường hợp thủng thực quản do dị vật. Một số nghiên cứu cho thấy nội soi có độ nhậy tới 100% và độ đặc hiệu trên 80% trong chẩn đoán thủng thực quản.

ĐIỀU TRỊ

Khi đã chẩn đoán là thủng thực quản, phải cho bệnh nhân ngừng ăn uống qua miệng ngay và chuyển sớm về cơ sở điều trị ngoại khoa. Thái độ xử trí thủng thực quản phụ thuộc vào loại tổn thương, thời gian phát hiện bệnh sớm hay muộn, tình trạng toàn thân, tình trạng nhiễm khuẩn trung thất, thủng trên thực quản lành hay bệnh lý…

Cho dù thủng thực quản do nguyên nhân nào thì cũng cần phải hồi sức tích cực trước, trong và sau mổ, bao gồm:

  • Điều trị dự phòng và chống sốc.
  • Đảm bảo chức năng hô hấp tốt bằng cách hút đồm rãi, hút khí phế quản, thở oxy, hô hấp hỗ trợ nếu cần thiết, dẫn lưu tràn dịch màng phổi nếu có.
  • Đảm bảo nuôi dưỡng đầy đủ (2500 – 3000 calo/ngày) bằng đường tĩnh mạch, tốt nhất là qua mở thông hỗng tràng. Nuôi ăn qua mở thông dạ dày hoặc qua ông thông dạ dày đặt qua mũi có thể có hại do trào ngược dịch dạ dày lên thực quản vào trung thất.
  • Chống nhiễm khuẩn bằng kháng sinh: kháng sinh mạnh, phổ rộng, phối hợp kháng sinh có hiệu quả đối với vi khuẩn Gr (-) và Gr (+). Tốt nhất là sử dụng kháng sinh theo kháng sinh đồ sau khi có kết quả cấy mủ dịch màng phổi hoặc ổ áp xe.

Thái độ xử trí đối với tổn thương ở thực quản phụ thuộc vào 3 yếu tố chính:

  • Tình trạng của thực quản (thủng trên thực quản lành hay trên thực quản bệnh lý): nếu thủng trên thực quản lành, nên áp dụng các phương pháp phẫu thuật bảo tồn thực quản, đảm bảo khỏi nhanh nhất và ít nguy cơ nhất. Đổì với các trường hợp thủng trên thực quản bệnh lý, cần tính toán giữa việc bảo tồn chức năng thực quản và tiên lượng chung của bệnh nhân và bệnh có trước ở thực quản.
  • Thời gian từ khi thủng đến khi được chẩn đoán đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật. Thủng sau 12-18 giò, do có nhiễm khuẩn trung thất nên lỗ thủng thực quản rất khó có thể khâu chắc chắn, nguy cơ rò rất cao. Trong những trường hợp phát hiện muộn, sau nhiều ngày, tình trạng toàn thân rất nặng hoặc đã hình thành ổ áp xe trung thất thực sự thì điều trị bằng phương pháp không mổ hoặc dẫn lưu qua da có thể được áp dụng.
  • Nguyên nhân, hoàn cảnh tổn thương thực quản và tình trạng của trung thất bình thường hay đã có viêm dính từ trước cũng được tính đến. Thủng thực quản khi trung thất bình thường thì nguy cơ nhiễm khuẩn trung thất xảy ra rất sớm và lan rộng, cần phải mổ cấp cứu để xử trí tổn thương. Ngược lại, thủng thực quản nhỏ do soi, được phát hiện ngay trên một trung thất đã có viêm dính từ trước do di chứng của sẹo bỏng thực quản, hay viêm thực quản trào ngược thì có thể điều trị bảo tồn, không mổ.

Điều trị phẫu thuật

  • Đuờng mổ: trong điều trị thủng thực quản, có rất nhiều đường mổ khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí tổn thương. Đường mổ bò trước cơ ức đòn chũm trái thường được sử dụng đối với các tổn thương thực quản cổ, đường mổ sau bên phải qua khoang liên sườn IV hoặc V với thủng thực quản 1/3 trên và 1/3 giữa, đường mổ ngực trái trước bên, khoang liên sườn VI, VII cho các thủng thực quản 1/3 dưới và đường mổ giữa trên rốn cho các thủng thực quản bụng.
  • Các phương pháp phẫu thuật

Khâu thủng:

Đối với các trường hợp thủng thực quản được phát hiện sớm trước 12 giò, khâu thủng là phương pháp lý tưởng, thường được sử dụng nhất vì đơn giản và khả năng liền vết thương rất cao, bảo tồn được thực quản. Khi phát hiện muộn sau 24 giờ, tỷ lệ rò, bục đường khâu tăng lên đáng kể.

Kỹ thuật khâu thủng thực quản đóng vai trò rất quan trọng cho liền vết thương, trước khi khâu bao giờ cũng phải cắt lọc tổ chức dập nát, hoại tử, mở rộng lớp cơ để thấy rõ hết đường vỡ niêm mạc vì đường vỡ niêm mạc thường lớn hơn đường vỡ của lớp cơ nhất là trong thủng thực quản tự phát để tránh bỏ sót khi khâu. Lỗ thủng được khâu 2 lớp, mũi ròi, lớp trong khâu niêm mạc, lớp ngoài khâu lóp cơ với chỉ tiêu chậm.

Trong các trường hợp thủng thực quản đến muộn, sau 24 giờ cần tăng cường cho đường khâu bằng cách khâu áp các vạt cân cơ lên đường khâu thực quản. Đối với vết thương thực quản cổ có thể dùng vạt cơ có cuông như cơ vai móng, cơ ức đòn chũm khâu áp vào đường khâu thực quản hoặc chèn giữa hai đường khâu thực quản và khí quản nếu có tổn thương phối hợp. Đối với thủng thực quản ngực, có thể sử dụng vạt cân màng phổi (Grillo: 1975), vạt cơ liên sườn có cuông (Dooling: 1967), vạt cơ hoành (Jara: 1979), trong đó vạt liên sườn là có hiệu quả nhất và thường được sử dụng. Đối với thủng thực quản bụng, có thể sử dụng phình vị lớn dạ dày và mạc nối lớn để khâu áp vào đường khâu thực quản (Thai: 1964).

Loại trừ thực quản:

Để bảo vệ đường khâu khỏi sự trào ngược dạ dày và nước bọt để thực quản được nghỉ ngơi, nhiều phương pháp loại trừ thực quản đã được áp dụng. Johnson (1956) đã cắt đôi thực quản tâm vị, khâu kín 2 đầu lại và đưa thực quản cổ ra da. Urschel (1974) cải tiến bằng cách buộc tâm vị bằng một dải Teílon, mở thông dạ dày và mở thực quản bên ra da ở cổ. Ladin (1989) sử dụng dụng cụ khâu bằng ghim kim loại, Bardini (1992) sử dụng dụng cụ khâu bằng ghim tự tiêu để khâu kín tâm vị, sau 2- 3 tuần thực quản có thể lưu thông trở lại.

Nhìn chung, các phương pháp loại trừ thực quản có nhược điểm là phải làm phẫu thuật thay thế thực quản sau này trong các kỹ thuật loại trừ vĩnh viễn hoăc thực quản thông trở lại quá sớm, có thể gây rò đường khâu trong các phương pháp loại trừ tạm thời. Do vậy, phương pháp loại trừ thực quản chỉ áp dụng trong những trường hợp thủng thực quản đến quá muộn, sau nhiều ngày, việc khâu thực quản không chắc chắn hoặc không thực hiện được.

Tạo đường rò chỉ huy:

Brevver (1986) tạo đường rò chỉ huy bằng cách đặt hệ thống ổng dẫn lưu cạnh lỗ thủng, tưới rửa và hút liên tục. Phương pháp này ít được áp dụng vì tỷ lệ tử vong cao do viêm trung thất vẫn tiếp tục tiến triển nặng và thực quản đê lại thường bị hoại tử.

Abbott (1970) tạo đường rò chỉ huy bằng cách đặt một ông Kehr to, ngành dọc đưa vào thực quản xuống dạ dày, ngành ngang đưa ra ngoài thành ngực, khâu lỗ thủng quang ống Kehr, khâu cố định ống thông vào cơ hoành. Hút liên tục ông dẫn lưu với áp lực thấp, ống Kehr sẽ được rút sau 3 tuần và đường rò sẽ tự liền. Kết quả của phương pháp này xấu do tử vong, rò thực quản và áp xe tồn dư ở trung thất còn cao nên cũng chỉ áp dụng cho các thủng thực quản đến muộn.

Đặt Stent nòng thực quản:

Có nhiều loại stent đặt vào nòng thực quản nhằm mục đích điều trị tạm thời cho các trường hợp thủng thực quản do ung thư hoặc trong một số trường hợp thủng thực quản ngực do dụng cụ, thủng thực quản tự phát trên thể trạng bệnh nhân quá già yếu hoặc quá nặng không thể mở ngực để xử lý lỗ thủng. Trong các trường hợp này, dẫn lưu trung thất và màng phổi được đặt qua đường mổ bụng.

Cắt thực quản:

Cắt thực quản chỉ áp dụng cho các trường hợp thủng thực quản do bệnh lý như ung thư thực quản, hẹp thực quản không sửa chữa được, chấn thương dập nát rộng thực quản, hoại tử rộng thực quản do đến quá muộn không thể điều trị được bằng các phương pháp khác hoặc điều trị bằng các phương pháp khác thất bại.

Cắt thực quản có thể thực hiện qua đường mổ ngực hoặc đường mổ bụng – cổ trái (cắt thực quản không mở ngực). Tái tạo thực quản sẽ được thực hiện sau 3-6 tháng tuỳ thuộc tình trạng nhiễm trùng tại chỗ và tình trạng toàn thân của người bệnh.

Trong mọi trường hợp, ngoài các phương pháp xử trí tổn thương ở thực quản, còn phải lau rửa sạch màng phổi, trung thất, cắt lọc các tổ chức hoại tử, lấy bỏ giả mạc, phá bỏ hết các ổ áp xe, bóc màng phổi nếu cần và làm nở phổi. Để làm nở phổi, nếu cần có thể cho thở máy với áp lực dương để xoá bỏ các khoảng chết của trung thất, màng phổi, tạo thuận lợi gây dính, liền cho đường khâu.

Điều trị không phẫu thuật

Điều trị bảo tồn, không mổ có thể áp dụng cho các trường hợp thủng thực quản khi có các điều kiện sau:

  • Thủng thực quản được phát hiện sớm hoặc thủng muộn nhưng không có dấu hiệu nhiễm trùng lan toả.
  • Đường rò vào trung thất nhỏ trên phim chụp cản quang thực quản và được dẫn lưu tốt vào nòng thực quản, không có rò vào màng phổi.
  • Bệnh nhân không ăn kể từ lúc bị thủng tới lúc chẩn đoán.
  • Vị trí thủng không nằm ở thực quản bụng, thực quản không có u hoặc hẹp phía dưới.
  • Hội chứng nhiễm trùng nhẹ.

Những chỉ định điều trị bảo tồn, không mổ bao gồm:

  • Thủng thực quản do dụng cụ làm thủ thuật, trước hết là vị trí thủng ở cổ, thủng trong các trường hợp lấy dị vật thực quản.
  • Thủng thực quản nhỏ trong lồng ngực sau nong thực quản để điều trị hẹp do viêm thực quản trào ngược, nong điều trị co thắt tâm vị, hẹp do bỏng thực quản cũ. Trong các trường hợp này, hy vọng là sự xơ hoá của trung thất sẽ làm hạn chế sự lan toả của nhiễm khuẩn vào trung thất.
  • Trường hợp đến muộn, ổ mủ đã khu trú, dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân nhẹ và ổ mủ có thể dẫn lưu qua da dưới sự hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính.

Điều trị bảo tồn, không mổ bao gồm đặt bệnh nhân nằm đầu cao, nhịn ăn tuyệt đối, nuôi dưỡng tốt và hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch, điều trị kháng sinh toàn thân mạnh và hiệu quả với các vi khuẩn Gr (+) và Gr (-). Dẫn lưu ổ áp xe qua da nếu có. Đặt ống thông thực quản qua mũi vào cạnh lỗ thủng để tưới rửa liên tục với huyết thanh mặn đẳng trương, có thể pha thêm kháng sinh vào dung dịch rửa. Theo dõi liên tục để đánh giá hiệu quả của điều trị. Nếu điều trị bảo tồn thất bại cần chuyển sang điều trị phẫu thuật sớm trước 24 giờ.

KẾT LUẬN

Thủng thực quản là loại bệnh lý hiếm gặp, do rất nhiều nguyên nhân gây ra, tiên lượng rất nặng, tỷ lệ tử vong còn cao. Chẩn đoán còn muộn do triệu chứng thường không điển hình và biểu hiện rất đa dạng. Chụp cản quang thực quản có vai trò quan trọng trong chẩn đoán. Chụp cắt lớp vi tính có vai trò quan trọng không những để chẩn đoán bệnh mà còn giúp cho việc lựa chọn phương pháp điều trị và theo dõi sau mổ. Điều trị phẫu thuật phối hợp với hồi sức tích cực là phương pháp điều trị cơ bản nhất cho dù trong một số thể nhiễm khuẩn khu trú có thể điều trị bằng dẫn lưu qua da nhưng chỉ định phải được lựa chọn cẩn thận và được theo dõi chặt chẽ để chuyển điều trị phẫu thuật sớm nếu điều trị bảo tồn thất bại.

Các Thuốc Rifamycin

Rifampicin: Xem mục riêng về thuốc này.

  • Rifadine © (Marion Merrell). Rimactan © (Ciba – Geigy). Rifamycin
  • Otofa © (Boucharat)[ dung dịch nhỏ mắt]
  • Rifamycin (M.S&D-Chibret)[ Thuốc nhỏ mắt].
  • Rifocine © (Marion Merrell)[ dung dịch bôi tại chỗ].

Đường dùng tại chỗ: dung dịch nhỏ tai, nhỏ mắt, thuốc mõ mắt, dung dịch bôi tại chỗ 5%.

  • Rifabutin (Ansamycin).
  • Ansatipine © (Pharmacia & Upjohn).

Chỉ định: điều trị bệnh lao gây do các chủng đa kháng thuốc, đặc biệt là với rifampycin; đề phòng các nhiễm trùng lan toả do phức hợp Mycobacterium avium (MAC) ở người bị nhiễm virus HIV mà tỉ lệ CD4 thấp hơn 100/ịil.

Liều dùng: người lớn 300mg/ngày trong 1 lần.

Tác dụng phụ: viêm màng mạch mhỏ, giảm bạch cầu trung tính, mẩn da, rối loạn tiêu hoá, tăng men gan, vàng da.

Tương tác: rifabutin có thể làm giảm nồng độ zidovudin trong huyết tương.

Thuốc Coversyl (Perindopril) – Hạ áp ức chế men chuyển

Thuốc Coversyl (Perindopril)
Thuốc Coversyl (Perindopril)
Perindopril có hiệu lực ở mọi giai đoạn của cao huyết áp : nhẹ, vừa và nặng ; Perindopril được ghi nhận làm giảm huyết áp tâm thu và tâm trương, ở tư thế nằm và tư thế đứng.

COVERSYL

LES LABORATOIRES SERVIER

Viên nén dễ bẻ 4 mg : hộp 30 viên – Bảng B.

THÀNH PHẦN

cho 1 viên
Perindopril tert-butylamine 4 mg
(Lactose)

DƯỢC LỰC

Thuốc ức chế men chuyển angiotensine. Cơ chế tác động dược lý :

Perindopril là thuốc ức chế men chuyển angiotensine I thành angiotensine II, chất gây co mạch đồng thời kích thích sự bài tiết aldostérone ở vỏ thượng thận.

Kết quả là :

  • giảm bài tiết aldostérone,
  • tăng hoạt động của rénine trong huyết tương, aldost rone không còn đóng vai trò kiểm tra ngược âm tính,
  • giảm tổng kháng ngoại biên với tác động ưu tiên trên cơ và trên thận, do đó không gây giữ muối nước hoặc nhịp tim nhanh phản xạ trong điều trị lâu dài.

Tác động hạ huyết áp của perindopril cũng được thể hiện ở những bệnh nhân có nồng độ rénine thấp hoặc bình thường.

Perindopril tác động qua trung gian của một chất chuyển hóa có hoạt tính là perindoprilate, các chất chuyển hóa khác không có hoạt tính.

Các đặc trưng của tác động hạ huyết áp :

Perindopril có hiệu lực ở mọi giai đoạn của cao huyết áp : nhẹ, vừa và nặng ; Perindopril được ghi nhận làm giảm huyết áp tâm thu và tâm trương, ở tư thế nằm và tư thế đứng.

Tác động hạ huyết áp tối đa từ 4 đến 6 giờ sau khi dùng liều duy nhất và duy trì ít nhất trong 24 giờ.

Khả năng ức chế men chuyển còn rất cao ở thời điểm giờ thứ 24 : nằm trong khoảng 80%. Ở những bệnh nhân có đáp ứng, huyết áp được trở lại bình thường sau 1 tháng điều trị, và duy trì ở mức ổn định không tái lại.

Khi ngưng thuốc không xảy ra hiện tượng huyết áp tăng vọt trở lại.

Perindopril có đặc tính giãn mạch, khôi phục lại tính đàn hồi của động mạch lớn và làm giảm phì đại thất trái.

Trong trường hợp cần thiết, có thể phối hợp với thuốc lợi tiểu nhóm thiazide sẽ có tác dụng hiệp đồng. Ngoài ra, phối hợp thuốc ức chế men chuyển và thuốc lợi tiểu nhóm thiazide sẽ giảm nguy cơ hạ kali huyết so với khi chỉ dùng một mình thuốc lợi tiểu.

Cơ chế tác động trên huyết động ở bệnh nhân suy tim : Perindopril làm giảm hoạt động của tim :

  • do tác động làm giãn tĩnh mạch, do điều chỉnh sự chuyển hóa của prostaglandine : giảm tiền gánh ;
  • do giảm tổng kháng ngoại biên : giảm hậu gánh.

Các nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân suy tim cho thấy rằng :

  • giảm áp lực đổ đầy thất trái và phải,
  • giảm tổng kháng ngoại biên,
  • tăng lưu lượng tim và cải thiện chỉ số tim,
  • tăng lưu lượng máu đến cơ.

Các nghiệm pháp gắng sức cũng được cải thiện.

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Dùng đường uống, perindopril được hấp thu nhanh chóng. Tỷ lệ hấp thu chiếm 65 đến 70% liều dùng.

Perindopril được thủy phân thành perindoprilate, là một chất ức chế chuyên biệt men chuyển angiotensine. Thức ăn có thể làm thay đổi lượng perindoprilate hình thành. Đỉnh hấp thu của perindoprilate trong huyết tương đạt được sau 3 đến 4 giờ. Gắn kết với protéine huyết tương dưới 30% nhưng lệ thuộc vào nồng độ.

Sau khi dùng perindopril với liều duy nhất hàng ngày trong nhiều ngày, tình trạng cân bằng được ổn định lại trung bình sau khoảng 4 ngày. Thời gian bán hủy của perindoprilate trong khoảng 24 giờ. Các nồng độ của perindoprilate trong huyết tương cao một cách đáng kể ở bệnh nhân có thanh thải cr atinine dưới 60 ml/phút, do suy thận hoặc do cao tuổi. Sự đào thải thuốc cũng chậm ở bệnh nhân suy thận.

Sự thanh thải perindopril do thẩm phân là 70 ml/phút.

Ở bệnh nhân xơ gan, động học của perindopril có thay đổi : thanh thải qua gan của phân tử mẹ giảm còn phân nửa. Tuy nhiên, lượng perindoprilate hình thành không giảm và không cần thiết phải chỉnh liều.

Thuốc ức chế men chuyển qua được nhau thai.

CHỈ ĐỊNH

  • Cao huyết áp.
  • Suy tim sung huyết.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

  • Quá mẫn cảm với
  • Tiền sử bị phù mạch (phù Quincke) có liên quan đến việc dùng thuốc ức chế men chuyển.
  • Phụ nữ có thai hoặc cho con bú : xem Lúc có thai và Lúc nuôi con bú. Chống chỉ định tương đối :
  • Hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận trong trường hợp chỉ còn duy nhất một quả thận làm việc.
  • Tăng kali huyết.
  • Phối hợp với thuốc lợi tiểu tăng kali huyết, muối kali và lithium : xem Tương tác thuốc.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG

Cơ địa bị suy giảm miễn dịch : nguy cơ bị giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt.

Các thuốc ức chế men chuyển đôi khi ngoại lệ có thể gây mất bạch cầu hạt và/hoặc gây suy tủy khi chúng được sử dụng :

  • ở liều cao,
  • ở bệnh nhân suy thận phối hợp với các bệnh hệ thống (bệnh collagène như lupus ban đỏ rải rác hoặc bệnh xơ cứng bì), được điều trị bằng thuốc làm giảm miễn dịch và/hoặc những thuốc có khả năng gây giảm bạch cầu. Trường hợp phối hợp nhiều loại thuốc, cần theo dõi sát mức độ dung nạp ở máu và ở thận.

Việc chấp hành tốt các chế độ liều lượng khuyến cáo có thể ngăn ngừa tốt nhất việc xảy ra các tai biến trên. Tuy nhiên, nếu sử dụng thuốc ức chế men chuyển trên nhóm bệnh nhân này, cần cân nhắc kỹ giữa hiệu quả điều trị và các nguy cơ.

Phù mạch (phù Quincke) :

Phù mạch ở mặt, đầu chi, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản đôi khi cũng được ghi nhận trong một số hiếm trường hợp điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, kể cả perindopril. Trong những trường hợp này, phải ngưng ngay perindopril và theo dõi bệnh nhân cho đến khi hết hẳn phù. Nếu chỉ bị phù ở mặt và lưỡi, có thể tự khỏi không cần phải điều trị, có thể dùng các thuốc kháng histamine để làm dịu các triệu chứng.

Nếu phù mạch phối hợp với phù thanh quản có thể gây tử vong. Nếu phù sang đến lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản, có thể gây nghẹt thở, cần phải được xử lý ngay lập tức bằng cách tiêm

dưới da dung dịch adrénaline 1o/oo (0,3 ml đến 0,5 ml) và áp dụng các biện pháp cấp cứu thích hợp.

Không được tiếp tục kê toa thuốc ức chế men chuyển ở những bệnh nhân này (xem Chống chỉ định).

Bệnh nhân đã có tiền sử bị phù Quincke không liên quan đến việc dùng thuốc ức chế men chuyển cũng có nguy cơ cao khi dùng loại thuốc này.

Lọc máu :

Các phản ứng giống phản vệ (phù lưỡi và môi với khó thở và giảm huyết áp) cũng được ghi nhận khi làm thẩm phân dùng màng có tính thấm cao (polyacrylonitrile) ở những bệnh được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển. Nên tránh phối hợp này.

THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

  • Ho khan được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển, có đặc tính dai dẳng và khỏi khi ngưng thuốc. Nguyên nhân do thuốc có thể được nghĩ đến, tuy nhiên nếu việc điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển là cần thiết, có thể duy trì điều trị.
  • Trẻ em : hiệu lực và mức độ dung nạp của perindopril ở trẻ em chưa được thiết lập.
  • Trường hợp suy tim, mất muối-nước, v.v. : nguy cơ bị hạ huyết áp và/hoặc suy thận.

Có sự kích thích hệ thống rénine-angiotensine-aldost rone đã được ghi nhận, đặc biệt ở bệnh nhân bị mất muối-nước quan trọng (ăn kiêng theo chế độ không có muối hoặc điều trị kéo dài bằng thuốc lợi tiểu), ở bệnh nhân có huyết áp động mạch ban đầu thấp, trường hợp bị hẹp động mạch thận, suy tim sung huyết hoặc xơ gan cổ trướng phù báng.

Thuốc ức chế men chuyển có thể phong bế hệ thống này, nhất là trong lần sử dụng đầu tiên và trong hai tuần lễ đầu điều trị, có thể gây ra tụt huyết áp đột ngột và/hoặc, mặc dù rất hiếm và thời hạn thay đổi, tăng cr atinine huyết tương gây suy thận chức năng đôi khi cấp tính.

Trong những trường hợp nêu trên, cần bắt đầu điều trị với liều thấp và tăng từ từ (xem Liều lượng và Cách dùng).

  • Người già : cần đánh giá chức năng thận và kali huyết trước khi bắt đầu điều trị (xem Liều lượng và Cách dùng). Liều ban đầu được điều chỉnh lại sau đó tùy theo đáp ứng về huyết áp, nhất là trong trường hợp mất muối-nước, nhằm tránh tụt huyết áp có thể xảy ra đột ngột.
  • Trường hợp suy thận (thanh thải cr atinine dưới 60 ml/phút) : giảm liều. Ở những bệnh nhân này và ở những bệnh nhân bị bệnh cầu thận, nên theo dõi định kỳ kali và créatinine (xem Liều lượng và Cách dùng).
  • Bệnh nhân bị xơ vữa động mạch : do nguy cơ bị hạ huyết áp có thể xảy ra trên tất cả bệnh nhân, cần phải đặc biệt thận trọng ở những bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc suy tuần hoàn não, bằng cách bắt đầu điều trị ở liều thấp.
  • Bệnh nhân bị cao huyết áp do thận : nguyên tắc điều trị cao huyết áp do thận là vấn đề tái tưới máu thận (tái tạo mạch máu thận). Tuy nhiên, các thuốc ức chế men chuyển có thể có ích ở những bệnh nhân này trong thời gian chờ đợi phẫu thuật điều chỉnh hoặc trường hợp không thể phẫu thuật được. Khi điều trị phải dùng liều ban đầu thấp và theo dõi chức năng thận cũng như kali huyết, một vài bệnh nhân có thể bị tăng suy thận chức năng, tuy nhiên sẽ hồi phục lại khi ngưng điều trị.
  • Bệnh nhân suy tim nặng (giai đoạn IV) hoặc đái tháo đường lệ thuộc insuline (có khuynh hướng tăng kali huyết) : khi điều trị phải được theo dõi y khoa chặt chẽ và liều ban đầu phải thấp.
  • Bệnh nhân cao huyết áp với suy mạch vành : không ngưng thuốc chẹn bêta ; phối hợp thuốc ức chế men chuyển với thuốc chẹn bêta.
  • Ghép thận hoặc thẩm phân máu :

Thiếu máu với giảm hàm lượng h moglobine đã được ghi nhận, và giảm nhiều nếu dùng liều ban đầu cao. Tác dụng này dường như không phụ thuộc vào liều lượng nhưng có liên quan đến cơ chế tác động của các thuốc ức chế men chuyển.

Việc giảm này ở mức độ trung bình, xảy ra trong thời hạn khoảng 1 đến 6 tháng, sau đó ở mức ổn định. Sẽ khỏi sau khi ngưng điều trị. Việc điều trị có thể được áp dụng nhưng cần phải kiểm tra máu thường xuyên.

  • Can thiệp phẫu thuật : trường hợp có dùng thuốc gây vô cảm, và thường xảy ra hơn khi sử dụng các loại thuốc gây vô cảm có thể gây hạ huyết áp, thuốc ức chế men chuyển là nguồn gốc của việc hạ huyết áp. Nên ngưng điều trị nếu có thể, và nên ngưng hai ngày trước khi can thiệp đối với những thuốc ức chế men chuyển có tác động kéo dài như

LÚC CÓ THAI

Các nghiên cứu trên thú vật cho thấy không có tác dụng gây quái thai, nhưng có độc tính trên phôi thai của nhiều loài.

Ở phụ nữ có thai được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển :

  • chưa có nghiên cứu dịch tễ học rộng rãi ;
  • một vài quan sát riêng rẽ ở phụ nữ có thai trong ba tháng đầu cho thấy rằng nói chung có thể bảo đảm về phương diện không gây quái thai ngoại trừ một vài trường hợp dị dạng vòm sọ có liên quan đến việc dùng lâu dài thuốc ức chế men chuyển trong thời gian mang
  • dùng thuốc trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, và nhất là nếu tiếp tục cho đến khi sinh, dễ có nguy cơ gây tổn thương thận có thể gây giảm chức năng thận của bào thai với đôi khi bị thiểu ối, suy thận ở trẻ sơ sinh, với hạ huyết áp và tăng kali huyết, thậm chí vô niệu (có hồi phục hoặc không).

Từ đó rút ra rằng :

Nguy cơ gây dị dạng, nếu có, rất thấp. Không cần thiết phải phá thai khi tình cờ phát hiện có thai trong khi đang điều trị. Tuy nhiên cần siêu âm để kiểm tra vòm sọ.

Ngược lại, nếu phát hiện có thai khi đang điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, cần ngưng ngay thuốc này và trong suốt thai kỳ.

LÚC NUÔI CON BÚ

Do thiếu số liệu, chống chỉ định perindopril cho phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Khuyên không nên phối hợp :

  • Thuốc lợi tiểu tăng kali huyết (spironolactone, triamtérène, một mình hoặc phối hợp…), kali (dạng muối) : tăng kali huyết (có thể gây tử vong), nhất là ở bệnh nhân suy thận (phối hợp tác động làm tăng kali huyết). Không phối hợp thuốc lợi tiểu tăng kali huyết với thuốc ức chế men chuyển, trừ trường hợp bệnh nhân bị hạ kali huyết.
  • Lithium : tăng lithium huyết có thể đến ngưỡng gây độc (do giảm bài tiết lithium ở thận). Nếu bắt buộc phải dùng thuốc ức chế men chuyển, cần theo dõi sát lithium huyết và điều chỉnh liều. Cần thận trọng khi phối hợp :
  • Thuốc trị đái tháo đường (insuline, sulfamide hạ đường huyết) ; mô tả cho captopril, énalapril:

Tăng tác dụng hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng insuline hoặc sulfamide hạ đường huyết. Hiếm khi xảy ra các biểu hiện khó chịu do hạ đường huyết (cải thiện sự dung nạp glucose do đó giảm nhu cầu insuline).

Tăng cường tự theo dõi đường huyết.

  • Baclofène : tăng tác dụng hạ huyết áp.

Theo dõi huyết áp động mạch và điều chỉnh liều thuốc hạ huyết áp nếu thấy cần.

  • Thuốc lợi tiểu : nguy cơ hạ huyết áp đột ngột và/hoặc suy thận cấp tính khi dùng thuốc ức chế men chuyển trường hợp bệnh nhân trước đó đã bị mất muối-nước.

Trong cao huyết áp động mạch, nếu việc điều trị bằng thuốc lợi tiểu trước đó gây mất muối-nước (đặc biệt ở bệnh nhân đã hoặc đang được điều trị bằng thuốc lợi tiểu, hoặc theo chế độ ăn kiêng không có muối, hoặc ở bệnh nhân chạy thận), cần phải :

  • hoặc ngưng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu dùng thuốc ức chế men chuyển, và sau đó có thể dùng trở lại thuốc lợi tiểu hạ kali huyết nếu cần thiết,
  • hoặc dùng liều ban đầu thấp thuốc ức chế men chuyển và tăng liều từ từ.

Ở bệnh nhân suy tim sung huyết được điều trị bằng thuốc lợi tiểu, bắt đầu bằng liều rất thấp thuốc ức chế men chuyển, có thể sau khi đã giảm liều thuốc lợi tiểu hạ kali huyết dùng phối hợp.

Trong mọi trường hợp, cần theo dõi chức năng thận (créatinine huyết) trong các tuần lễ đầu điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.

Một số phối hợp cũng cần nên lưu ý :

  • Thuốc kháng viêm không stéroide (do suy luận từ indométacine) : giảm tác dụng hạ huyết áp (do thuốc kháng viêm không stéroide gây ức chế các prostaglandine có tác dụng giãn mạch và phénylbutazone gây giữ muối-nước).
  • Thuốc chống trầm cảm nhóm imipramine (ba vòng), thuốc an thần kinh : tăng tác dụng hạ huyết áp và nguy cơ hạ huyết áp thế đứng (hiệp đồng tác dụng).
  • Corticoide, tétracosactide : giảm tác dụng hạ huyết áp (do corticoide gây giữ muối-nước).

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

Về phương diện lâm sàng :

  • Nhức đầu, suy nhược, cảm giác chóng mặt, rối loạn tính khí và/hoặc rối loạn giấc ngủ, vọp bẻ.
  • Hạ huyết áp theo tư thế hoặc không (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
  • Phát ban ngoài
  • Đau bao tử, chán ăn, buồn nôn, đau bụng, thay đổi vị giác.
  • Ho khan được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Ho có tính chất dai dẳng và sẽ khỏi khi ngưng điều trị. Nguyên nhân do thuốc phải được x t đến khi có những triệu chứng trên.
  • Ngoại lệ : phù mạch (phù Quincke) : xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng. Về phương diện sinh học :
  • Tăng vừa phải urê và créatinine huyết tương, hồi phục khi ngưng điều trị. Việc tăng này

thường gặp hơn ở bệnh nhân bị hẹp động mạch thận, cao huyết áp được điều trị bằng thuốc lợi tiểu, bệnh nhân suy thận. Trường hợp bị bệnh cầu thận, dùng thuốc ức chế men chuyển có thể gây protéine niệu.

  • Tăng kali huyết, thường là thoáng qua.
  • Thiếu máu (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng) được ghi nhận khi dùng thuốc ức chế men chuyển trên những cơ địa đặc biệt (như gh p thận, lọc máu).

LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG

Perindopril dạng viên nên uống trước bữa ăn.

Perindopril được uống một lần duy nhất trong ngày, vào buổi sáng. Cao huyết áp vô căn :

  • Nếu bệnh nhân trước đó không bị mất muối-nước hoặc suy thận (hoặc trong các chỉ định thông thường) : liều hữu hiệu là 4 mg/ngày uống một lần vào buổi sáng. Tùy theo đáp ứng của bệnh nhân, có thể điều chỉnh liều, tuy nhiên phải tăng từ từ từng nấc liều trong vòng 3 đến 4 tuần lễ, cho đến tối đa 8 mg/24 giờ, uống một lần vào buổi sáng.

Nếu cần thiết, có thể phối hợp với thuốc lợi tiểu không làm tăng kali huyết nhằm tăng tác động hạ huyết áp.

  • Trong cao huyết áp đã được điều trị trước đó bằng thuốc lợi tiểu :
  • hoặc ngưng thuốc lợi tiểu trước 3 ngày, sau đó có thể dùng trở lại nếu thấy cần thiết,
  • hoặc dùng liều ban đầu là 2 mg và điều chỉnh liều tùy theo đáp ứng về huyết áp thu được. Nên định lượng créatinine huyết tương và kali huyết trước khi điều trị và trong 15 ngày đầu điều trị.
  • Ở người già (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng) : dùng liều khởi đầu thấp (2 mg/ngày, vào buổi sáng), và tăng lên nếu cần, cho đến 4 mg sau khoảng 1 tháng điều trị.

Có thể điều chỉnh liều theo chức năng thận của bệnh nhân trong trường hợp mà liều được đề nghị trên không phù hợp được với tuổi tác (xem phía dưới).

Mức độ thanh thải creatinine, được tính dựa trên créatinine huyết, thay đổi theo tuổi, trọng lượng và giới tính, theo biểu thức Cockcroft*, chẳng hạn, phản ánh một cách chính xác tình trạng của chức năng thận ở người già :

  • Thanh thải créatinine = (140 – tuổi) x trọng lượng / 0,814 x créatinine huyết

(với tuổi được tính theo năm, trọng lượng tính theo kg, créatinine huyết tính theo mmol/l). Công thức này áp dụng cho nam giới và đối với phụ nữ thì phải lấy kết quả nhân cho 0,85.

  • Trong cao huyết áp do thận : nên bắt đầu ở liều 2 mg/ngày, sau đó đánh giá lại tùy theo đáp ứng của bệnh nhân đối với trị liệu.

Cần kiểm tra créatinine huyết và kali huyết nhằm phát hiện trường hợp suy thận chức năng có thể xảy ra (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

  • Trường hợp suy thận : liều perindopril được điều chỉnh theo mức độ suy thận :
  • nếu thanh thải créatinine >= 60 ml/phút, không cần phải chỉnh liều,
  • nếu thanh thải créatinine < 60 ml/phút : từ 30 đến 60 ml/phút : 2 mg/ngày ; từ 15 đến 30 ml/phút : 2 mg, uống 1 ngày nghỉ 1 ngày.

Ở những bệnh nhân này, cần theo dõi định kỳ kali và créatinine, chẳng hạn mỗi 2 tháng trong thời gian ổn định trị liệu.

Có thể phối hợp với thuốc lợi tiểu vùng quai.

  • Ở bệnh nhân cao huyết áp có chạy thận (thanh thải créatinine < 15 ml/phút) : perindopril có thẩm tách được (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng). Mức độ thẩm tách là 70 ml/phút.

Dùng liều 2 mg ở ngày chạy thận. Suy tim sung huyết :

Liều khởi đầu thật thấp, đặc biệt trong trường hợp :

  • huyết áp động mạch lúc đầu trung bình hoặc thấp,
  • suy thận,
  • hạ natri huyết, nguyên nhân do thuốc (thuốc lợi tiểu) hoặc không.

Thuốc ức chế men chuyển có thể được dùng phối hợp với thuốc lợi tiểu và có thể phối hợp với digitalis.

Nên khởi đầu điều trị bằng liều 2 mg uống một lần vào buổi sáng, theo dõi huyết áp và có thể tăng liều đến liều hữu hiệu thông thường trong khoảng 2 đến 4 mg/ngày, uống một lần vào buổi sáng.

Lưu ý không để huyết áp tâm thu ở tư thế đứng giảm dưới 90 mm Hg.

Hạ huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra ở bệnh nhân suy tim có nguy cơ (như suy tim nặng, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc lợi tiểu liều cao). Liều ban đầu phải giảm phân nửa (ứng với 1 mg/ngày).

Cần kiểm tra créatinine huyết và kali huyết mỗi khi có tăng liều, sau đó mỗi 3 đến 6 tháng tùy theo mức độ suy tim, nhằm kiểm tra sự dung nạp của điều trị.

QUÁ LIỀU

Thường xảy ra nhất khi bị quá liều là tụt huyết áp.

Khi huyết áp tụt nhiều, cần đặt bệnh nhân ở tư thế nằm, đầu ở thấp, và truyền tĩnh mạch dung dịch đẳng trương NaCl hay bằng bất cứ phương tiện nào khác để làm tăng thể tích máu lưu chuyển.

Perindoprilate, dạng có hoạt tính của perindopril, có thể thẩm tách được.

Rối loạn lipid/kiểm soát lipid ở người đái tháo đường

Các khuyến nghị Sàng lọc

•       Ở người trưởng thành, việc sàng lọc các lipd trong máu nên được thực hiện ở lần chẩn đoán đầu tiên, ở lần đánh giá sử dụng thuốc ban đầu và hoặc độ tuổi 40 và thực hiện định kì sau đó (ví dụ mỗi 1-2 năm) E.

Các khuyến cáo trong điều trị và mục tiêu điều trị

•       Thay đổi lối sống tập trung vào việc làm giảm hấp thụ các chất béo bão hòa, chất béo trans và cholesterol; tăng cường các acid béo omega-3, chất xơ hòa tan, các stanol/sterol thực vật; giảm cân (nếu có yêu cầu); tăng cường các hoạt động thể chất nhằm cải thiện nồng độ lipid trong máu ở bệnh nhân Đái tháo đường. A

•       Tăng cường liệu pháp điều trị về lối sống và kiểm soát đường huyết tối ưu cho bệnh nhân có nồng độ triglycerid cao (>150 mg/dL [1.7 mmol/L]) và/hoặc cholesterol HDL thấp (<40 mg/dL [1.0 mmol/L] đối với nam giới, <50 mg/dL [1.3 mmol/L] ở nữ giới). C Đối với bệnh nhân có nồng độ triglycerid lúc đói >500 mg/dL (5.7 mmol/L), đánh giá các nguyên nhân thứ phát và xem xét việc điều trị thuốc nhằm làm giảm nguy cơ viêm tụy. C

•       Đối với bệnh nhân Đái tháo đường ở mọi lứa tuổi và có tiền sử mắc các bệnh về tim mạch, nên tiến hành điều trị với liệu pháp statin liều cao bên cạnh các biện pháp không dùng thuốc. A

•       Đối với bệnh nhân Đái tháo đường <40 tuổi và có kèm các yếu tố nguy cơ về bệnh tim mạch, nên điều trị bằng liệu pháp statin liều trung bình hoặc liều cao cùng với các biện pháp không dùng thuốc. C

•       Đối với bệnh nhân Đái tháo đường độ tuổi 40-75 và không có kèm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, xem xét điều trị bằng liệu pháp statin liều cao cùng với các biện pháp không dùng thuốc. B

•    Đối với bệnh nhân Đái tháo đường trên 75 tuổi và có kèm các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, xem xét điều trị liệu pháp statin liều trung bình hoặc liều cao với các biện pháp không dùng thuốc. B

•       Trong quá trình điều trị, các bác sĩ có thể điều chỉnh liều statin dựa trên đáp ứng của từng bệnh nhân (ví dụ như tác dụng phụ, khả năng hấp thu, nồng độ cholesterol LDL). E

•       Xét nghiệm cholesterol có thể giúp ích trong việc giám sát tuân thủ điều trị, nhưng cũng có thể không cần thiết khi tình trạng bệnh nhân ổn định trong quá trình điều trị. E

•         Liệu pháp kết hợp (statin/fibrate hay statin/niacin) không cho thấy lợi ích về tim mạch cao hơn so với liệu pháp sử dụng statin đơn độc và nói chung là không được khuyến cáo. A

•         Liệu pháp statin chống chỉ định ở phụ nữ có thai. B

Can thiệp về lối sống

Điều chỉnh lối sống, bao gồm liệu pháp dinh dưỡng y khoa, tăng cường hoạt động thể chất, giảm cân, bỏ thuốc lá có thể giúp bệnh nhân giảm các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, như ví dụ giảm nồng độ cholesterol LDL. Chế độ ăn nên được điều chỉnh để phù hợp với độ tuổi của từng bệnh nhân, loại Đái tháo đường, thuốc điều trị, nồng độ lipid, các điều kiện chăm sóc khác. Các khuyến cáo đều nhấn mạnh cần giảm hấp thu các chất béo bão hòa, cholesterol, chất béo không bão hòa trans và tăng lượng acid béo omega-3 và chất xơ hòa tan (trong yến mạch, các loại đậu, cam quýt). Kiểm soát đường huyết cũng có thể thay đổi nồng độ lipid huyết tương theo hướng tốt, đặc biệt là ở bệnh nhân có triglycerid rất cao và nồng độ đường huyết kiểm soát kém.

Điều trị bằng statin

Điều trị khởi đầu bằng statin dựa trên nguy cơ

Các bệnh nhân Đái tháo đường typ 2 có nồng độ lipd xấu tăng cao cũng sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả của việc điều trị bằng thuốc (chủ yếu là statin) trên những biến chứng về tim mạch ở bệnh nhân có tiền sử và trong phòng ngừa các bệnh tim mạch tiên phát (29,30). Các phân tích trên các nhóm nhỏ những bệnh nhân Đái tháo đường trong những thử nghiệm lớn (31-35) và các thử nghiệm trên bệnh nhân Đái tháo đường (36,37) cho thấy hiệu quả của thuốc trong việc phòng ngừa các biến cố tim mạch nguyên phát và thứ phát cũng như tử vong do bệnh mạch vành ở bệnh nhân Đái tháo đường. Các phân tích gộp thực hiện trên dữ liệu của 18.000 bệnh nhân Đái tháo đường từ 14 thử nghiệm ngẫu nhiên sử dụng liệu pháp statin (nghĩa là theo dõi trong 4,3 năm) đã cho thấy tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân giảm 9% và tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch giảm 13% khi giảm 1 mmol/L cholesterol LDL(38). Trong khi ở bệnh nhân không bị Đái tháo đường, mức giảm tỷ lệ xảy ra biến cố tim mạch được nghiên cứu (tử vong do bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim không gây tử vong) là lớn nhất ở những bệnh nhân có nguy cơ bệnh tim mạch cao (nghĩa làbệnh tim mạch và/hoặc có nồng độ cholesterol LDL rất cao), nhưng lợi ích của liệu pháp statin trên bệnh nhân Đái tháo đường có nguy cơ bệnh tim mạch trung bình hoặc cao cũng rất thuyết phục (39,40). Nhóm statin là các thuốc được lựa chọn để điều trị giảm cholesterol LDL và bảo vệ tim mạch.

Hầu hết các thử nghiệm về statin và hậu quả của các bệnh tim mạch được tiến hành với những mức liều cụ thể của statin so với placebo hay với những thuốc statin khác, hơn là hướng đến

 

DƯỢC LÂM SÀNG

mức cholesterol LDL mục tiêu. Với các kết quả đó, các tiêu chuẩn chăm sóc của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ năm 2015 đã được xem xét lại nhằm khuyến cáo khi nào nên bắt đầu điều trị bằng statin và điều trị ở liều nào (cao hay trung bình) dựa trên các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân.

 

Trường Tim mạch Hoa Kì/Hiệp hội tim mạch Hoa Kì dựa trên phương trình thuần tập gộp chung đưa ra công cụ tính toán nguy cơ (Risk calculator) giúp ước tính nguy cơ bệnh tim mạch xơ vữa trong thời gian 10 năm. Bởi vì bản thân bệnh Đái tháo đường đã là một yếu tố nguy cơ gây các bệnh tim mạch, nên công cụ này được giới hạn sử dụng để dự đoán nguy cơ ở những bệnh nhân Đái tháo đường. Những khuyến cáo sau đây được hỗ trợ bởi các bằng chứng từ những thử nghiệm thực hiện trên các bệnh nhân Đái tháo đường.

Nhóm bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên

Ở những bệnh nhân Đái tháo đường từ 40 tuổi trở lên nếu đã được chỉ định trên lâm sàng thì có thể điều trị bằng statin liều trung bình phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc. Các thử nghiệm lâm sàng ở đối tượng bệnh nhân nguy cơ cao, ví dụ như các bệnh nhân mắc bệnh mạch vành cấp tính hay có những biến cố tim mạch trước đó cho thấy phác đồ điều trị tấn công với statin liều cao giúp giảm rõ rệt các biến cố sau đó. Do đó, ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao (ví dụ: cholesterol LDL >100 mg/dL [2.6 mmol/L], huyết áp cao, hút thuốc lá, và thừa cân/béo phì) hoặc có tiền sử tim mạch thì khuyến cáo nên điều trị với statin liều cao.

Đối với bệnh nhân Đái tháo đường trên 75 tuổi, các thông tin liên quan đến điều trị với statin còn giới hạn. Liệu pháp statin nên được áp dụng tùy vào từng cá nhân dựa trên đặc tính nguy cơ. Statin liều cao nếu được hấp thu tốt có thể phù hợp và được khuyến cáo cho bệnh nhân lớn tuổi hơn và có tiền sử tim mạch. Mặc dầu vậy, yếu tố nguy cơ-lợi ích nên được đánh giá đều đặn thường xuyên ở nhóm bệnh nhân này, với việc giảm dần liều nếu cần thiết (ví dụ cường độ từ cao đến trung bình). Xem mục 10 – Người cao tuổi để biết thêm thông tin chi tiết hơn về mặt lâm sàng cho nhóm bệnh nhân đặc biệt này.

Nhóm bệnh nhân dưới 40 tuổi và/hoặc mắc Đái tháo đường typ 1

Có rất ít bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân Đái tháo đường typ 2 dưới 40 tuổi hay bệnh nhân Đái tháo đường typ 1 ở tất cả các lứa tuổi. Trong một nghiên cứu về bảo vệ tim mạch (độ tuổi dưới 40), một nhóm nhỏ gồm khoảng khoảng 600 bệnh nhân Đái tháo đường typ 1 đã cho kết quả tương tự với tỷ lệ giảm nguy cơ ở bệnh nhân Đái tháo đường typ 2, mặc dù không có ý nghĩa thống kê (32). Mặc dù các thông tin vẫn chưa thực sự rõ ràng, nhưng những phác đồ điều trị tương tự như statin vẫn nên được cân nhắc cho cả bệnh nhân Đái tháo đường typ 1 và typ 2, đặc biệt khi có mặt các yếu tố nguy cơ tim mạch. Tham khảo thêm “Bệnh Đái tháo đường typ 1 và bệnh tim mạch: Kết luận của hiệp hội tim mạch Hoa kì/ Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ” (45) để có thêm thông tin.

Điều trị bằng statin ở mức liều trung bình nên được cân nhắc cho bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao (ví dụ: các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch như cholesterol LDL >100 mg/dL) và với statin liều cao nếu bệnh nhân có tiền sử tim mạch.

Liệu pháp điều trị liên tục và theo dõi bằng bảng lipid

Ở các bệnh nhân Đái tháo đường trưởng thành, xét nghiệm sàng lọc nồng độ lipid (cholesterol toàn phần, cholesterol LDL, cholesterol HDL, triglycerid) cần được thực hiện ở lần chẩn đoán đầu tiên, ở lần đánh giá phác đồ sử dụng thuốc ban đầu và hoặc ở độ tuổi 40 và tiếp tục thực hiện định kỳ mỗi 1-2 năm. Khi bệnh nhân đang được điều trị bằng statin, có thể cân nhắc tiến hành xét nghiệm cholesterol LDL tùy thuộc vào từng bệnh nhân, ví dụ như để giám sát việc tuân thủ hay theo dõi hiệu quả điều trị. Đối với những trường hợp bệnh nhân tuân thủ điều trị, nhưng nồng độ cholesterol LDL vẫn chưa đáp ứng mức mục tiêu, nên xem xét lại để xác định sự cần thiết cũng như thời gian tiến hành xét nghiệm lipid.

Đối với từng bệnh nhân, sự khác biệt lớn của nồng độ cholesterol khi dùng statin vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Mức độ giảm các biến cố tim mạch khi dùng statin có liên quan chặt chẽ đến việc giảm nồng độ cholesterol LDL. Các bác sĩ cần tìm ra mức liều tối ưu hoặc thay đổi loại statin dung nạp tốt hơn nếu có tác dụng phụ. Có bằng chứng cho thấy nồng độ cholesterol LDL có thể giảm đáng kể ngay cả khi dùng mức liều vô cùng thấp, thấp hơn mức liều statin hàng ngày.

Khi statin đã sử dụng ở mức liều dung nạp tối đa mà vẫn không thể giảm nồng độ cholesterol LDL một cách có ý nghĩa (giảm <30% so với thời điểm ban đầu của bệnh nhân), thì cũng không có bằng chứng cho thấy nên sử dụng liệu pháp kết hợp để đạt được nồng độ cholesterol LDL mục tiêu. Mặc dù niacin, fenofibrate, ezetimibe, và chất tạo chelat với acid mật được khuyến cáo sử dụng để giảm nồng độ cholesterol LDL bên cạnh điều trị đơn độc với statin, tuy nhiên hiện tại vẫn không có đủ bằng chứng chứng minh được liệu pháp kết hợp có thể làm tăng hiệu quả trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch so với liệu pháp đơn độc với statin.

Điều trị bằng thuốc lipoprotein khác

Các thành phần của lipid và mục tiêu

Tăng triglycerid máu nên được giải quyết bằng việc sử dụng chế độ ăn kiêng hợp lí và thay đổi lối sống. Tăng triglycerid máu nghiêm trọng (>1000 mg/dL) cần đến các thuốc điều trị ngay lập tức (dẫn xuất của acid fibric hay dầu cá) để giảm nguy cơ viêm tụy cấp. Nếu không có tăng triglycerid máu nghiêm trọng, thì phác đồ hướng đến mục tiêu là cholesterol HDL hay triglycerid vẫn còn thiếu cơ sở bằng chứng so với liệu pháp sử dụng statin. Nếu cholesterol HDL <40 mg/dL và cholesterol LDL nằm trong khoảng 100-129 mg/dL thì có thể sử dụng một thuốc fibrate hoặc niacin, đặc biệt là nếu bệnh nhân không dung nạp được statin.

Nồng độ cholesterol HDL thấp, thường liên quan đến nồng độ triglycerid tăng cao, là những chứng rối loạn lipid máu phổ biến nhất ở bệnh nhân Đái tháo đường typ 2. Mặc dù vậy, cơ sở bằng chứng của thuốc mà mục tiêu nhắm vào những thành phần lipid này ít hơn nhiều so với liệu pháp statin (48). Một thử nghiệm lớn thực hiện trên các bệnh nhân Đái tháo đường đã cho thấy fenofibrate không hiệu quả trong trong việc làm giảm các biến cố về tim mạch.

Liệu pháp kết hợp

Statin và fibrate

Liệu pháp kết hợp (statin và fibrate) có thể có hiệu quả trong điều trị tăng cholesterol LDL, cholesterol HDL và triglycerid, nhưng sự kết hợp này có thể dẫn đến tăng nguy cơ xảy ra tình trạng nồng độ trasminase bất thường, viêm cơ, hay tiêu cơ vân. Nguy cơ xảy ra tiêu cơ vân phổ biến hơn khi sử dụng statin liều cao và khi bị suy thận và tỉ lệ này có vẻ thấp hơn khi kết hợp statin với fenofibrat hơn là với gemfibrat

Trong nghiên cứu ACCORD, ở những bệnh nhân Đái tháo đường typ 2 có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, sự kết hợp fenofibrate và simvastatin không làm giảm tỉ lệ tử vong do các biến cố tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, hay đột quỵ không tử vong khi so sánh với dùng simvastatin đơn độc. Các phân tích nhóm nhỏ cho thấy sự không đồng nhất trong hiệu quả điều trị giữa hai giới, trong đó phác đồ kết hợp có hiệu quả với nam giới nhưng có thể gây hại cho nữ giới, và phác đồ kết hợp này có thể phát huy hiệu quả ở các bệnh nhân có nồng độ triglycerid >240 mg/dL (2.3 mmol/L) và nồng độ cholesterol LDL <3.4 mg/dL (0.9 mmol/L).

Statin và niacin

Thử nghiệm ngẫu nhiên AIM-HIGH được tiến hành trên hơn 3.000 bệnh nhân (khoảng một phần ba là bệnh nhân Đái tháo đường) mắc bệnh tim mạch, nồng độ cholesterol LDL thấp (<180 mg/dL [4.7 mmol/L]), nồng độ cholesterol HDL thấp (nam giới <40 mg/dL [1.0 mmol/L] và nữ giới <50 g/dL [1.3 mmol/L]), và nồng độ triglycerid từ 150-400 mg/dL [1.7-4.5 mmol/L] sử dụng phác đồ statin cùng với niacin giải phóng kéo dài hay placebo tương ứng. Thử nghiệm đã bị dừng lại sớm do hiệu quả kém trên các biến cố tim mạch được nghiên cứu (trường hợp tử vong đầu tiên do bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ do thiếu máu cục bộ, nhập viện do hội chứng mạch vành cấp, triệu chứng bệnh mạch vành hay tái thông mạch máu não) và có thể gây tăng tình trạng đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân sử dụng liệu pháp kết hợp. Vì thế, liệu pháp kết hợp với niacin không được khuyến cáo sử dụng do hiệu quả kém đối với các biến cố tim mạch nghiêm trọng, thậm chí làm tăng nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ và các tác dụng phụ.

Bệnh Đái tháo đường với việc sử dụng statin

Khi sử dụng statin, nguy cơ Đái tháo đường có thể tăng cao do đó việc điều trị bằng statin có thể bị giới hạn dùng cho bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh Đái tháo đường. Những bệnh nhân này sẽ trải qua sàng lọc Đái tháo đường khi được điều trị bằng liệu pháp statin. Một phân tích của một trong những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này cho thấy statin có liên quan đến nguy cơ Đái tháo đường, tuy nhiên lợi ích của việc giảm tỉ lệ nguy cơ bệnh tim mạch khi dùng statin lớn hơn nhiều so với nguy cơ mắc Đái tháo đường, thậm chí ở bệnh nhân có nguy cơ Đái tháo đường cao nhất. Nguy cơ tuyệt đối tăng ít ( trong hơn 5 năm theo dõi, 1,2% số người tham gia ở nhóm placebo phát triển bệnh Đái tháo đường, tỷ lệ này là 1.5% ở bệnh nhân dùng rosuvastatin). Một phân tích gộp trên 13 thử nghiệm ngẫu nhiên sử dụng statin với 91.140 người tham gia đã cho thấy OR là 1.09 đối với chẩn đoán Đái tháo đường mới, do đó (về trung bình) khi điều trị cho 255 bệnh nhân bằng statin trong 4 năm sẽ có một trường hợp mắc Đái tháo đường, trong khi đó, giảm được 5,4 biến cố về tim mạch ở 255 bệnh nhân đó. Tỉ lệ RR/lợi ích thu được (RR) khi sử dụng statin còn được chứng minh qua các phân tích gộp trên những dữ liệu cá nhân của hơn 170.000 bệnh nhân từ 27 thử nghiệm ngẫu nhiên. Điều nay cho thấy rằng những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp, gồm những bệnh nhân đã có phòng ngừa ban đầu khi sử dụng statin có thể giảm được nguy cơ mắc phải các bệnh tim mạch, tử vong do các bệnh này mà không gia tăng nguy cơ mắc ung thư hay tử vong do các nguyên nhân khác.

Chẩn đoán và điều trị bệnh Tai biến mạch máu não

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Căn cứ vào bệnh sử và các biểu hiện của người bệnh để tiến hành chẩn đoán.

  • Bệnh xảy ra đột ngột với các dấu hiệu thần kinh cục bộ, bệnh kéo dài trên 24 giờ hoặc tử vong trong vòng 24 giờ (không giảm).
  • Có dấu hiệu xuất huyết não hoặc nhồi máu não trên cận lâm sàng (CT, MRI, DSA, chụp động mạch não…).

Chẩn đoán định khu tổn thương

Mức độ liệt nửa người và một số biểu hiện kèm theo có thể giúp định khu tổn thương.

  • Tổn thương vỏ não: liệt mặt trung ương cùng bên với liệt nửa người; liệt không đồng đều giữa tay và chân, không toàn bộ, không thuần túy vận động, thường kèm theo rối loạn cảm giác nửa người bên liệt.
  • Tổn thương bao trong: liệt đồng đều giữa tay và chân, liệt toàn bộ, thuần túy vận động.
  • Tổn thương đồi thị: liệt nửa người kín đáo kèm theo các rối loạn cảm giác kiểu đồi thị.
  • Tổn thương thân não:

+ Tổn thương cuống não: liệt dây III bên não bị tổn thương (sụp mi, giãn đồng tử, lác ngoài), liệt nửa người và liệt VII trung ương bên đối diện.

+ Tổn thương cầu não (hội chứng Milliard — Gubler): liệt VII ngoại biên bên não bị tổn thương và liệt nửa người bên đối diện.

PHÂN LOẠI

Trên lâm sàng thường chia tai biến mạch máu não thành hai loại chính:

  • Nhồi máu não (thiếu máu não cục bộ): trên phim CT hoặc cộng hưởng từ có hình ảnh giảm tỷ trọng vùng não bị tổn thương.
  • Xuất huyết nội sọ: trên phim CT hoặc cộng hưởng từ có hình ảnh tăng tỷ trọng tại vùng máu tụ hoặc vùng não thất có tràn máu. Xuất huyết nội sọ được chia làm hai loại:

+ Xuất huyết màng não: mạch máu tại màng não bị tổn thương, khối máu tụ nằm giữa xương sọ và màng não.

+ Xuất huyết trong não: mạch máu trong tổ chức não bị tổn thương, khối máu tụ nằm trong tổ chức não hoặc có hiện tượng tràn máu não thất.

ĐIỀU TRỊ

Xử trí cấp cứu

Khi xảy ra tai biến mạch máu não, cần thiết phải xử trí cấp cứu đối với bệnh nhân để giảm đến mức thấp nhất khả năng tử vong.Xử trí cấp cứu một bệnh nhân tai biến mạch máu não

Xử trí cấp cứu một bệnh nhân tai biến mạch máu não bao gồm các bước sau:

  • Đo, đánh giá chỉ số huyết áp. Kiểm soát huyết áp của người bệnh ở mức độ an toàn bằng các thuốc điều chỉnh huyết áp thích hợp.
  • Đánh giá tình trạng hôn mê của bệnh nhân theo thang điểm
  • Đảm bảo thông suốt đường thở, tốt nhất đặt người bệnh nằm nghiêng hoặc nằm đầu thấp. Hút đờm dãi. Thở oxy hỗ trợ bằng ổng thông mũi 2 — 5 lít/phút. Duy trì PaCO2 từ 25 – 30mmHg. Trường hợp người bệnh có nhồi máu não nặng hoảc xuất huyết não nặng, cần đặt ống nội khí quản và hô hấp hỗ trợ.
  • Theo dõi điện tim trong vòng ít nhất từ 48 đến 72 giờ, tới khi đảm bảo người bệnh không còn xuất hiện thêm các triệu chứng mới.
  • Nếu điều kiện cho phép, chụp CT Scanner sọ não hoặc MRI sọ não để đánh giá vị trí và mức độ tổn thương.
  • Kiểm soát đường huyết của người bệnh, để phòng trường hợp bệnh tiến triển nặng thêm do tăng đường huyết gây tổn thương não. Không truyền dung dịch có đường trong giai đoạn cấp của tai biến mạch máu não.
  • Đối với các trường hợp nhồi máu não: sử dụng các thuốc chống đông máu trong vòng 3 giờ sau khi xảy ra tai biến mạch máu não để hạn chế cục lấp mạch hoặc nghẽn mạch.
  • Đối với các trường hợp xuất huyết não: tuyệt đối không được sử dụng các thuốc chống đông máu vì sẽ làm cho tình trạng xuất huyết nặng thêm.
  • Trường hợp tai biến mạch máu não có hôn mê hoặc chức năng nuốt bị ảnh hưởng (nuốt sặc): nuôi dưỡng ban đầu bằng dịch truyền tĩnh mạch. Tuy nhiên, không sử dụng dung dịch có đường và dung dịch nhược trương.

Điều trị duy trì

  • Chống phù não: các rối loạn thần kinh do phù não thường xảy ra vào ngày thứ 2 hoặc ngày thứ 3 sau tai biến mạch máu não, tuy nhiên có thể xảy ra sớm hơn do nhồi máu diện rộng hoặc nhồi máu xuất huyết.

+ Nằm đầu cao 30°.

+ Hạn chế dịch truyền, chỉ dùng khoảng 1/2 — 3/4 nhu cầu bình thường.

+ Manitol 20% với liều khởi đầu lg/kg cân nặng trong 20 phút, sau đó truyền 0,25g/kg cân nặng sau 4-6 giờ. Chỉ dùng Manitol sau chảy máu não 24 giờ, dùng không quá 2g/kg/24 giờ.

+ Furosemid 1mg/kg cân nặng/24 giờ, tiêm tĩnh mạch.

  • Tim mạch:

+ Duy trì huyết áp của người bệnh ở một chỉ số thích hợp.

+ Thường xuyên theo dõi tim mạch, đề phòng trường hợp bệnh tiến triển do các bệnh tim mạch gây ra.

  • Hô hấp: đảm bảo thông suốt đường thở.

+ Đối với bệnh nhân hôn mê: hút đờm dãi, thở oxy hỗ trợ bằng ống thông mũi 0,5 – 21ít/phút, hoặc thở oxy qua nội khí quản và phương tiện hô hấp hỗ trợ. Hút đờm dãi thường xuyên.

+ Đối với bệnh nhân không hôn mê: cho người bệnh nằm nghiêng hoặc nằm đầu thấp, vỗ rung lồng ngực thường xuyên để tránh ứ đọng đờm dãi, để phòng viêm phổi do nằm lâu.

  • Dinh dưỡng và chăm sóc:

+ Trường hợp tai biến mạch máu não có hôn mê hoặc chức năng nuốt bị ảnh hưởng (nuốt sặc): đặt ống thông dạ đày để nuôi dưỡng bệnh nhân. Không đưa thức ăn qua đường miệng thông thường để tránh trường hợp sặc thức ăn vào phổi. Đối với những bệnh nhân không hôn mê: chia lượng thức ăn trong ngày thành nhiều bữa nhỏ, nên cho người bệnh ăn những thức ăn lỏng, mềm, dễ tiêu.

+ Duy trì cân bằng nước – điện giải.

+ Làm mềm phân, đề phòng trướng ruột do táo bón hoặc giảm nhu động ruột.

+ Trường hợp tiểu tiện không tự chủ: đặt ống thông Foley để tránh ứ đọng nước tiểu tại bàng quang hoặc tiểu tiện tự động gây nhiễm trùng da. Trường hợp này cần theo dõi nước tiểu thường xuyên, tránh hiện tượng nhiễm trùng tiết niệu ngược dòng. Theo dõi lượng nước tiểu hằng ngày để đảm bảo cân bằng giữa lượng nước đưa vào cơ thể với lượng nước tiểu thải ra trong ngày.

+ Đối với bệnh nhân hôn mê: giữ vệ sinh sạch sẽ, sử dụng đệm nước hoặc đệm hơi, trở mình trên giường 1- 2 giờ/lần để hạn chế loét tại các điểm tỳ đè.

+ Xoa bóp, tập vận động sớm giúp bệnh nhân phục hồi chức năng, giảm nhẹ di chứng.

  • Chống co giật hoặc động kinh: bằng các thuốc an thần (Carbamazepin, phenyltoin, lorazepam, diazepam).
  • Sử dụng kháng sinh thích hợp đề phòng chống bội nhiễm (viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu…).
  • Điều trị đặc hiệu:

+ Thiếu máu não cấp: sử dụng thuốc thuộc các nhóm sau:

. Thuốc tiêu huyết khối.

. Các loại enzym chống tạo sợi huyết: được sử dụng trong 3 giờ đầu sau đột quỵ.

. Thuốc chống đông máu: hạn chế cục máu đông và phòng ngừa tái phát.

. Thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu.

+ Xuất huyết não:

. Điều chỉnh các rối loạn đông máu (nếu có).

. Điều trị phẫu thuật: dẫn lưu não thất, lấy máu tụ. Điều trị phẫu thuật được chỉ định khi bệnh cảnh lâm sàng nặng dần, đe dọa tính mạng người bệnh; hoặc trong một số trường hợp xuất huyết chưa rõ nguyên nhân, có nguy cơ tái phát. Chống chỉ định phẫu thuật trong các trường hợp xuất huyết não lớn và mất hết các chức năng thân não.

Điều trị di chứng tai biến mạch máu não

Sau khi đã qua giai đoạn cấp cứu, các triệu chứng bệnh đã ổn định, người bệnh không còn xuất hiện thêm các triệu chứng mới, cần chuyển sang giai đoạn điều trị duy trì và phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não.

  • Trường hợp chức năng nuốt bị ảnh hưởng: duy trì dinh dưỡng bằng cách cho ăn qua ống thông dạ dày.
  • Chống táo bón.
  • Trường hợp tiểu tiện không tự chủ: đặt ống thông Foley, cần theo dõi nước tiểu thường xuyên, tránh hiện tượng nhiễm trùng tiết niệu ngược dòng.
  • Giữ vệ sinh sạch sẽ, sử dụng đệm nước hoặc đệm hơi, trở mình trên giường 1- 2 giờ/lần để hạn chế loét tại các điểm tỳ đè.
  • Chống co giật hoặc động kinh: bằng các thuốc an thần (carbamazepin, phenyltoin, lorazepam, diazepam).
  • Sử dụng thuốc thuộc các nhóm sau:

+ Điều chỉnh các rối loạn đông máu (nếu có).

+ Giúp nuôi dưỡng và phục hồi cấu trúc, chức năng tế bào thần kinh: cerebrolysin, citicoline (Cicolin, Cicostaline, Citimax).

+ cải thiện tuần hoàn não: ginkgo biloba (Giloba), Duxil, buflomedil (Beeíumethil).

  • Sử dụng kháng sinh thích hợp để chống bội nhiễm (viêm phổi, nhiễm trùng tiếl niệu…) khi cần thiết.

Dobutamin – tác dụng, chỉ định, liều dùng

Cơ chế tác dụng:

Dobutamin là một amin giao cảm tổng hợp, nó có tác dụng tăng sức co bóp cơ tim bằng cách kích thích các thụ thể β1 và α1 – adrenergic trên cơ tim. Dobutamin có kích thích các thụ thể α1 – adrenergic ngoại biên nhưng do nó bị đối kháng bởi tác dụng kích thích thụ thể β2 – adrenergic mạnh hơn, dẫn tới đáp ứng giãn mạch nhẹ. Dobutamin làm tăng cung lượng tim và giảm sức kháng mạch máu ngoại biên. ở liều thông thường (2 – 20μg/kg/phút) dobutamin ít có xu hướng gây nhịp nhanh hơn dopamin hoặc isoproterenol. Dù sao đi nữa ở liều cao hơn dobutamin vẫn gây ra đáp ứng nhịp nhanh. Dobutamin làm tăng tưới máu thận và mạc treo nhờ làm tăng cung lượng tim. Nó không thể gây ra giãn trực tiếp mạch thận và mạc treo qua các thụ thể dopaminenergic. Dù sao tác dụng tăng lượng nước tiểu và tưới máu thận là như nhau giữa dopamin và dobutamin. Tăng tưới máu thận thứ phát sau tăng cung lượng tim là một dấu hiệu rất quan trọng để đánh giá chức năng thận. Hiệu quả huyết động của dobutamin tương đương với việc dùng phối hợp dopamin với một thuốc giãn mạch như nitroprusside. Dobutamin làm tăng cung lượng tim, giảm áp lực động mạch phổi bít và sức cản ngoại biên .

Những ưu điểm của dobutamin về huyết động và tác dụng giải phóng norepinephrine nội sinh sẽ dẫn tới giảm tối thiểu nhu cầu O2 cơ tim và tạo ra một cân bằng có lợi giữa cung và cầu về O2 của cơ tim so với norepinephrine và dopamin. Tác dụng inotrope(+) cũng không được cải thiện do tăng tưới máu vành. Vì những lí do trên dobutamin không làm tăng kích thước ổ nhồi máu hoặc không gây loạn nhịp tim. Tần số tim có thể giảm khi huyết động cải thiện. Để đánh giá đáp ứng lâm sàng với dobutamin cần theo dõi huyết động trung ương trực tiếp. Người ta đã dùng kết hợp hai thuốc dopamin và dobutamin với nhau ở liều trung bình (7,5μg/kg/phút) để duy trì huyết áp động mạch và hạn chế tác dụng gây tăng áp lực động mạch phổi bít và tình trạng ứ huyết phổi của dopamin đơn độc. Sự kết hợp dopamin và dobutamin trong điều trị sẽ cải thiện đáng kể huyết động nhưng nó không làm thay đổi tỷ lệ sống sót ở bệnh nhân shock tim.

Chỉ định:

  • Dobutamin rất hữu ích trong điều trị các trường hợp ứ huyết phổi và cung lượng tim thấp cũng như là các bệnh nhân có tụt huyết áp kèm ứ huyết phổi và rối loạn chức năng thất trái mà không dùng được các thuốc giãn mạch.
  • Dobutamin được chọn để điều trị suy tim có rối loạn huyết động nặng ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC).
  • Dobutamin cũng có thể được dùng để cải thiện công thất trái ở bệnh nhân shock nhiễm trùng.

Liều lượng:

Dobutamin có thể có hiệu quả ở liều thấp ( 0,5μg/kg/phút) liều thông thường là 2-20μg/kg/phút. Dobutamin làm tăng tần số tim > 10% so với ban đầu, đó là điều cần tránh ở bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành. Trộn 2 ống (tới 4 ống) dobutamin (250mg/ống) vào 250ml dextrose 5% hoặc dung dịch muối đẳng trương. Phải truyền dobutamin qua bơm tiêm điện để đảm bảo tốc độ dòng chính xác.

Chú ý:

Dobutamin có thể gây ra nhịp nhanh, loạn nhịp và huyết áp dao động. Nó có thể gây thiếu máu cơ tim nhất là khi xuất hiện tăng nhịp tim. Các tác dụng phụ khác gồm: đau đầu, buồn nôn, run cơ và hạ kali máu

Các vấn đề về giấc ngủ ở trẻ em

Trẻ em và thanh thiếu niên cần ít nhất 9 giờ ngủ mỗi đêm. Các vấn đề về giấc ngủ và thiếu ngủ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất học tập, các hoạt động ngoại khóa và các mối quan hệ xã hội của trẻ.

Thiếu ngủ có thể gây ra:

  • Tai nạn và chấn thương
  • Vấn đề về hành vi
  • Hành vi bốc đồng
  • Các vấn đề về tâm trạng
  • Vấn đề về trí nhớ, tập trung và học tập
  • Hiệu suất kém
  • Phản ứng chậm
  • Ăn quá nhiều

    Giấc ngủ của bé
    Giấc ngủ của bé

Dấu hiệu của các vấn đề về giấc ngủ ở trẻ em

Hãy nói chuyện với bác sĩ nhi khoa nếu con bạn có bất kỳ dấu hiệu nào sau đây của vấn đề về giấc ngủ:

  • Ngáy
  • Ngừng thở trong khi ngủ
  • Khó ngủ
  • Vấn đề về giấc ngủ suốt đêm
  • Khó tỉnh táo vào ban ngày
  • Giảm hiệu suất không giải thích được vào ban ngày
  • Các hiện tượng bất thường khi ngủ như mộng du hoặc ác mộng
  • Nghiến răng
  • Đái dầm
  • Giấc ngủ không yên
  • Khó thức dậy vào buổi sáng

Mẹo cải thiện giấc ngủ cho trẻ

  • Đặt giờ đi ngủ cố định mỗi đêm và không thay đổi giờ đó. Đừng khuyến khích việc ngủ nướng vào cuối tuần. Giờ thức dậy không nên khác nhau quá 1 đến 1 ½ giờ.
  • Tạo thói quen trước khi đi ngủ giúp thư giãn, chẳng hạn như tắm nước ấm hoặc đọc truyện cho trẻ.
  • Không cho trẻ ăn hoặc uống bất kỳ thực phẩm hay đồ uống có chứa caffeine ít hơn 6 giờ trước khi đi ngủ.
  • Đảm bảo nhiệt độ trong phòng ngủ thoải mái và phòng ngủ tối.
  • Đảm bảo tiếng ồn trong nhà thấp.
  • Tránh cho trẻ ăn bữa lớn sát giờ đi ngủ.
  • Biến giờ chơi sau bữa tối thành thời gian thư giãn, vì quá nhiều hoạt động sát giờ ngủ có thể khiến trẻ khó ngủ.
  • Không để trẻ xem TV, sử dụng máy tính, điện thoại di động, radio hoặc nghe nhạc khi ngủ. TV và trò chơi điện tử nên được tắt ít nhất 1 giờ trước khi đi ngủ.
  • Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nên được đặt vào giường khi chúng có dấu hiệu mệt nhưng vẫn còn tỉnh (thay vì để trẻ ngủ trên tay hoặc ở phòng khác). Tránh nằm chung giường với trẻ để giúp chúng ngủ.
  • Hãy nói chuyện với nhà cung cấp dịch vụ y tế của con bạn nếu những mẹo này không hiệu quả hoặc nếu bạn cần thêm hướng dẫn

Nguyên Nhân Gây Ra Hen Suyễn?

Cách Cơn Hen Suyễn Xảy Ra

Hen suyễn là một bệnh viêm mãn tính của đường hô hấp. Mặc dù không ai thực sự biết nguyên nhân chính xác gây ra hen suyễn, nhưng các nguyên nhân có thể khác nhau giữa các cá nhân. Điều nhất quán là khi đường hô hấp tiếp xúc với một yếu tố kích thích, chúng sẽ bị viêm, hẹp lại và tích tụ nhiều chất nhầy.

Khi bạn gặp phải một cơn hen suyễn, đường hô hấp của bạn sẽ bị hẹp và bạn sẽ cảm thấy khó thở. Điều này có thể xảy ra do co thắt các cơ xung quanh đường hô hấp, viêm và sưng của lớp màng nhầy bao quanh chúng, hoặc sự tích tụ quá nhiều chất nhầy bên trong. Bạn có thể cảm thấy khó thở, khò khè hoặc ho khi cơ thể cố gắng loại bỏ chất nhầy.

Tại sao bạn bị hen suyễn mà bạn bè bạn thì không? Không ai có thể chắc chắn. Dị ứng đóng vai trò quan trọng đối với nhiều người, cũng như yếu tố di truyền.

Nếu bạn hoặc người thân bị hen suyễn, điều quan trọng là phải hiểu các yếu tố kích thích của bạn là gì. Khi bạn xác định được điều đó, bạn có thể thực hiện các bước để tránh chúng. Kết quả là, bạn sẽ có ít cơn hen suyễn hơn và cơn hen suyễn sẽ ít nghiêm trọng hơn.

Các Yếu Tố Kích Thích Cơn Hen Suyễn

Một số yếu tố kích thích cơn hen suyễn đã biết bao gồm:

  • Dị ứng
  • Thực phẩm và phụ gia thực phẩm
  • Tập thể dục
  • Ợ nóng
  • Hút thuốc
  • Viêm xoang
  • Thuốc
  • Thời tiết
  • Khói

Dị Ứng Có Thể Gây Ra Hen Suyễn

Dị ứng kết hợp với hen suyễn là một vấn đề phổ biến. Tám mươi phần trăm người mắc hen suyễn có dị ứng với các yếu tố trong không khí, như phấn hoa cây, cỏ và cỏ dại; nấm mốc; vảy động vật; bọ ve bụi; và phân gián. Trong một nghiên cứu, trẻ em sống trong môi trường có mức độ phân gián cao có nguy cơ mắc hen suyễn trẻ em cao gấp bốn lần so với trẻ em sống trong môi trường có mức độ phân gián thấp. Dị ứng với bọ ve bụi cũng là một yếu tố kích thích hen suyễn phổ biến.

Nếu bạn có triệu chứng hen suyễn khó kiểm soát, hãy đến gặp bác sĩ chuyên khoa dị ứng để kiểm tra xem bạn có bị dị ứng không. Điều trị dị ứng của bạn bằng thuốc và tránh các yếu tố kích thích có thể giúp giảm khả năng gặp phải một cơn hen suyễn nghiêm trọng.

Chữa hen suyễn tại nhà hiệu quả
Chữa hen suyễn tại nhà hiệu quả

Thực Phẩm và Phụ Gia Thực Phẩm Kích Thích Hen Suyễn

Dị ứng thực phẩm có thể gây ra phản ứng từ nhẹ đến nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng. Chúng hiếm khi gây ra hen suyễn mà không có các triệu chứng khác. Nếu bạn có dị ứng thực phẩm, hen suyễn có thể là một phần của phản ứng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng được gọi là sốc phản vệ. Các thực phẩm phổ biến có liên quan đến triệu chứng dị ứng bao gồm:

  • Trứng
  • Sữa bò
  • Đậu phộng
  • Các loại hạt cây
  • Đậu nành
  • Lúa mì
  • Tôm và các loại hải sản khác
  • Salad
  • Trái cây tươi

Các chất bảo quản thực phẩm có thể kích thích hen suyễn riêng biệt, đặc biệt là các phụ gia sulfite, như natri bisulfite, kali bisulfite, natri metabisulfite, kali metabisulfite và natri sulfite, thường được sử dụng trong chế biến hoặc chuẩn bị thực phẩm.

Hen Suyễn Do Tập Thể Dục

Đối với khoảng 80% người bị hen suyễn, một bài tập thể dục nặng có thể khiến đường hô hấp bị hẹp lại. Tập thể dục thường là yếu tố kích thích hen suyễn chính. Nếu bạn bị hen suyễn do tập thể dục, bạn sẽ cảm thấy chặt ngực, ho và khó thở trong vòng 5 đến 15 phút đầu của một buổi tập thể dục aerobic. Đối với hầu hết mọi người, các triệu chứng này sẽ giảm trong 30 đến 60 phút tiếp theo khi tập thể dục. Nhưng lên tới 50% người bị hen suyễn do tập thể dục có thể gặp phải một cơn tấn công khác từ 6 đến 10 giờ sau đó. Khởi động chậm có thể giúp ngăn chặn điều này.

Nếu bạn bị hen suyễn nghiêm trọng và hiện không hoạt động, hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn trước về cách theo dõi hơi thở của bạn và chọn các hoạt động phù hợp. Vào mùa đông, tránh tập thể dục ngoài trời trong thời tiết rất lạnh vì sự tiếp xúc có thể kích thích hen suyễn.

Ợ Nóng và Hen Suyễn

Ợ nóng nghiêm trọng và hen suyễn thường xảy ra cùng nhau. Lên tới 89% người bị hen suyễn cũng bị ợ nóng nghiêm trọng (bạn có thể nghe bác sĩ gọi nó là bệnh trào ngược dạ dày thực quản, hay GERD). Điều này thường xảy ra vào ban đêm khi bạn nằm xuống. Thông thường, một van ngăn chặn axit dạ dày không trào ngược vào thực quản (ống thực phẩm đi xuống khi bạn ăn). Khi bạn bị GERD, van này không hoạt động như nó nên. Axit dạ dày của bạn sẽ trào ngược hoặc quay lại vào thực quản. Nếu axit lên đến họng hoặc đường hô hấp của bạn, sự kích thích và viêm mà chúng gây ra có thể kích thích một cơn hen suyễn.

Các dấu hiệu gợi ý rằng trào ngược là nguyên nhân gây ra hen suyễn bao gồm việc bắt đầu bị hen suyễn ở tuổi trưởng thành, không có tiền sử gia đình bị hen suyễn, không có tiền sử dị ứng hoặc viêm phế quản, hen suyễn khó kiểm soát, hoặc ho khi nằm xuống.

Nếu bác sĩ của bạn nghi ngờ vấn đề này, họ có thể đề nghị các xét nghiệm cụ thể để kiểm tra, thay đổi thực phẩm của bạn hoặc cung cấp thuốc.

Hút Thuốc và Hen Suyễn

Những người hút thuốc lá có khả năng bị hen suyễn cao hơn. Nếu bạn hút thuốc trong khi bị hen suyễn, nó có thể làm triệu chứng như ho và khò khè trở nên tồi tệ hơn. Phụ nữ hút thuốc trong thời kỳ mang thai làm tăng nguy cơ khò khè ở trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh có mẹ hút thuốc trong thời kỳ mang thai cũng có chức năng phổi kém hơn. Nếu bạn bị hen suyễn và là một người hút thuốc, việc bỏ thuốc lá là bước quan trọng nhất bạn có thể thực hiện để bảo vệ phổi của mình.

Viêm Xoang và Các Nhiễm Trùng Đường Hô Hấp Trên

Cũng giống như hen suyễn gây viêm lớp niêm mạc của đường hô hấp, viêm xoang gây viêm ở các màng nhầy lót bên trong xoang. Điều này khiến các màng nhầy sản xuất nhiều chất nhầy hơn. Nếu bạn bị hen suyễn và xoang bị viêm, đường hô hấp của bạn cũng có thể bị ảnh hưởng. Việc điều trị kịp thời một nhiễm trùng xoang có thể làm giảm triệu chứng hen suyễn.

Nhiễm Trùng và Hen Suyễn

Cảm cúm, cảm lạnh, viêm phế quản và viêm xoang có thể gây ra một cơn hen suyễn. Những nhiễm trùng đường hô hấp này có thể là do virus hoặc vi khuẩn. Chúng là nguyên nhân phổ biến gây hen suyễn, đặc biệt ở trẻ em dưới 10 tuổi. Bạn có thể có khả năng cao gặp phải một cơn hen suyễn trong vòng 2 tháng sau khi mắc một nhiễm trùng đường hô hấp trên. Từ 20% đến 70% người lớn mắc hen suyễn cũng bị bệnh xoang. Ngoài ra, từ 15% đến 56% người bị viêm mũi dị ứng (cảm cúm theo mùa) hoặc viêm xoang cũng có dấu hiệu của hen suyễn.

Thuốc và Hen Suyễn

Nhiều người bị hen suyễn nhạy cảm với một số loại thuốc có thể gây ra cơn hen suyễn. Nếu bạn bị hen suyễn, bạn cần phải biết các loại thuốc khác có thể là yếu tố kích thích. Bạn không cần phải tránh những loại thuốc này trừ khi bạn biết chúng là yếu tố kích thích. Nhưng nếu chúng chưa bao giờ gây ra cơn hen suyễn cho bạn, vẫn tốt nhất là nên dùng chúng một cách cẩn thận vì phản ứng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Dưới đây là danh sách các loại thuốc phổ biến nhất được biết đến là có thể kích thích hen suyễn hoặc triệu chứng liên quan. Tuy nhiên, nếu bạn được kê đơn bất kỳ loại thuốc nào mà bạn nghĩ có thể khiến hen suyễn của bạn trở nên tồi tệ hơn, hãy thảo luận với bác sĩ của bạn.

  • Aspirin và các loại thuốc giảm đau khác. Khoảng 10% đến 20% người bị hen suyễn nhạy cảm với aspirin hoặc một nhóm thuốc giảm đau được gọi là thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) như ibuprofen và naproxen. Những loại thuốc này thường được sử dụng để điều trị đau và giảm sốt. Các cơn hen suyễn gây ra bởi bất kỳ loại thuốc nào trong số này có thể nghiêm trọng và thậm chí gây tử vong, vì vậy những người có hen suyễn nhạy cảm với aspirin nên hoàn toàn tránh xa chúng. Các sản phẩm chứa acetaminophen thường được coi là an toàn cho những người bị hen suyễn, nhưng bạn vẫn nên nói chuyện với bác sĩ về việc có nên sử dụng chúng hay không. Đối với một số người, có khả năng nhỏ rằng acetaminophen có thể kích thích một cơn hen suyễn.
  • Beta-blockers. Beta-blockers là các loại thuốc thường được kê đơn để điều trị các vấn đề về tim, huyết áp cao, đau nửa đầu, và trong dạng thuốc nhỏ mắt, bệnh glaucom. Bác sĩ của bạn phải xác định sự cần thiết của những loại thuốc này, và bạn có thể thử một vài liều để xem chúng có ảnh hưởng đến hen suyễn của bạn không. Điều quan trọng là bạn phải thông báo cho tất cả các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe rằng bạn bị hen suyễn, bao gồm cả bác sĩ mắt của bạn. Một số ví dụ về beta-blockers là Corgard, Inderal, Normodyne, Pindolol, và Trandate.
  • ACE inhibitors. Đây là các loại thuốc được sử dụng để điều trị bệnh tim và huyết áp cao. Những loại thuốc này có thể gây ho cho khoảng 10% bệnh nhân sử dụng chúng. Cơn ho này không nhất thiết là hen suyễn. Nhưng nó có thể bị nhầm lẫn với hen suyễn hoặc, trong trường hợp đường hô hấp không ổn định, có thể thực sự kích thích hiện tượng khò khè và chặt ngực. Nếu bạn được kê đơn một ACE inhibitor và phát triển cơn ho, hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn. Một số ACE inhibitors là Accupril, Aceon, Altace, Captopril, Lotensin, Mavik, Monopril, Prinivil, Tarka, Univasc, Vasotec và Zestril.

Nếu bạn bị hen suyễn nghiêm trọng, hãy nói chuyện với bác sĩ về bất kỳ loại thuốc nào bạn đang cân nhắc dùng, ngay cả khi đó là thuốc không cần kê đơn. Nếu bạn biết mình nhạy cảm với các loại thuốc cụ thể, hãy đảm bảo bác sĩ của bạn ghi chú vấn đề này trong hồ sơ của bạn. Luôn luôn nói chuyện với dược sĩ về phản ứng này trước khi bạn bắt đầu một loại thuốc mới.

Các Yếu Tố Kích Thích Khác Gây Hen Suyễn

  • Chất kích thích. Khói thuốc lá, khói từ các thiết bị đốt gỗ hoặc lò sưởi, mùi mạnh từ nước hoa, chất tẩy rửa, v.v., đều có thể kích thích hen suyễn. Ô nhiễm không khí, bụi tại nơi làm việc hoặc hơi hóa chất cũng có thể gây ra vấn đề.
  • Thời tiết. Không khí lạnh, thay đổi nhiệt độ và độ ẩm có thể gây ra cơn hen suyễn.
  • Cảm xúc mạnh. Căng thẳng và hen suyễn thường xảy ra cùng nhau. Lo âu, khóc, la hét, căng thẳng, tức giận hoặc cười to đều có thể gây ra một cơn hen suyễn.

Các Yếu Tố Kích Thích Làm Tình Trạng Hen Suyễn Tồi Tệ Hơn

Khi bạn bị hen suyễn, đường hô hấp của bạn luôn bị viêm và nhạy cảm. Chúng phản ứng với nhiều yếu tố kích thích bên ngoài khác nhau. Sự tiếp xúc với các yếu tố kích thích này là nguyên nhân gây ra triệu chứng hen suyễn. Đường hô hấp của bạn thắt chặt và bị viêm nhiều hơn, chất nhầy chặn chúng lại, và triệu chứng của bạn trở nên tồi tệ hơn. Một cơn hen suyễn có thể bắt đầu ngay sau khi tiếp xúc với một yếu tố kích thích hoặc vài ngày hoặc thậm chí tuần sau đó.

Phản ứng với các yếu tố kích thích hen suyễn khác nhau giữa mỗi người và thay đổi theo thời gian. Một điều gì đó có thể gây khó chịu cho bạn nhưng không gây khó chịu cho người khác mắc hen suyễn. Bạn có thể có nhiều yếu tố kích thích trong khi họ không có. Và trong khi tránh các yếu tố kích thích là cách tốt để kiểm soát hen suyễn, cách tốt nhất là dùng thuốc và tuân theo điều trị đúng như được bác sĩ kê trong kế hoạch hành động cho hen suyễn của bạn.

Làm Thế Nào Tôi Có Thể Biết Nguyên Nhân và Các Yếu Tố Kích Thích Gây Hen Suyễn Của Tôi?

Xác định những gì xảy ra xung quanh bạn khi bạn bị cơn hen là bước đầu tiên để xác định các yếu tố kích thích của bạn.

Bác sĩ của bạn cũng có thể thực hiện xét nghiệm máu hoặc yêu cầu bạn sử dụng một thiết bị gọi là máy đo lưu lượng đỉnh. Nó đo lượng không khí bạn thở ra và tốc độ mà nó thoát ra. Nó có thể cảnh báo bạn về những thay đổi trong hơi thở và sự khởi phát của triệu chứng hen suyễn.

Hãy hỏi bác sĩ hen suyễn của bạn xem việc sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh có thể giúp bạn thu hẹp nguyên nhân gây hen suyễn của bạn hay không.

Việc xác định tất cả các yếu tố kích thích có thể khó khăn, và chúng có thể thay đổi. Ví dụ, bạn có thể không bị khó chịu với phấn hoa cây khi còn nhỏ, nhưng lại có vấn đề với nó khi trưởng thành.

Ngay cả khi bạn biết các yếu tố kích thích của mình, bạn có thể gặp khó khăn trong việc tránh chúng trong một số tình huống nhất định. Ví dụ, bạn có thể nhận thấy rằng nơi làm việc của bạn được dọn dẹp bằng một sản phẩm tẩy rửa khiến phổi bạn khó chịu.

Đó là lý do tại sao việc làm việc chặt chẽ với bác sĩ điều trị hen suyễn của bạn là rất quan trọng. Họ có thể giúp bạn nghĩ ra các chiến lược để tránh các yếu tố kích thích, hoặc ít nhất là giảm thời gian bạn tiếp xúc với chúng. Họ cũng có thể đảm bảo rằng bạn có thuốc phù hợp khi cơn hen suyễn xảy ra.

Biết Khi Nào Cần Được Giúp

Các dấu hiệu cảnh báo của một cơn hen suyễn tiềm ẩn bao gồm:

  • Cần nhiều thuốc hít cấp cứu hơn (như albuterol).
  • Một cơn ho trở nên tồi tệ hơn.
  • Cảm giác như bạn không thể thở hoặc như có ai đó đang ngồi lên ngực bạn.
  • Thức dậy vào ban đêm cảm giác như không thể thở.
  • Không thể hoạt động hoặc tập thể dục mà không bị hụt hơi hoặc khò khè.

Sử dụng thuốc hít cấp cứu của bạn ngay khi bạn bắt đầu cảm thấy một cơn hen xuất hiện. Nếu nó dường như không hiệu quả và bạn cảm thấy như mình vẫn không thể thở, hãy gọi 115 để bạn có thể đến phòng cấp cứu ngay lập tức.

Nếu bạn có thuốc steroid ở nhà (như prednisone), bạn có thể dùng nó trong khi trên đường đến bệnh viện.

Bệnh tê phù ở trẻ em – Biểu hiện, nguyên nhân, cách phòng tránh

Biểu hiện:

Trẻ chán ăn, ăn ngày càng ít, rất hay quấy khóc. Có khi khóc đột ngột như có ai “véo”, thường đau nhức các cơ. Trẻ lười hoạt động, hay mệt mỏi, không thích chơi đùa. Đây chính là biểu hiện của thiếu vitamin B1 Trẻ thiếu vitamin B1 trong thời gian dài sẽ dẫn đến tê phù, viêm cơ, suy tim… có thể dẫn đến tử vong.

Nguyên nhân:

Bệnh thường gặp ở những nước ăn nhiều gạo như nước ta. Bệnh có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn. Những người thường xuyên ăn gạo xay xát quá trắng hoặc gạo mốc, mọt hay trẻ em ăn bột quá trắng, đường quá trắng cũng là nguyên nhân gây thiếu vitamin B, dẫn đến tê phù.

Trẻ em có thể bị thiếu vitamin B, ở bất cứ lứa tuổi nào. Trong vòng 6 tháng đầu sau khi sinh, trẻ cũng có thể bị thiếu vitamin B1. Nguyên nhân do các bà mẹ ăn uống thiếu chất, bữa ăn nghèo nàn và chất lượng gạo kém. Cho nên, trong sữa thiếu vitamin B1.

Trẻ ăn nhiều đường cũng dễ bị thiếu vitamin B1.

Cách chăm sóc và phòng tránh:

Ngay từ khi mang thai và cho con bú, người mẹ phải có chế độ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng. Tốt nhất, nên ăn gạo mới, tránh ăn gạo mốc, gạo trắng quá.

Trẻ ở tuổi ăn dặm, không nên cho trẻ ăn bột quá trắng, đường trắng mà ít cho trẻ ăn các loại rau, quả, thịt… Cho trẻ ăn quá nhiều đường cũng dễ gây thiếu vitamin B1.

Cho trẻ ăn nhiều hoa quả như: chuối, na, hồng xiêm… có tác dụng tốt để phòng chống thiếu vitamin B1. Ngoài ra, gạo nếp lên men (rượu nếp) cũng là loại thức ăn có chứa nhiều vitamin B1.

Thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc axit folic

Thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc B9 (thường được gọi là axit folic) xảy ra khi thiếu vitamin B12 hoặc axit folic khiến cơ thể sản xuất các tế bào hồng cầu lớn bất thường không thể hoạt động đúng cách.

Các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy trong cơ thể bằng cách sử dụng một chất gọi là hemoglobin.

Thiếu máu là thuật ngữ chung để chỉ tình trạng có ít tế bào hồng cầu hơn bình thường hoặc có lượng hemoglobin bất thường thấp trong mỗi tế bào hồng cầu.

Triệu chứng của thiếu vitamin B12 hoặc axit folic

Vitamin B12 và axit folic thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể, bao gồm duy trì sức khỏe của hệ thần kinh.

Thiếu một trong hai vitamin này có thể gây ra nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm:

  • Cực kỳ mệt mỏi
  • Thiếu năng lượng
  • Cảm giác tê chân tay
  • Lưỡi đau và đỏ
  • Loét miệng
  • Yếu cơ
  • Vấn đề với thị lực
  • Các vấn đề tâm lý, có thể từ trầm cảm nhẹ hoặc lo âu đến nhầm lẫn và sa sút trí tuệ
  • Các vấn đề về trí nhớ, khả năng hiểu biết và phán đoán

    Mệt mỏi do thiếu máu
    Mệt mỏi do thiếu máu

Một số vấn đề này cũng có thể xảy ra nếu bạn thiếu vitamin B12 hoặc axit folic nhưng không bị thiếu máu.

Khi nào nên gặp bác sĩ

Hãy gặp bác sĩ nếu bạn nghĩ rằng mình có thể bị thiếu vitamin B12 hoặc axit folic.

Các tình trạng này thường có thể được chẩn đoán dựa trên triệu chứng của bạn và kết quả của một xét nghiệm máu.

Việc chẩn đoán và điều trị thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc axit folic càng sớm càng tốt là rất quan trọng.

Điều này là do mặc dù nhiều triệu chứng sẽ cải thiện với điều trị, nhưng một số vấn đề do tình trạng này gây ra có thể không thể hồi phục.

Nguyên nhân gây thiếu vitamin B12 hoặc axit folic

Có một số vấn đề có thể dẫn đến thiếu vitamin B12 hoặc axit folic.

Những nguyên nhân này bao gồm:

  • Thiếu máu ác tính – nơi hệ miễn dịch của bạn tấn công các tế bào khỏe mạnh trong dạ dày, ngăn cản cơ thể bạn hấp thụ vitamin B12 từ thực phẩm bạn ăn; đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây thiếu vitamin B12 ở Vương quốc Anh.
  • Thiếu các vitamin này trong chế độ ăn uống của bạn – điều này hiếm gặp, nhưng có thể xảy ra nếu bạn ăn chế độ thuần chay và không bổ sung vitamin B12 hoặc không ăn các thực phẩm được tăng cường vitamin B12, theo chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt hoặc có chế độ ăn uống kém trong thời gian dài.
  • Thuốc – một số loại thuốc, bao gồm thuốc chống co giật và thuốc ức chế bơm proton (PPIs), có thể ảnh hưởng đến lượng vitamin mà cơ thể bạn hấp thụ.

Cả thiếu vitamin B12 và thiếu axit folic đều phổ biến hơn ở người cao tuổi, ảnh hưởng đến khoảng 1 trong 10 người từ 75 tuổi trở lên và 1 trong 20 người từ 65 đến 74 tuổi.

Điều trị thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc axit folic

Hầu hết các trường hợp thiếu vitamin B12 và axit folic có thể được điều trị dễ dàng bằng cách tiêm hoặc uống viên để thay thế các vitamin bị thiếu.

Các chất bổ sung vitamin B12 thường được tiêm trước.

Sau đó, tùy thuộc vào việc tình trạng thiếu B12 của bạn có liên quan đến chế độ ăn uống hay không, bạn sẽ cần uống viên B12 giữa các bữa ăn hoặc tiêm định kỳ.

Điều trị có thể kéo dài cho đến khi mức độ vitamin B12 của bạn cải thiện hoặc bạn có thể cần điều trị suốt đời.

Viên axit folic được sử dụng để phục hồi mức độ axit folic. Những viên này thường cần được uống trong 4 tháng.

Trong một số trường hợp, cải thiện chế độ ăn uống có thể giúp điều trị tình trạng này và ngăn ngừa tái phát.

Vitamin B12 có trong thịt, cá, trứng, sản phẩm từ sữa và các thực phẩm được tăng cường đặc biệt.

Các nguồn axit folic tốt bao gồm rau xanh, chẳng hạn như bông cải xanh, bắp cải bruxen và đậu Hà Lan.

Biến chứng của thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc axit folic

Mặc dù hiếm gặp, thiếu vitamin B12 hoặc axit folic (có hoặc không có thiếu máu) có thể dẫn đến biến chứng, đặc biệt nếu bạn đã bị thiếu vitamin B12 hoặc axit folic trong một thời gian dài.

Các biến chứng tiềm tàng có thể bao gồm:

  • Vấn đề với hệ thần kinh
  • Vô sinh tạm thời
  • Các bệnh tim
  • Biến chứng thai kỳ và dị tật bẩm sinh

Người lớn bị thiếu máu nặng cũng có nguy cơ phát triển suy tim.

Một số biến chứng cải thiện với điều trị thích hợp, nhưng những vấn đề như tổn thương hệ thần kinh đôi khi có thể là vĩnh viễn.

Gãy xương hàm trên

Là tổn thương gãy, làm mất sự liên tục của xương hàm trên.

I.       NGUYÊN NHÂN

  • Tai nạn giao thông.
  • Tai nạn lao động
  • Tai nạn sinh hoạt

II.        CHẨN ĐOÁN

  1. Chẩn đoán xác định
  • Gãy một phần

– Gãy cành lên xương hàm trên

+  Bầm tím góc trong mắt, sờ thấy có điểm đau chói hoặc hơi lõm nơi tổn thương.

+  Chảy máu mũi.

+ Có thể có chảy nước mắt do tắc ống lệ.

+ X-quang: CT Scanner, mặt nghiêng, Blondeau. Thấy hình ảnh đường gãy vùng cành lên xương hàm trên.

– Gãy hoặc lún thành trước xoang hàm

+  Chảy máu mũi.

+ Bầm tím bờ dưới ổ mắt.

+ Có thể tê bì ở má bên tổn thương.

+  Ấn vào vùng hố nanh có điểm đau chói hoặc có thể thấy tiếng lạo xạo, dấu hiệu vỡ nhiều mảnh.

+ X quang: CT Scanner, Blondeau, Hirzt: Thấy hình ảnh tổn thương thành trước xoang, mờ xoang hàm.

– Gãy bờ dưới ổ mắt và sàn ổ mắt

+  Chảy máu mũi.

+ Xuất huyết kết mạc mi dưới.

+  Tê bì vùng má, có thể có dấu hiệu nhìn song thị.

+  Mắt lõm.

+ Sờ bờ dưới hốc mắt thấy điểm đau chói hoặc có thể thấy khuyết bậc thang.

+ X-quang: CT Scanner Blondeau: thấy hình ảnh tổn thương bờ dưới ổ mắt.

– Gãy mỏm khẩu cái và vòm khẩu cái

+  Chảy máu miệng, máu mũi, sặc khi ăn.

+  Bịt mũi khi bệnh nhân thở hơi thoát ra ở miệng.

+ X quang: CT Scanner: thấy hình ảnh tổn thương mỏm khẩu cái.

  • Gãy toàn bộ

Bệnh nhân có thể bị choáng, hoặc kèm chấn thương sọ não. Tùy đường gãy mà có các biểu hiện tại chỗ khác nhau.

  • Gãy dọc

Lâm sàng

+ Chảy máu mũi, miệng.

+  Khớp cắn sai.

+  Khe giữa hai răng cửa giữa hoặc răng cửa bên rộng ra.

+ Dọc giữa vòm miệng thấy đường bầm tím hoặc rách niêm mạc.

+ Khám xương hàm trên thấy di động.

– X quang : CT Scanner, Blondeau, Belot hàm trên: có hình ảnh tổn thương dọc giữa hay dọc bên xương hàm trên.

  • Gãy ngang Có 3 thể gãy

Gãy Lefort I

+  Bầm tím môi trên và nghách lợi.

+  Khớp cắn sai, há miệng hạn chế.

+ Đau khi ấn dọc từ gai mũi trước đến lồi củ xương hàm trên.

+ Di động xương hàm trên khi khám.

+ X-quang: CT Scanner, phim mặt thẳng và nghiêng: có hình ảnh đường gãy ngang qua trên cuống răng. Gãy 1/3 dưới chân bướm.

Gãy Lefort II

+ Mặt sưng nề, tụ máu màng tiếp hợp và ổ mắt hai bên.

+ Chảy máu tươi qua mũi.

+  Khớp cắn sai.

+ Có dấu hiệu di động xương hàm trên.

+ X quang: CT scanner, phim mặt thẳng và nghiêng, Blondeau: có hình ảnh đường gãy qua giữa xương chính mũi qua mỏm lên xương hàm trên, qua xương lệ ra ngoài cắt bờ dưới hốc mắt cạnh hoặc qua lỗ dưới ổ mắt, cắt qua 1/3 giữa xương chân bướm ngoài. Có hình ảnh mờ xoang hàm.

Gãy Lefort III

+  Mặt phù nề to, bầm tím quanh hốc mắt hai bên, tụ máu màng tiếp hợp, song thị.

+ Khớp cắn sai, tầng giữa mặt bị đẩy tụt và ra sau xuống dưới.

+ Có thể sở thấy các đầu xương di lệch.

+ X quang: Tư thế mặt thẳng, nghiêng, Blondeau, Hizt hoặc C.T. Scaner : có hình ảnh đường gãy qua xương chính mũi sát chỗ nối trán – mũi đến mỏm lên  xương hàm trên, cắt qua 1/3 trên xương chân bướm ngoài. Cắt rời xương tiếp gò má.

  1. Chẩn đoán phân biệt

Gãy xương hàm trên luôn có các triệu chứng lâm sàng và X quang rõ rệt nên không cần chẩn đóan phân biệt. Lưu ý : phát hiện các trường hợp có chấn thương sọ não kèm theo để xử trí thích hợp.

IV. ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM TRÊN

Nguyên tắc

  • Nắn chỉnh lại xương gãy.
  • Cố định xương gãy.
  • Ngăn ngừa các biến chứng xảy
  • Điều trị phải phục hồi chức năng và thẩm mỹ.

Điều trị cụ thể

Điều trị bằng phẫu thuật treo xương hàm trên.

  • Dùng bút chuyên dụng vẽ thiết kế các đường rạch trên
  • Rạch da đuôi cung mày.
  • Nắn chỉnh và cố định

+ Dùng dụng cụ thích hợp nắn chỉnh các đầu xương gãy về vị trí giải phẫu.

+ Cố định 2 hàm đúng khớp cắn bằng cung Tigeursted, hoặc nút Ivy, hoặc vít neo chặn.

+ Treo xương hàm trên vào mấu ngoài ổ mắt

  • Cầm máu.
  • Khâu đóng phần mềm theo các lớp giải phẫu

Điều trị bằng phẫu thuật kết hợp xương hàm trên bằng nẹp vít

  • Dùng bút chuyên dụng vẽ thiết kế các đường rạch trên da và niêm mạ

+ Đường rạch ngách tiền đình hàm trên cách ranh giới lợi dính khoảng 3 mm để kết hợp xương ở trụ gò má và trụ hàm trên.

+ Đường rạch qua đuôi cung mày để kết hợp máu ngoài ổ mắt.

+ Đường dưới mi dưới để kết hợp bờ dưới ổ mắt.

– Nắn chỉnh và cố định.

+ Dùng dụng cụ thích hợp nắn chỉnh các đầu xương gãy về vị trí giải phẫu.

+ Cố định 2 hàm đúng khớp cắn bằng cung Tigeursted, hoặc nút Ivy, hoặc vít neo chặn.

+ Kết hợp xương hàm trên bằng nẹp vít

  • Cầm máu.
  • Khâu đóng phần mềm theo các lớp giải phẫu

V TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG

  1. Tiên lượng
    • Điều trị sớm và đúng nguyên tắc sẽ cho kết quả tốt
    • Điều trị muộn và sai nguyên tắc có thể gây ra tai biến, di chứng trầm trọng, làm ảnh hưởng đến chức năng, thẩm mỹ.
  2. Biến chứng
    • Nhiễm trùng.
    • Khớp cắn
    • Hạn chế há miệng

VI.     PHÒNG BỆNH

  • Các biện pháp đề phòng tai nạn giao thông.
  • Có các phương tiện bảo hộ trong các trường hợp tai nạn giao thông và lao động

Thuốc Acthar Gel

Các chỉ định sử dụng, tác dụng phụ, liều lượng và tương tác thuốc của Achthar

Tên thương hiệu: Achthar

Tên chung: repository corticotropin

Achthar là gì và được sử dụng để làm gì?

Acthar Gel (repository corticotropin) là một loại thuốc theo đơn được sử dụng để điều trị chứng co thắt ở trẻ sơ sinh ở trẻ em dưới 2 tuổi. Nó cũng được sử dụng để điều trị bệnh đa xơ cứng (MS) ở người lớn.

Acthar Gel có thể được sử dụng cho các rối loạn và bệnh sau:

  • Thấp khớp
  • Bệnh liên quan đến collagen
  • Bệnh da liễu
  • Trạng thái dị ứng
  • Bệnh mắt
  • Bệnh hô hấp
  • Tình trạng phù nề

Cảnh báo

Acthar Gel có tính miễn dịch. Dữ liệu có sẵn hạn chế cho thấy bệnh nhân có thể phát triển kháng thể với Acthar Gel sau khi sử dụng kéo dài và mất hoạt tính ACTH nội sinh. Việc sử dụng Acthar Gel kéo dài có thể làm tăng nguy cơ phản ứng quá mẫn. Các trường hợp sốc phản vệ đã được báo cáo trong bối cảnh sau khi tiếp thị. Sử dụng ở bệnh nhân nhạy cảm với protein lợn là chống chỉ định, và khả năng nhạy cảm nên được xem xét trong quá trình điều trị nếu các triệu chứng xuất hiện.

Tác dụng phụ của Achthar là gì?

Acthar Gel có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm:

  • Acthar Gel có thể làm nặng thêm một số tình trạng y tế khác, chẳng hạn như tiểu đường (có thể làm tăng đường huyết).
  • Vấn đề về mắt. Trẻ của bạn có thể bị đục thủy tinh thể, tăng áp lực trong mắt (glaucoma) và có thể tổn thương dây thần kinh thị giác nếu được điều trị bằng Acthar Gel trong thời gian dài.
  • Phản ứng dị ứng với Acthar Gel. Trẻ của bạn có thể có phản ứng dị ứng với Acthar Gel. Phản ứng dị ứng có thể không xảy ra cho đến khi trẻ của bạn đã nhận nhiều lần tiêm Acthar Gel. Hãy báo cho bác sĩ ngay lập tức nếu trẻ của bạn có bất kỳ dấu hiệu nào sau đây của phản ứng dị ứng:
    • Phát ban da
    • Sưng mặt, lưỡi, môi hoặc họng
    • Khó thở
  • Thay đổi trong sự phát triển và phát triển thể chất. Acthar Gel có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và phát triển thể chất của trẻ, có thể làm yếu xương của trẻ. Điều này có khả năng xảy ra nhiều hơn với việc sử dụng Acthar Gel lâu dài.
  • Tăng kích thước tim. Acthar Gel có thể gây tăng kích thước của tim trẻ. Điều này có khả năng xảy ra nhiều hơn với việc sử dụng Acthar Gel lâu dài nhưng thường biến mất sau khi ngừng sử dụng Acthar Gel.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của Acthar Gel cho bệnh nhân bị co thắt ở trẻ sơ sinh bao gồm:

  • Nhiễm trùng
  • Co thắt cơ không thể kiểm soát (co giật)
  • Tăng huyết áp
  • Cáu kỉnh và thay đổi hành vi
  • Sốt

Đây không phải là tất cả các tác dụng phụ có thể xảy ra của Acthar Gel. Hãy cho bác sĩ biết nếu trẻ của bạn có bất kỳ tác dụng phụ nào làm phiền hoặc không biến mất. Để biết thêm thông tin, hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ của trẻ.

Liều lượng cho Achthar là gì?

Liều lượng được khuyến nghị cụ thể cho chứng co thắt ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 2 tuổi Trong điều trị chứng co thắt ở trẻ sơ sinh, Acthar Gel phải được tiêm bắp. Liều lượng khuyến nghị là 150 U/m2 mỗi ngày (chia thành hai lần tiêm bắp 75 U/m2) trong thời gian 2 tuần. Việc sử dụng Acthar Gel sau đó nên được giảm dần trong vòng 2 tuần để tránh suy tuyến thượng thận. Dưới đây là một lịch trình giảm liều gợi ý: 30 U/m2 vào buổi sáng trong 3 ngày; 15 U/m2 vào buổi sáng trong 3 ngày; 10 U/m2 vào buổi sáng trong 3 ngày; và 10 U/m2 mỗi buổi sáng cách ngày trong 6 ngày. Acthar Gel thường được định liều dựa trên diện tích bề mặt cơ thể (BSA). Để tính toán diện tích bề mặt cơ thể, sử dụng công thức sau:

Công thức tính diện tích bề mặt cơ thể (BSA) – Minh họa

Thuốc Achthar
Công thức tính diện tích bề mặt cơ thể (BSA)

Phác Đồ Liều Dùng Đề Xuất cho Việc Điều Trị Cơn Kích Phát Cấp Tính ở Người Lớn Bị Bệnh Đa Xơ Cứng

Liều dùng được khuyến nghị là tiêm bắp hoặc tiêm dưới da hàng ngày từ 80-120 đơn vị trong 2-3 tuần cho các cơn kích phát cấp tính.

Liều dùng nên được điều chỉnh theo tình trạng y tế của từng bệnh nhân. Tần suất và liều lượng thuốc cần được xác định bằng cách xem xét mức độ nghiêm trọng của bệnh và phản ứng ban đầu của bệnh nhân.

Mặc dù không xảy ra tình trạng phụ thuộc thuốc, nhưng việc ngừng đột ngột Acthar Gel sau thời gian dài sử dụng có thể dẫn đến suy tuyến thượng thận hoặc triệu chứng tái phát, khiến việc ngừng điều trị trở nên khó khăn. Có thể cần phải giảm dần liều và tăng khoảng cách giữa các lần tiêm để từ từ ngừng thuốc.

Phác Đồ Liều Dùng Đề Xuất cho Các Chỉ Định Khác Dành Cho Người Lớn và Trẻ Em Trên 2 Tuổi

Liều dùng nên được điều chỉnh theo bệnh lý đang được điều trị và tình trạng y tế tổng quát của từng bệnh nhân. Tần suất và liều lượng thuốc cần được xác định bằng cách xem xét mức độ nghiêm trọng của bệnh và phản ứng ban đầu của bệnh nhân.

Liều thông thường của Acthar Gel là 40-80 đơn vị tiêm bắp hoặc tiêm dưới da mỗi 24-72 giờ.

Mặc dù không xảy ra tình trạng phụ thuộc thuốc, nhưng việc ngừng đột ngột Acthar Gel sau thời gian dài sử dụng có thể dẫn đến suy tuyến thượng thận hoặc triệu chứng tái phát, khiến việc ngừng điều trị trở nên khó khăn. Có thể cần phải giảm dần liều và tăng khoảng cách giữa các lần tiêm để từ từ ngừng thuốc.

Các loại thuốc nào tương tác với Achthar?

Các nghiên cứu tương tác thuốc chính thức chưa được thực hiện. Acthar Gel có thể làm tăng mất cân bằng điện giải liên quan đến việc điều trị bằng thuốc lợi tiểu.

Mang thai và cho con bú

Chưa có các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát tốt trên phụ nữ mang thai. Acthar Gel có thể gây hại cho thai nhi khi được dùng cho phụ nữ mang thai. Đã có báo cáo về việc hạn chế tăng trưởng trong tử cung, giảm cân nặng khi sinh và sinh non liên quan đến việc sử dụng corticosteroid của mẹ; tuy nhiên, tình trạng mẹ có thể cũng góp phần vào những rủi ro này. Tình trạng hạ thượng thận cũng đã được báo cáo ở trẻ sơ sinh sau khi mẹ sử dụng corticosteroid với liều cao và/hoặc trong thời gian dài trong thai kỳ.

Acthar Gel chỉ nên được sử dụng trong thai kỳ nếu lợi ích tiềm năng vượt trội hơn so với rủi ro tiềm tàng cho thai nhi.

Chưa biết liệu thuốc này có được bài tiết qua sữa mẹ hay không.

Vì nhiều loại thuốc được bài tiết vào sữa mẹ và vì nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh đang bú mẹ từ Acthar Gel, nên khi điều trị cho một bà mẹ cho con bú, cần phải quyết định xem có nên ngừng cho con bú hay ngừng sử dụng thuốc, cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích cho mẹ.

Tin Tức Y Tế

  • Hơn một nửa số ca tử vong do nhiệt độ cao có thể được quy trách nhiệm cho sự nóng lên toàn cầu: Nghiên cứu
  • Việc có trẻ sinh non có thể làm giảm cơ hội việc làm và thu nhập
  • Chấn động có thể làm gia tăng trầm cảm và kiệt sức ở các cầu thủ khúc côn cầu chuyên nghiệp
  • Sử dụng cần sa trong thời kỳ mang thai có thể gây hại cho hành vi và kỹ năng tư duy của trẻ
  • Vấn đề chú ý ở trẻ em cho thấy có liên quan đến nguy cơ cao hơn về tâm thần phân liệt và loạn thần sau này

Tóm tắt

Acthar Gel là một loại thuốc theo toa được sử dụng để điều trị cơn co giật ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 2 tuổi. Nó cũng được dùng để điều trị bệnh đa xơ cứng (MS) ở người lớn. Các tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm triệu chứng tồi tệ hơn của các bệnh lý (chẳng hạn như tiểu đường), các vấn đề về mắt, phản ứng dị ứng, thay đổi trong sự phát triển và phát triển thể chất, và tim phì đại. Có thể gây hại cho thai nhi.

Hướng dẫn làm lẩu thập cẩm thơm ngon đặc biệt

Nguyên liệu món ăn

Thịt nạc thăn luộc: 100g

Thịt gà luộc: 100g

Thịt gà
Thịt gà

Tim lợn: 100g

Bầu dục lợn: 100g

Mê gà: 50g

Mực khô: 40g

Tôm tươi to: 100g

Giò sống: 50g

Nấm hương: 20 cái nhỏ đều nhau

Nấm tuyết: 30g

Bóng bì: 30g

Su hào: 30g

Súp lơ: 30g

Cà rốt: 30g

Nước dùng gà hoặc lợn: 3 lít

Tiêu, muối, nước mắm, mỳ chính, phèn chua, nước tro, gừng, rượu trắng.

Lẩu thực cẩm
Lẩu thực cẩm

Cách làm lẩu thực cẩm

Nấm hương rửa sạch, ngâm nở cắt bỏ chân, vắt ráo. Nấm tuyết ngâm nở, cắt bỏ thân gốc, rửa sạch, bóp nhẹ gừng rượu, rửa sạch, để ráo nước.

Mực khô ngâm nước bóc bỏ màng, khía vẩy rồng, cắt miếng vừa ăn, ngâm nước trờ 3 giờ cho trương nở, cắt miếng vừa ăn, ngâm nước lạnh, thay nước nhiều lần cho sạch nước tro, bóp nhẹ với gừng rượu, rửa sạch bằng nước lạnh, để ráo nước, chần qua nước sôi.

Mề gà khía hoa khế, chần qua nước dùng, vớt ráo.

Bầu dục, cắt đôi theo chiều dọc, lọc bỏ hết hoi. khía mắt võng, cắt miếng, ngâm nước, vớt ra, chần nước sôi, để ráo.

Tim lợn luộc chín, thái miếng mỏng to bản.

Thịt gà luộc thái miếng mỏng.

Thịt lợn thăn thái mỏng ngang thớ.

Tôm tươi bóc vỏ bỏ đầu, đường gân, giã nhuyễn trộn lẫn với giò sống, đắp vào nấm, luộc chín trong nước dùng sôi, vớt ra để ráo.

Bóng bì, ngâm nước pha phèn chua, nơ mềm mại, cắt miếng hình thoi, bóp rượu gừng, rửa sạch vắt khô nước, trộn tiêu, nước mắm, mỳ chính.

Cà rốt, su hào cắt tỉa các hình phẳng, súp lơ chẻ mỏng, rửa sạch; đậu Hà Lan tước xơ, tất cả các rau củ trên đều chan hằng nước dùng ngọt, vớt ra để ráo.

Bày các loại rau củ đã cắt tỉa vào đĩa; nấm, bóng bì, nấm tuyết, mực vào 1 đĩa. Thịt nạc thăn, thịt gà, mề gà, tim, bầu dục vào 1 đĩa.

Khi ăn: Đổ nước dùng đã nêm vừa vị vào lâu, bày lên bàn cùng với các đĩa thịt, nấm, rau, bóng v.v… có trang trí đẹp và hấp dẫn.

Người ăn gạt lần lượt các đĩa thịt, nấm, mực. bầu dục, bóng, rau củ vào lẩu đang sôi, lấy muôi múc vào từng bát nhỏ, ăn nóng.

Yêu cầu thành phẩm:

Các nguyên liệu không chín nhũn nát, giòn, ngon ngọt. Màu sắc phong phú đẹp. Nước dùng trong, ngọt, thơm, ngon. Trình bày đẹp. Nước trong lẩu sôi liên tục.

Cách làm lẩu thực cẩm
Cách làm lẩu thực cẩm

Nguyên nhân rung giật nhãn cầu

ĐẠI CƯƠNG

Rung giật nhãn cầu là những cử động giật nhịp nhàng của nhãn cầu. Đây là biểu hiện lâm sàng khách quan khi có một tổn thương hệ thống thị giác – tiền đình.

  • Rung giật nhãn cầu được đặc trưng bởi:

Kiểu: ngang, dọc, xoay hoặc dao động.

Tần số: ít, vừa, rất thường xuyên.

Biên độ: nhỏ, vừa, rõ rệt.

Pha: rung giật nhãn cầu gồm có hai pha là pha nhanh và pha chậm. Pha nhanh được dùng để xác định hướng và gọi tên rung giật, trong khi pha chậm giúp ta nhận biết bên bị tổn thương.

PHÂN LOẠI

Có hai loại rung giật nhãn cầu là rung giật nhón cầu sinh lý và bệnh lý.

Rung giật nhãn cầu sinh lý

Đây là dạng rung giật nhãn cầu người bình thường ai cũng có, nếu không có sẽ là tình trạng bệnh lý. Có hai loại rung giật nhãn cầu sinh lý.

Rung giật nhãn cầu thị động (optokinetic nystagmus)

Định nghĩa: là những vận động nhanh, nối tiếp nhau liên tục của nhãn cầu.

Kích thích: thị giác, qua sự quan sát các vật chuyển động (xe lửa đi ngang qua trước mặt…).

Thụ cảm thể: võng mạc.

Rung giật nhãn cầu thực nghiệm

Định nghĩa: là dạng rung giật nhãn cầu do sự chuyển dịch nội dịch trong các ống bán khuyên được gây ra bằng thực nghiệm. Hướng của dòng chảy nội dịch là hướng của pha chậm.

Thụ cảm thể: các ống bán khuyên.

Kích thích: nhiệt, điện hoặc ngồi trên ghế quay.

-Các phương pháp khám rung giật nhãn cầu thực nghiệm là: phương pháp nhiệt, quay và điện.

Phương pháp nhiệt

Chỉ dùng khi màng nhĩ không bị tổn thương.

Bệnh nhân ngồi ngửa đầu ra sau 60°.

Dùng nước lạnh: bơm 20ml nước 18°c vào tai bệnh nhân. Kết quả thấy xuất hiện rung giật nhãn cầu ngang sang bên đối diện. Nếu rung giật nhãn cầu không xuất hiện hoặc xuất hiện rất yếu chứng tỏ tính kích thích của hệ thống tiền đình giảm.

Dùng nước nóng: bơm nước 40°c vào tai bệnh nhân trong vòng 10 giây sẽ làm xuất hiện rung giật nhãn cầu về bên tai bị kích thích.

Phương pháp quay

Cho bệnh nhân ngồi trên ghế quay và quay 10 vòng trong 20 giây. Trong khi quay sẽ thấy xuất hiện rung giật nhãn cầu về hướng quay. Khi dừng lại sẽ thấy rung giật nhãn cầu theo chiều ngược lại (bản thân bệnh nhân cảm thấy mình bị quay theo chiều ngược lại).

Phương pháp điện

Phương pháp này ít được sử dụng và có thể thay thế bằng phương pháp khám tư thế hoặc nghiệm pháp ngón tay của Barany: sau các kích thích nhiệt hoặc quay, khả năng chạm đích của nghiệm pháp sẽ giảm và thấy ngón tay lệch về bên phía đối diện với chiều rung giật nhãn cầu.

Rung giật nhãn cầu bệnh lý

Định nghĩa

Rung giật nhãn cầu bệnh lý xuất hiện tự phát (không có kích thích thị giác hoặc kích thích tiền đình) do tổn thương hệ thống thị giác – tiền đình hoặc các cấu trúc não liên quan với hệ thống đó.

Các loại rung giật nhón cầu bệnh lý

  • Rung giật nhãn cầu tự phát ngoại vi: do mất các xung kích thích từ ngoại vi (tai trong một bên bị tổn thương do các quá trình bệnh lý khác nhau), vì vậy, trương lực của các nhân bên đối diện tăng một cách tương đối và làm xuất hiện rung giật nhãn cầu ngang (có thể có cả thành phần xoay) về bên đối diện.
  • Rung giật nhãn cầu tự phát trung ương: xuất hiện do mất ức chế các nhân tiền đình một bên (đặc biệt do tổn thương tiểu não) hoặc do kích thích trung khu rung giật nhãn cầu nằm ở gian hoặc cuống não. Đây là loại rung giật nhãn cầu ngang về bên tổn thương (cũng có thể là rung giật nhãn cầu dọc, chéo hoặc xoay). Trong trường hợp tổn thương xuất hiện từ từ, rung giật nhãn cầu cỏ thể rất nhẹ hoặc ở dạng tiềm tàng (kích thích xuất hiện bằng kính Fenzel, lắc đầu hoặc để đầu ở một tư thế nhất định nào đó – gọi là rung giật nhãn cầu tư thế, cũng có thể kích thích bằng cách che một mắt lại gây rung giật nhãn cầu về bên mắt mở). Rung giật nhãn cầu tự phát tiền đình thường về một hướng nhất định cho dù bệnh nhân nhìn về hướnng nào, rung giật nhãn cầu sẽ tăng khi bệnh nhân nhìn về hướng của pha nhanh và giảm khi nhìn về hướng của pha chậm.
  • Rung giật nhãn cầu về hướng nhìn: xuất hiện khi bệnh nhân nhìn về một hướng nhất định (cho dù bất kỳ góc nhìn nào), khi đó hướng của rung giật nhãn cầu là hướng nhìn, gặp trong tổn thương thân não, xơ cột bên teo cơ, sau khi dùng các dẫn xuất

Cần lưu ý rằng ở người bình thường khi nhìn với góc tối đa về một hướng nhất định cũng sẽ gây rung giật nhãn cầu về hướng đó, tuy nhiên loại rung giật nhãn cầu này sẽ tăng khi có tổn thương thực thể não. Rung giật nhãn cầu do mỏi, khi nhìn lâu về một hướng nhất định cũng gây rung giật nhãn cầu do mỏi cả cơ vận động (cơ co) và dãn cơ đối vận (do dãn). Rung giật nhãn cầu phân ly là loại rung giật nhãn cầu, trong đó giật về hướng nhìn mạnh hơn là về hướng đối diện trong khi liếc về một bên (khi liếc sang trái thì giật mạnh hơn về phải trái).

  • Rung giật nhãn cầu do liệt liếc: khi bệnh nhân liệt liếc không hoàn toàn sẽ thấy rung giật nhãn cầu thô, chậm về hướng liếc bị liệt (tổn thương cầu não và mái cầu).
  • Rung giật nhãn cầu dao động: là những cử động của nhãn cầu thô, kiểu làn sóng, về hai phía nhanh như nhau, thường gặp trong các tật khúc xạ và bất thường trung khu liếc.

Nguyên nhân rung giật nhãn cầu theo khu trú thương tổn

Rung giật nhãn cầu tiền đình

Khi kích thích tiền đình hoặc tai trong: rung giật nhãn cầụ ngang về phía tổn thương, khi có tổn thương tiền đình rung giật nhãn cầu về phía đối diện (mất đi sau 3-4 tuần), có thể có yếu tố xoay và thường kèm theo chóng mặt xoay, có thể có rối loạn thính lực (ù tai).

Rung giật nhãn cầu cầu não

về phía tổn thương, có rung giật nhãn cầu tư thế, khi có ảnh hưởng tới trung khu liếc cầu não sẽ xuất hiện rung giật nhãn cầu liệt liếc về phía tổn thương.

Rung giật nhãn cầu góc tiểu não

Giai đoạn đầu không có rung giật nhãn cầu, sạu đó có rung giật nhãn cầu tiền đình ngoại vi và trong các trường hợp muốn có rung giật nhãn cầu trung ương theo hướng nhất định.

Tiểu não

Có các dạng rung giật nhãn cầu trung ương đa số về bên tổn thương, cũng có khi là triệu chứng xa (ví dụ: do áp lực lên các nhân hoặc lên bó dọc giữa). Trong nghiệm pháp nhiệt, bệnh nhân có xu hướng ngã về phía của pha chậm, nghiệm pháp lệch ngón (tay bệnh nhân duỗi thẳng) cũng có thiên hướng lệch về bên đó; rung giật nhãn cầu về hướng nhìn.

Cuống não

Rung giật nhãn cầu theo hướng nhìn, rung giật nhãn cầu do liệt liếc hoặc rung giật nhãn cầu tự phát trung ương.

Củ não sinh tư

Rung giật nhãn cầu dọc có liệt liếc hoặc rung giật nhãn cầu liệt liếc theo hướng lên trên và thường kèm theo đồng tử bất động.

Bán cầu

Rung giật nhãn cầu không ổn định, rung giật nhãn cầu theo hướng nhìn khó xác nhận, vận động nhãn cầu sang bên giống rung giật nhãn cầu.