Blog Trang 534

Huyệt Thượng Liêu

Thượng Liêu

Tên Huyệt Thượng Liêu:

Trong số 8 huyệt ở xương cùng thì huyệt ở gần (liêu), phía trên (thượng), của xương cùng, vì vậy gọi là Thượng Liêu.

Xuất Xứ:

Giáp Ất Kinh.

Đặc Tính Huyệt Thượng Liêu:

Huyệt thứ 31 của kinh Bàng Quang.

Lạc huyệt của Túc Thái Dương và Túc Thiếu Dương.

Một trong Bát Liêu huyệt.

Nhận được 1 mạch từ kinh Túc Thiếu Dương đến.

Vị Trí Huyệt Thượng Liêu

Chỗ lõm ở xương thiêng thứ 1, trung điểm của gai chậu sau-trên và Đốc Mạch.

Giải Phẫu:

Dưới da là cân của cơ lưng to, khối cơ chung của các cơ rãnh cột sống, lỗ cùng 1.

Thần kinh vận động cơ là nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây thần kinh sống cùng 1.

Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S1.

Chủ Trị Huyệt Thượng Liêu:

Trị thắt lưng cùng và vùng xương chậu đều đau, kinh nguyệt rối loạn, tử cung viêm, bệnh có xuất huyết, bệnh về đường tiểu và sinh dục, thần kinh suy nhược.

Phối Huyệt:

1. Phối Cự Hư Hạ Liêm (Hạ Cự Hư – Vị 39) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Hoàn Khiêu (Đ.30) trị lưng và gối không xoay trở được (Thiên Kim Phương).

2. Phối Bàng Quang Du (Bp.28) + Cư Liêu (Đ.29) + Hạ Liêu (Bàng quang.34) + Khí Xung (Vị 30) + Thượng Liêu (Bàng quang.31) + Trường Cường (Đc.1) + Yêu Du (Đc.2) trị lưng đau (Thiên Kim Phương).

3. Phối Yêu Du (Đc.2) trị lưng đau cứng (Tư Sinh Kinh).

Cách châm Cứu Huyệt Thượng Liêu:

Châm thẳng ngay vào lỗ cùng thứ I, sâu 1 – 1, 5 thốn. Cứu 5 – 7 tráng, Ôn cứu 5 – 15 phút.

Tham Khảo:

“Thiên ‘Thích Yêu Thống’ ghi: “Lưng đau như gãy, không thể cúi ngửa, châm huyệt túc Thái dương [Bát Liêu, gồm các huyệt đôi Thượng Liêu, Trung Liêu, Thứ Liêu, Hạ Liêu]” (Tố vấn.41, 20).

Hội chứng kích hoạt tế bào mast là gì?

Hội chứng kích hoạt tế bào mast (MCAS) là một tình trạng gây ra việc giải phóng một lượng hóa chất không phù hợp từ tế bào mast vào cơ thể. Điều này gây ra các triệu chứng dị ứng và một loạt các triệu chứng khác.

Hội chứng kích hoạt tế bào mast là gì?

Hội chứng kích hoạt tế bào mast, còn được gọi là MCAS hoặc rối loạn kích hoạt tế bào mast, là một tình trạng gây ra việc giải phóng lượng lớn hóa chất từ tế bào mast vào cơ thể. Việc giải phóng hóa chất này gây ra nhiều triệu chứng khác nhau.

Tế bào mast là các tế bào máu thuộc hệ miễn dịch. Chúng giúp bạn chống lại nhiễm trùng, nhưng cũng liên quan đến phản ứng dị ứng. Tế bào mast sống lâu hơn so với các tế bào bình thường, phát triển trong tủy xương, đường tiêu hóa, da và đường hô hấp.

Khi bạn tiếp xúc với chất gây dị ứng hoặc chất kích ứng, tế bào mast giải phóng các chất hóa học được gọi là chất trung gian gây ra phản ứng của cơ thể với chất đó. Một số hóa chất được giải phóng ngay lập tức, một số khác cần thời gian lâu hơn.

Ở người khỏe mạnh, những hóa chất này giúp bảo vệ và chữa lành cơ thể. Tuy nhiên, ở người bị hội chứng kích hoạt tế bào mast, chúng gây ra các triệu chứng khó chịu.

Đôi khi tế bào mast có thể bị kích hoạt hoặc tác động bởi những yếu tố như:

  • Nhiễm trùng
  • Thuốc
  • Nọc côn trùng
  • Nọc rắn
  • Mùi hương
  • Căng thẳng
  • Tập thể dục
  • Thức ăn

Những người mắc hội chứng kích hoạt tế bào mast có thể gặp nhiều triệu chứng dị ứng và nhiều đợt phản vệ mà không rõ nguyên nhân.

Hội chứng kích hoạt tế bào mast so với Bệnh mastocytosis

Đôi khi hội chứng kích hoạt tế bào mast bị nhầm lẫn với bệnh mastocytosis. Cả hai đều là các dạng bệnh về tế bào mast, nhưng chúng là những tình trạng khác nhau.

Mastocytosis. Mastocytosis là một bệnh hiếm gặp trong đó tế bào mast dư thừa tụ lại ở các cơ quan trong cơ thể như lá lách, gan, ruột và da. Điều này thường do các thay đổi di truyền làm cho tế bào mast tự sinh sản nhiều hơn.

Điều này khiến bạn có quá nhiều tế bào và gây ra sự giải phóng hóa chất ngẫu nhiên, có thể làm cơ thể bạn quá tải và gây bệnh. Những tế bào này có thể phát triển nhanh, rất nhạy cảm và liên tục giải phóng hóa chất một cách ngẫu nhiên.

Bệnh hiếm gặp này có thể gây ra các khối u da và một rối loạn máu gọi là bệnh bạch cầu.

Hội chứng kích hoạt tế bào mast. Tình trạng này không gây ra sự tập trung của các tế bào dư thừa trong cơ quan. Thay vào đó, nó xảy ra khi các tế bào mast giải phóng quá nhiều hóa chất và gây ra các triệu chứng dị ứng này.

Nguyên nhân gây ra hội chứng kích hoạt tế bào mast?

Hội chứng kích hoạt tế bào mast có thể là nguyên phát, thứ phát hoặc vô căn, tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra nó.

Rối loạn nguyên phát của tế bào mast

Các rối loạn nguyên phát của tế bào mast thường xảy ra khi có vấn đề với tế bào mast hoặc các tế bào tiền thân của nó, dẫn đến sự sản xuất dư thừa tế bào mast. Vấn đề này có thể xảy ra khi có đột biến trong một gen gọi là KIT.

Những rối loạn nguyên phát này bao gồm mastocytosis, hội chứng kích hoạt tế bào mast đơn dòng (MMAS), u sarcoma tế bào mast, bệnh bạch cầu tế bào mast và u mastocytoma.

Rối loạn thứ phát của tế bào mast

Rối loạn thứ phát của tế bào mast xảy ra khi cơ thể gặp phải một tác nhân kích thích gây ra việc sản xuất quá nhiều tế bào mast. Các tác nhân này có thể:

  • Liên quan đến kháng thể IgE như thức ăn, thuốc hoặc nọc độc.
  • Không liên quan đến kháng thể IgE như thuốc, hoạt động thể chất, căng thẳng hoặc nhiễm trùng.

Hội chứng kích hoạt tế bào mast vô căn

Không ai biết chính xác nguyên nhân gây ra loại hội chứng kích hoạt tế bào mast này. Nó được gọi là vô căn vì không do bệnh khác gây ra hoặc không liên quan đến một nguyên nhân hoặc dị ứng rõ ràng nào.

Những người mắc hội chứng này có thể gặp khó khăn trong việc xác định chính xác điều gì kích hoạt phản ứng dị ứng. Các tác nhân mới có thể xuất hiện liên tục.

Triệu chứng của MCAS

Nhiều triệu chứng khác nhau có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể cùng một lúc. Những triệu chứng này có thể xảy ra sau khi ăn thực phẩm, ngửi một số mùi hương, tập thể dục và hơn thế nữa.

Một số triệu chứng chính bao gồm:

  • Sưng tấy
  • Ngứa
  • Phát ban
  • Viêm
  • Nôn mửa
  • Đau mãn tính
  • Đỏ mặt
  • Tiêu chảy
  • Táo bón
  • Đổ mồ hôi
  • Đau bụng
  • Mệt mỏi

Các triệu chứng thần kinh của hội chứng kích hoạt tế bào mast

MCAS cũng có thể gây ra các triệu chứng liên quan đến não và hệ thần kinh, bao gồm:

  • Vấn đề về trí nhớ
  • Đau đầu
  • Vấn đề về thăng bằng
  • Ngất xỉu
  • Sương mù não
  • Nhịp tim nhanh hoặc chậm
  • Khó thở
  • Lo lắng
  • Trầm cảm
  • Thay đổi tâm trạng
  • Hồi hộp tim
  • Vấn đề về giấc ngủ
  • Khó nuốt
  • Nhịp tim không đều
  • Nhạy cảm với âm thanh hoặc ánh sáng
  • Chóng mặt hoặc cảm giác lâng lâng
  • Chảy nước dãi quá mức

Các triệu chứng của sốc phản vệ

Bạn có khả năng gặp phải phản ứng dị ứng đe dọa tính mạng gọi là sốc phản vệ khi bạn mắc hội chứng kích hoạt tế bào mast (MCAS). Các triệu chứng của sốc phản vệ bao gồm:

  • Nhịp tim nhanh
  • Huyết áp thấp
  • Ngất xỉu
  • Nổi mề đay
  • Da ngứa, tái hoặc đỏ bừng
  • Khó thở
  • Khó nuốt
  • Sưng ở cổ họng, môi và lưỡi
  • Đau bụng
  • Căng tức ở ngực
  • Tiêu chảy
  • Nôn mửa
  • Thở khò khè
  • Chóng mặt
  • Lú lẫn
  • Đột ngột yếu đuối
  • Mất ý thức

Hãy gọi ngay 115 nếu bạn hoặc người xung quanh xuất hiện những triệu chứng này.

Dấu hiệu cho thấy dị ứng của bạn có thể do MCAS gây ra

Một số dấu hiệu cho thấy dị ứng của bạn có thể do MCAS gây ra bao gồm:

  • Các triệu chứng xuất hiện ở nhiều hệ thống cơ thể
  • Các triệu chứng xuất hiện và biến mất hoặc theo chu kỳ
  • Nhiều tác nhân kích hoạt khác nhau
  • Khó xác định nguyên nhân kích hoạt
  • Thay đổi đáng kể về triệu chứng

Chẩn đoán MCAS

Lịch sử triệu chứng của bạn, khám lâm sàng và xét nghiệm sẽ giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán. Bác sĩ sẽ tìm kiếm các yếu tố sau:

  • Triệu chứng dị ứng và các triệu chứng khác xuất hiện ở hai hoặc nhiều hệ thống cơ quan, lặp lại hoặc mãn tính.
  • Mức tryptase, histamine hoặc prostaglandin trong máu cao hơn bình thường.
  • Cải thiện sau khi sử dụng thuốc kháng histamine hoặc các loại thuốc khác chặn hóa chất do tế bào mast giải phóng.

Nếu bạn đáp ứng cả ba tiêu chí này, bác sĩ có thể chẩn đoán bạn mắc hội chứng kích hoạt tế bào mast.

Mối liên hệ giữa hội chứng kích hoạt tế bào mast và POTS

Hội chứng nhịp tim nhanh tư thế (POTS) là một tình trạng mà máu không lưu thông đủ về tim khi một người đứng lên sau khi nằm. Nó gây ra:

  • Chóng mặt hoặc ngất xỉu
  • Nhịp tim tăng nhanh, với nhịp đập nhiều hơn 30 lần mỗi phút hoặc nhịp tim vượt quá 120 lần/phút.

Những triệu chứng này xảy ra trong vòng 10 phút sau khi đứng dậy và sẽ cải thiện khi bạn nằm xuống.

Những người bị POTS đã báo cáo có triệu chứng MCAS, điều này khiến các nhà khoa học cho rằng hai tình trạng này có thể liên quan. Họ cho rằng MCAS có thể liên quan đến POTS như là:

  • Một yếu tố kích hoạt
  • Một tình trạng đồng thời

Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu mối quan hệ giữa hai tình trạng này. Việc biết rằng bạn có thể có triệu chứng POTS cùng với MCAS có thể giúp bác sĩ điều trị tốt hơn.

Điều trị MCAS

Không có cách chữa trị cho tình trạng này. Bạn cần tránh các tác nhân kích hoạt và dùng các loại thuốc mà bác sĩ kê để kiểm soát triệu chứng.

Thuốc kháng histamine và các loại thuốc khác chặn các hóa chất này có thể giúp ích. Những loại thuốc này bao gồm:

  • Thuốc kháng H1 thế hệ thứ nhất: diphenhydramine và hydroxyzine
  • Thuốc kháng H1 thế hệ thứ hai: cetirizine, fexofenadine, và loratadine
  • Thuốc kháng H2: famotidine và ranitidine
  • Aspirin
  • Thuốc ức chế leukotriene: montelukast và zafirlukast
  • Corticosteroids
  • Kháng thể đơn dòng: omalizumab

Nếu bạn có phản ứng phản vệ, bác sĩ cũng có thể cung cấp cho bạn một bút tiêm tự động epinephrine để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Đôi khi, người bệnh cũng có phản ứng với thành phần trong thuốc, có nghĩa là có thể mất thời gian để tìm ra phương pháp điều trị phù hợp.

Quản lý căng thẳng với MCAS

Căng thẳng có thể kích hoạt tế bào mast. Triệu chứng MCAS có thể gây thêm căng thẳng và lo lắng, dẫn đến một vòng luẩn quẩn của các triệu chứng. Bạn có thể quản lý mức độ căng thẳng bằng cách:

  • Nói chuyện với nhà trị liệu
  • Kết nối với bạn bè
  • Nghỉ ngơi
  • Sử dụng các kỹ thuật chánh niệm
  • Tập thể dục nhẹ nhàng
  • Thực hiện sở thích của mình

Những điều cần biết về MCAS và kích thích dây thần kinh phế vị

Kích thích dây thần kinh phế vị (VNS) liên quan đến việc kích thích dây thần kinh phế vị – dây thần kinh chịu trách nhiệm cho quá trình nghỉ ngơi và tiêu hóa – bằng một thiết bị tạo xung. VNS được chấp thuận để điều trị động kinh và trầm cảm mà thuốc không thể chữa trị.

Một số nghiên cứu cho thấy VNS có thể giúp điều chỉnh quá trình kích hoạt tế bào mast và làm giảm sự giải phóng các chất gây ra triệu chứng của cơ thể bạn. Tuy nhiên, cần thêm nghiên cứu để xác định xem nó có thể giúp điều trị MCAS hay không.

Sống chung với hội chứng kích hoạt tế bào mast

Sống chung với MCAS có thể căng thẳng, và càng có nhiều triệu chứng, bạn càng dễ gặp phải cảm xúc lo lắng. Những cảm xúc này có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày và chất lượng cuộc sống tổng thể. Tuy nhiên, bạn có thể học cách đối phó với những thử thách này, cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần, và sống một cuộc sống tích cực hơn với MCAS.

Dưới đây là một số mẹo có thể giúp bạn:

Có hệ thống hỗ trợ: Đừng ngần ngại nói chuyện với những người thân yêu bất cứ khi nào bạn muốn chia sẻ về triệu chứng của mình. Họ có thể giúp bạn bằng cách đi làm các việc vặt hoặc đi cùng bạn đến các cuộc hẹn với bác sĩ. Sự hỗ trợ của họ có thể giúp bạn cảm thấy mạnh mẽ hơn khi sống chung với MCAS.

Tham gia nhóm hỗ trợ: Sống chung với một tình trạng nghiêm trọng như MCAS có thể khiến bạn cảm thấy cô lập. Một nhóm hỗ trợ với những người cùng mắc bệnh tạo ra một không gian an toàn và thoải mái để thảo luận về việc sống và đối phó với MCAS. Bạn có thể tìm các nhóm hỗ trợ trực tuyến và trực tiếp trên các trang web như The Mast Cell Disease Society và Mast Cell Action.

Giới hạn tiếp xúc với các tác nhân kích hoạt: Làm việc với bác sĩ để xác định và hiểu rõ các tác nhân kích hoạt cụ thể của bạn và lập kế hoạch tránh chúng theo cách tốt nhất có thể. Các tác nhân tiềm năng có thể bao gồm thuốc, thực phẩm nhất định, rượu và căng thẳng.

Quản lý mức độ căng thẳng: Căng thẳng có thể kích hoạt các đợt MCAS hoặc làm cho triệu chứng trở nên tồi tệ hơn. Bạn có thể quản lý mức độ căng thẳng bằng cách ưu tiên nghỉ ngơi trong cuộc sống hàng ngày. Bạn có thể thêm các bài tập thư giãn như hít thở sâu, đi bộ nhẹ nhàng, thiền, viết nhật ký và nghe nhạc vào thói quen hàng ngày của mình.

Trao đổi với chuyên gia sức khỏe tâm thần:

Sống chung với hội chứng kích hoạt tế bào mast (MCAS) có thể khiến bạn cảm thấy quá tải. Bạn có thể cần gặp nhà trị liệu hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khác để tìm hiểu cách đối mặt với cuộc sống và quản lý các vấn đề tâm lý có thể phát sinh do MCAS, như lo âu và trầm cảm.

Luôn mang theo epinephrine tự tiêm:

MCAS khiến bạn có nguy cơ cao bị sốc phản vệ, một phản ứng nguy hiểm đến tính mạng. Luôn mang theo bút tiêm epinephrine (EpiPen) để dùng khi xuất hiện các triệu chứng sốc phản vệ như khó thở, sưng môi và tức ngực.

Chế độ ăn uống dành cho hội chứng kích hoạt tế bào mast

Thực phẩm có thể kích hoạt MCAS, vì vậy làm việc với chuyên gia dinh dưỡng để cải thiện chế độ ăn uống là rất hữu ích. Hãy yêu cầu bác sĩ giới thiệu bạn đến chuyên gia dinh dưỡng. Nếu chuyên gia dinh dưỡng xác nhận bạn không thể dung nạp thực phẩm chứa nhiều histamine, họ có thể giới thiệu bạn chế độ ăn ít histamine.

Chế độ ăn ít histamine bao gồm việc tránh các thực phẩm chứa nhiều histamine hoặc có thể kích thích giải phóng histamine. Các thực phẩm giàu histamine bao gồm:

  • Cà chua
  • Rau chân vịt
  • Cá đóng hộp hoặc xông khói
  • Trứng
  • Các loại hạt
  • Socola
  • Phô mai
  • Thịt chế biến
  • Thịt lợn
  • Trái cây họ cam chanh
  • Chuối

Chuyên gia dinh dưỡng cũng có thể hướng dẫn bạn cách nấu ăn sao cho không làm tích tụ histamine, chẳng hạn bạn có thể chọn nướng, luộc hoặc chiên không dầu thay vì các phương pháp khác.

Kết luận chính

Hội chứng kích hoạt tế bào mast (MCAS) gây ra hàng loạt triệu chứng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của bạn. Tình trạng này có thể xảy ra mà không có lý do rõ ràng hoặc bị kích hoạt bởi nhiều yếu tố bạn có thể tiếp xúc hàng ngày, như ánh nắng mặt trời, thuốc, thực phẩm, căng thẳng và rượu. MCAS cũng khiến bạn có nguy cơ bị sốc phản vệ. Hãy tìm sự trợ giúp y tế ngay lập tức nếu bạn có các triệu chứng như nổi mề đay, ngứa da, sưng ở cổ họng, môi, lưỡi và tức ngực. Tuân thủ kế hoạch điều trị và thảo luận với bác sĩ về các thay đổi lối sống và chế độ ăn uống cần thực hiện.

Câu hỏi thường gặp về hội chứng kích hoạt tế bào mast

MCAS có bao giờ biến mất không?

Không, MCAS không bao giờ biến mất. Tuy nhiên, điều trị có thể giúp quản lý tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.

Những loại thực phẩm nào kích hoạt tế bào mast?

Những người mắc MCAS thường có phản ứng với các loại thực phẩm như bột ngọt (MSG), phẩm màu và hương liệu nhân tạo, socola, chất bảo quản thực phẩm, rượu, hải sản, dứa và cà chua.

Những tác nhân kích hoạt tế bào mast phổ biến nhất là gì?

Các tác nhân kích hoạt tế bào mast tiềm năng bao gồm:

  • Nóng, lạnh hoặc thay đổi nhiệt độ đột ngột
  • Mệt mỏi
  • Căng thẳng
  • Tập thể dục
  • Thực phẩm
  • Rượu
  • Thuốc
  • Nọc độc
  • Nhiễm trùng
  • Ánh sáng mặt trời

Lipobay

Thuốc Lipobay
Thuốc Lipobay

LIPOBAY

BAYER PHARMA

Viên bao phim 0,2 mg: hộp 28 viên – Bảng B. Viên bao phim 0,3 mg: hộp 28 viên – Bảng B.

THÀNH PHẦN

cho 1 viên
Cerivastatin sodium 0,2 mg
cho 1 viên
Cerivastatin sodium 0,3 mg

DƯỢC LỰC

Thuốc ức chế tổng hợp cholesterol.

Cerivastatin là một chất đồng phân lập thể (enantiomer) tổng hợp tinh khiết, có tác dụng ức chế cạnh tranh sự tổng hợp cholesterol, đặc biệt ức chế men HMG-CoA (hydroxy-methyl- glutaryl coenzyme A) reductase. Men này có tác dụng xúc tác cho “bước xác định tốc độ” trong quá trình tổng hợp cholesterol, chuyển đổi HMG-CoA thành acid mevalonic.

Vị trí tác dụng chủ yếu của cerivastatin là ở gan. Nhờ làm giảm lượng cholesterol nội bào, các chất ức chế men HMG-CoA reductase tạo nên tác dụng điều hòa ngược trên các thụ thể LDL (lipoprotein tỷ trọng thấp) ở gan, làm tăng độ thanh thải LDL cholesterol và làm giảm cholesterol toàn phần lẫn LDL cholesterol trong huyết thanh.

CHỈ ĐỊNH

Tăng cholesterol huyết tiên phát (thể II a và II b).

Điều trị tăng cholesterol huyết ở những bệnh nhân không đáp ứng tốt với chế độ ăn kiêng thích hợp.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Bị mẫn cảm với một trong các thành phần của thuốc Lipobay.

Bệnh gan đang tiến triển hoặc men transaminase huyết thanh tăng cao liên tục không rõ nguyên nhân.

Trẻ em: Không dùng cho trẻ em vì chưa có kinh nghiệm lâm sàng.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

Chức năng gan:

  • Như các thuốc hạ lipid khác, hiện tượng tăng men gan xảy ra trong quá trình điều trị với Trong đa số các trường hợp, hiện tượng gia tăng này nhẹ và không có triệu chứng. Và cũng giống như đối với các thuốc hạ lipid khác, nên làm xét nghiệm chức năng gan trước khi bắt đầu điều trị, và sau đó phải xét nghiệm định kỳ. Cần chú ý đến những bệnh nhân có nồng độ men transaminase gia tăng, và phải ngừng điều trị nếu như men ALT (GPT) và AST (GOT) vượt gấp 3 lần trị số cao nhất của giới hạn bình thường.
  • Cần thận trọng khi dùng Lipobay cho những bệnh nhân có tiền sử uốn g rượ u nhi u hoặc có tiề n s bị bệnh gan (bệnh gan đang tiến triển hay men transaminase tăng không rõ nguyên nhân đều là những chống chỉ định dùng Lipobay).

Cơ:

  • Giống như với các chất ức chế men HMG-CoA reductase, thỉnh thoảng có hiện tượng tăng men creatinine-phosphokinase (CPK) trên những bệnh nhân dùng Điều này thường không có ý nghĩa lâm sàng. Bệnh cơ, đi kèm với nồng độ CPK tăng rõ rệt (bằng hoặc lớn hơn 10 lần trị số giới hạn trên của mức bình thường) và/hoặc đau cơ lan tỏa, cơ nhạy cảm đau hay yếu cơ, hiếm gặp ở những người dùng thuốc ức chế men HMG-CoA reductase. Nên yêu cầu bệnh nhân thông báo cho thầy thuốc nếu bị đau cơ, cơ nhạy cảm đau hoặc yếu cơ nhất là khi có kèm theo mệt mỏi hay sốt. Phải ngừng dùng thuốc Lipobay nếu đã được chẩn đoán hoặc nghi ngờ bị bệnh cơ, hoặc khi nồng độ men CPK tăng cao rõ rệt và được khẳng định qua vài lần xét nghiệm. Nguy cơ mắc bệnh cơ sẽ tăng lên ở những bệnh nhân vừa sử dụng thuốc ức chế men HMG-CoA reductase vừa được điều trị bằng cyclosporin, dẫn xuất của acid fibric, acid nicotinic, erythromycin hoặc azole. Vì vậy nên thận trọng với các phối hợp nói trên.
  • Những rối loạn chức năng thận thứ phát do tiêu cơ vân xảy ra trong những trường hợp hiế Vì vậy nên tạm thời ngừng sử dụng Lipobay ở những bệnh nhân đang có nguy cơ suy thận thứ phát do tiêu cơ vân.

LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ

Lúc thai:

Chưa có dữ liệu về việc sử dụng thuốc Lipobay ở phụ nữ có thai. Cholesterol và cả các sản phẩm của quá trình sinh tổng hợp cholesterol đều là những thành phần thiết yếu cho sự phát triển của thai nhi. Vì vậy, các chất ức chế men HMG-CoA reductase đều bị chống chỉ định khi mang thai và với phụ nữ đang còn khả năng sinh nở, trừ khi đã được bảo vệ thích đáng. Trong các nghiên cứu trên động vật, không thấy có tác dụng gây quái thai.

Lúc nuôi con bú:

Những nghiên cứu tiền lâm sàng trên chuột cho thấy rằng Lipobay được bài tiết vào sữa mẹ. Phụ nữ đang nuôi con bú không nên dùng Lipobay.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Thuốc tách acid mật: Lipobay nên sử dụng ít nhất một giờ sau khi dùng resin (thí dụ như cholestyramine) để tránh sự tương tác do thuốc gắn kết với resin.

Không có ảnh hưởng đáng kể về lâm sàng trong những nghiên cứu khác nhau về tương tác thuốc với các thuốc thường dùng cho bệnh nhân tăng cholesterol huyết (thí dụ như warfarin, digoxin, các thuốc kháng acid, cimetidine).

Như đã được báo cáo về các thuốc ức chế men HMG-CoA reductase khác, khả năng bị bệnh cơ có thể xảy ra nếu sử dụng đồng thời với acid nicotinic, fibrate (dẫn xuất của acid fibric), hay cyclosporin. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có báo cáo nào đối với Lipobay.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

Nói chung Lipobay được dung nạp tốt. Các phản ứng phụ do thuốc trên lâm sàng lẫn xét nghiệm đều nhẹ và thoáng qua.

Trong những nghiên cứu có đối chứng với giả dược, các phản ứng phụ sau đây đã được ghi nhận (Lipobay: n = 2.522, giả dược: n = 570).

Tỷ lệ mắc < 1%-0,1%:

  • Toàn thân: suy nhược (mệt).
  • Tiêu hóa: đầy hơi, táo bón, buồn nôn. Tỷ lệ mắc < 0,1%:
  • Toàn thân: đau đầu, đau bụng, đau lưng.
  • Tiêu hóa: khó tiêu, đau dạ dày-ruột, chảy máu lợi răng, xét nghiệm chức năng gan bất thường, phân mất màu.

– Rối loạn về chuyển hóa và dinh dưỡng: tăng creatine phosphokinase.
– Hệ cơ-xương: đau khớp.
– Hệ thần kinh: giấc mơ bất thường, mất ngủ, vã mồ hôi nhiều.
– Da và phần phụ: nổi ban, rối loạn ở da.
– Giác quan đặc biệt: rối loạn về mắt

Cũng như các loại statin khác, hiện tượng đục ở nhân mắt và dưới bao nhân mắt đã được thông báo, mặc dù chưa xác định được mối liên hệ về căn nguyên với Lipobay.

Những phản ứng phụ trầm trọng sau đây của các thuốc cùng loại đã được thông báo nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy ở Lipobay: phản ứng quá mẫn (hội chứng quá mẫn bao gồm phản vệ, phù mạch, hội chứng giống lupút ban đỏ, viêm mạch máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu tán huyết, hoại tử biểu mô do nhiễm độc, hồng ban đa dạng), vàng da ứ mật, đục nhân mắt, trầm cảm, viêm tụy, bệnh thần kinh ngoại vi.

LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG

Trước khi bắt đầu điều trị bằng Lipobay, cần loại trừ những nguyên nhân thứ phát gây tăng cholesterol huyết. Bệnh nhân nên tiếp tục chế độ ăn kiêng đúng đắn nhằm làm giảm cholesterol huyết trong suốt quá trình điều trị.

Người lớn:

Dùng Lipobay mỗi ngày một lần vào buổi tối (vào bữa ăn chiều hoặc khi đi ngủ). Liều khởi đầu là 0,1 mg một lần, mỗi ngày. Sau ít nhất 4 tuần, có thể tăng liều thêm 0,1 mg nữa tùy theo đáp ứng của từng người. Liều tối đa được khuyên dùng là 0,3 mg một lần, mỗi ngày.

Dùng thuốc cùng với thức ăn không ảnh hưởng đến tác dụng của cerivastatin. Đáp ứng đáng kể với Lipobay đạt được trong vòng 2 tuần và đáp ứng tối đa xuất hiện trong vòng 4 tuần. Đáp ứng sẽ được duy trì trong suốt quá trình điều trị liên tục.

Người cao tuổi:

Không có những chứng cứ lâm sàng gợi ý rằng cần phải dùng liều lượng khác cho những người cao tuổi. Cũng giống như các điều trị khác, cần khởi đầu với liều lượng thấp nhất.

Rối loạn chức năng thận:

Dựa vào những dữ liệu dược động học, không cần phải chỉnh liều cho những bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận. Tuy vậy, vì kinh nghiệm lâm sàng với nhóm bệnh nhân này còn hạn chế, do đó nên bắt đầu điều trị bằng liều thấp nhất cho bệnh nhân mắc bệnh thận vừa và nặng, và phải theo dõi chặt chẽ.

Trẻ em:

Vì chưa có kinh nghiệm lâm sàng, nên không dùng cho trẻ em. Dùng thuốc phối hợp:

Lipobay trong đơn trị liệu có hiệu lực làm giảm cholesterol toàn phần và LDL choleterol. Hiệu lực này có thể gia tăng nếu phối hợp với thuốc tách acid mật (thí dụ như cholestyramine, xem mục Tương tác thuốc).

QUÁ LIỀU

Chưa có thuốc đối kháng với Lipobay. Nếu dùng quá liều, hãy điều trị triệu chứng và tiến hành những biện pháp hỗ trợ thích hợp.

Bệnh thận mạn giai đoạn cuối

1. ĐẠI CƯƠNG VÀ ĐỊNH NGHĨA BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI

Các định nghĩa

  • Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (end stage renal disease, ESRD) là bênh thận mạn giai đoạn 5. Đây là giai đọan nặng nhất của bệnh thận mạn (BTM) với mức lọc cầu thận (GFR) < 15mL/ph/1,73 m2, biểu hiện bằng hội chứng urê máu, và tình trạng này sẽ gây tử vong nếu không được điều trị thay thế thận.
  • Hội chứng urê máu (uremic syndrome) là một hội chứng lâm sàng và cận lâm sàng, gây ra không chỉ do sự gia tăng của urê huyết thanh, mà còn tăng hơn 100 sản phẩm có nguồn gốc nitơ khác trong máu như peptide, aminoacid, creatinin,…khi người bệnh bị suy thận (cấp hoặc mạn). Thuật ngữ chính xác hơn là “hội chứng tăng azote máu”. Do không phải chất nào cũng đo đạt được, nên cho đến nay, urê và créatinine tăng đồng nghĩa với sự tăng các sản phẫm azote khác.
  • Tăng azote máu (azotemia) là sự gia tăng nồng độ các sản phẩm có nguồn gốc nitơ trong máu như protein, peptide, aminoacid, creatinin,  urê, uric acid, ammoniac, hippurates, sản phẩm thoái hóa của acid nhân, polyamine, myoinositol, phenols, benzoates, và indoles.

Dịch tễ học của bệnh thận mạn giai đọan cuối

Tần suất bệnh thận mạn (BTM) trong cộng đồng theo nghiên cứu NHANES III (Third National Health and Nutrition Examination Survey) tiến hành trên 15.625 người trưởng thành trên 20 tuổi, công bố năm 2007 là 13%. Cứ mỗi người bệnh Bệnh thận mạn giai đoạn cuối đến điều trị thay thế thận, tương ứng với ngoài cộng đồng có khoảng 100 người đang bị bệnh thận ở những giai đoạn khác nhau.

Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 1,5 triệu người Bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị thay thế thận và số lượng người này ước đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Trên thực tế, do chi phí cao của các biện pháp điều trị thay thế thận nên điều trị thay thế thận chỉ áp dụng chủ yếu (80%) cho người bệnh tại các nước đã phát triển. Tại các nước đang phát triển chỉ 10-20% người bệnh Bệnh thận mạn giai đoạn cuối được điều trị thay thế thận và thậm chí không có điều trị thay thế thận, và người bệnh sẽ tử vong khi vào Bệnh thận mạn giai đoạn cuối.

2. NGUYÊN NHÂN

Ba nhóm nguyên nhân hằng đầu gây Bệnh thận mạn giai đoạn cuối trên thế giới là (1) đái tháo đường, (2) tăng huyết áp, (3) bệnh cầu thận. Nếu tại các nước đã phát triển, đái tháo đường vẫn chiếm ưu thế trong khi tại các nước đang phát triển, nguyên nhân hằng đầu vẫn là bệnh cầu thận (30-48%).

3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

Bệnh thận mạn giai đọan cuối có biểu hiện của hội chứng urê huyết bao gồm ba rối loạn chính là:

  • Rối loạn gây ra do sự tích tụ các chất thải, và độc chất trong cơ thể, quan trọng nhất là sản phẩm biến dưỡng của protein.
  • Rối loạn là hậu quả của sự mất dần các chức năng khác của thận như điều hòa thăng bằng nội môi, nước điện giải, nội tíết tố
  • Rối lọan là hậu quả của phản ứng viêm tiến triển gây ra ảnh hưởng lên mạch máu và dinh dưỡng

Rối loạn chuyển hóa natri

Có thể tăng hoặc giảm natri máu

Rối loạn bài tiết nước

Tiểu đêm là triệu chứng của tình trạng thải nước tiểu và sodium với mức độ thẩm thấu cố định. Người bệnh dễ bị thiếu nước và muối, nếu tiết chế quá mức, và dễ giảm natri huyết thanh, nếu uống quá nhiều nước.

Rối loạn chuyển hóa kali

  • Người bệnh suy thận mạn, thận tăng tiết aldosteron làm tăng thải kali tại ống thận xa, và tăng thải kali qua đường tiêu hóa. Do vậy, kali máu chỉ tăng ở Bệnh thận mạn giai đoạn cuối Cần tìm nguyên nhân khác nếu tăng kali xuất hiện trước giai đọan cuối
  • Giảm kali ít gặp hơn ở người bệnh Bệnh thận mạn, chủ yếu do tiết chế nguồn nhập kali, kèm với việc dùng lợi tiểu quá liều, hoặc do tăng mất kali qua đường tiêu hóa.

Toan chuyển hóa

Suy thận mạn: lượng acid bài tiết bị khống chế trong khoảng hẹp từ 30-40 mmol/ngày, nên dễ bị toan chuyển hóa.

Rối loạn chuyển hoá calcium và phosphor

Suy thận mạn: thận giảm bài tiết phospho và calci, gây tăng phospho trong máu. Để duy trì tích số phospho và calci ổn định trong máu, calci máu giảm khi phospho tăng, kích thích tuyến cận giáp tiết PTH, làm tăng huy động calci từ xương vào máu, phức hợp calci – phospho tăng lắng đọng tại mô, gây rối loạn chu chuyển xương, tăng bài tiết phospho tại ống thận.

Rối loạn về tim mạch

Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong ở mọi giai đoạn của bệnh thận mạn, nhất là khi người bệnh đến giai đoạn cuối.

  • Tăng huyết áp và dày thất trái
  • Suy tim sung huyết
  • Viêm màng ngoài tim
  • Bệnh mạch máu

Rối loạn về huyết học

  • Thiếu máu ở người bệnh Bệnh thận mạn
  • Rối loạn đông máu ở người bệnh Bệnh thận mạn

Rối loạn đông máu bao gồm kéo dài thời gian máu đông, giảm hoạt tính của yếu tố III tiểu cầu, giảm độ tập trung tiểu cầu và giảm prothrombin.

  • Rối loạn chức năng bạch cầu

Rối loạn chức năng bạch cầu như giảm sản xuất bạch cầu, giảm chức năng bạch cầu do suy dinh dưỡng, toan chuyển hóa, môi trường tăng urê máu, và do teo hạch lympho.

Rối loạn tiêu hóa và dinh dưỡng

Buồn nôn và nôn

Ăn giảm đạm sẽ giúp giảm buồn nôn và nôn, tuy nhiên sẽ tăng nguy cơ suy dinh dưỡng.

Rối loạn thần kinh cơ

  • Triệu chứng thần kinh cơ bắt đầu xuẩt hiện từ Bệnh thận mạn giai đọan 3 như giảm trí nhớ, kém tập trung, rối loạn giấc ngủ. Sau đó, tiến triển thành thần kinh kích thích như nấc cục, chuột rút, đau xoắn vặn cơ, nặng hơn trong giai đoạn suy thận nặng là rung vẫy, clonus cơ, co giật và hôn mê.
  • Triệu chứng thần kinh ngọai biên xuất hiện từ Bệnh thận mạn giai đoạn 4
  • Triệu chứng rối loạn thần kinh cảm giác người bệnh Bệnh thận mạn giai đoạn cuối là chỉ điểm người bệnh cần lọc máu.
  • Bệnh thần kinh ngoại biên ở người bệnh Bệnh thận mạn là chỉ định của điều trị thay thế thận, ngoại trừ tổn thương thần kinh trên người bệnh đái tháo đường

Rối loạn nội tiết và chuyển hóa

  • Hormone sinh dục: Ở người bệnh nữ, giảm estrogen gây rối loạn kinh nguyệt, giảm khả năng thụ thai và dễ sảy thai, nhất là khi mức lọc cầu thận giảm còn 40 ml/ph, chỉ có 20% sản phụ của thể sanh được con còn sống và ngược lại, thai kỳ sẽ đẩy nhanh tiến triển của suy thận. Ở người bệnh nam, giảm nồng độ testosteron, rối loạn tình dục, và thiểu sản tinh trùng.
  • Các rối loạn nội tiết này sẽ cải thiện sau điều trị lọc máu tích cực hoặc sau ghép thận thành công.

Tổn thương da

Tổn thương da trên Bệnh thận mạn đang tiến triển đa dạng như

  • Da vàng xanh do thiếu máu, có thể giảm sau điều trị erythropoietin
  • Xuất huyết da niêm, mảng bầm trên da do rối loạn đông cầm máu
  • Da tăng sắc tố do tăng lắng đọng các sản phẩm biến dưỡng tăng sắc tố, hoặc urochrome, triệu chứng này có thể vẫn tồn tại và gia tăng sau lọc máu
  • Ngứa là triệu chứng thường gặp ở người bệnh suy thận mạn và có thể kéo dài ngay sau khi đã được lọc máu.
  • Bệnh da xơ do thận (nephrogenic fibrosing dermopathy) biểu hiện bằng tổn thương xơ tiến triển vùng mô dưới da vùng cánh tay và chân tương tự tổn thương da do phù niêm xơ hóa, xuất hiện ở người bệnh suy thận mạn, thường ở người bệnh đang lọc máu, có kèm dùng gadolinium trong chụp cộng hưởng từ (MRI) là một trong các nguyên nhân gây bệnh

4. ĐIỀU TRỊ BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI

4.1. Mục tiêu của điều trị người bệnh Bệnh thận mạn giai đoạn cuối là

  • Chuẩn bị điều trị thay thế thận khi thận suy nặng
  • Điều chỉnh liều thuốc ở người bệnh suy thận
  • Điều trị các biến chứng của hội chứng urê huyết cao như thiếu máu, suy dinh dưỡng, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa canxi – phospho, rối loạn nước điện giảI
  • Điều trị các biến chứng tim mạch, và các yếu tố nguy cơ.

4.2.  Điều trị triệu chứng

Tuỳ theo bệnh nhân có triệu chứng bất thường nào thì chọn phương pháp điều trị phù hợp

4.3. Chỉ định điều trị thay thế thận

Trừ phi người bệnh từ chối, mọi người bệnh Bệnh thận mạn giai đoạn cuối, với lâm sàng của hội chứng urê huyết cao (thường xảy ra khi độ thanh thải creatinin dưới 15 ml/phút, hoặc sớm hơn ở người bệnh đái tháo đường) đều có chỉ định điều trị thay thế thận.

Các chỉ đinh điều trị thay thế thận:

  • Tăng kali máu không đáp ứng với điều trị nội khoa
  • Toan chuyển hóa nặng (khi việc dùng HCO3 có thể sẽ gây quá tải tuần hoàn).
  • Quá tải tuẩn hòan, phù phổi cấp không đáp ứng với điều trị lợi tiểU
  • Suy dinh dưỡng tiến triển không đáp ứng với can thiệp khẩu phần
  • Mức lọc  cầu  thận  từ  5-10ml/ph/1,73  m2   (  hoặc  BUN  >  100mg/dL, créatinine huyết thanh > 10mg/dL)

Lựa chọn hình thức điều trị thay thế thận

Có ba hình thức điều trị thay thế thận bao gồm:

  • Thận nhân tạo (hoặc thẩm tách máu, hemodialysis, HD)
  • Thẩm phân phúc mạc (peritoneal dialysis, PD)
  • Ghép thận

Có thể lựa chọn một trong ba phương pháp, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể của người bệnh

Bảng 1. Chống chỉ định chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc, ghép thận

Tuyệt đối Tương đối
Thận nhân tạo (HD)

Không có đường lấy máu thích hợp

+ Sợ kim chích

+ Suy tim

+ Rối loạn đông máu

Thẩm phân phúc mạc (PD)

Mất hoàn toàn chức năng của màng bụng.

Sẹo dính trong phúc mạc làm ngăn cản dịch lọc dẫn lưu.

Dịch lọc dò lên cơ hoành.

Không có người giúp thay dịch lọc.

+ Mới mổ ghép động mạch chủ bụng.

+ Có shunt não thất – ổ bụng (trong não úng thủy).

+ Không dung nạp với chứa dịch trong ổ bụng.

+ Suy dinh dưỡng nặng.

+ Nhiễm trùng da.

+  Bệnh  đường  ruột  (viêm  ruột, viêm túi thừa).

+ Béo phì.

Ghép thận

Không có chống chỉ định tuyệt đối

+ Người nhận có nguy cơ thải ghép cao:

phản ứng đọ chéo (cross-match) người nhận-người cho dương tính

+ Sức khỏe người nhận không cho phép thực hiện cuộc mổ.

+ Nhiễm cytomegalovirus (CMV), viêm gan virus C, nhiễm khuẩn đường mật, lao…

+ Bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, xơ gan mất bù, suy tim nặng…

Acamprosate calcium giải phóng chậm – đường uống

TÊN THUỐC: ACAMPROSATE CALCIUM DELAYED-RELEASE – ĐƯỜNG UỐNG (a-KAM-proe-sate KAL-see-um)

TÊN THƯƠNG MẠI: Campral

CÔNG DỤNG:

Thuốc này được sử dụng để giúp những bệnh nhân phụ thuộc vào rượu duy trì tình trạng không uống rượu. Nó nên được sử dụng như một phần của chương trình điều trị toàn diện bao gồm cả tư vấn và hỗ trợ tâm lý. Acamprosate được cho là hoạt động bằng cách khôi phục sự cân bằng tự nhiên của các chất hóa học trong não (chất dẫn truyền thần kinh). Trước khi bắt đầu sử dụng thuốc này, bạn nên ngừng uống rượu. Acamprosate chưa được chứng minh là hiệu quả nếu bạn vẫn đang uống rượu khi bắt đầu dùng thuốc.

CÁCH SỬ DỤNG:

Uống thuốc này qua đường miệng, có hoặc không có thức ăn, theo chỉ định của bác sĩ, thường là ba lần một ngày. Nuốt viên thuốc nguyên vẹn. Không nghiền nát hoặc nhai viên thuốc. Sử dụng thuốc này đều đặn để nhận được lợi ích tối đa từ nó. Hãy nhớ sử dụng vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Liều dùng dựa trên tình trạng sức khỏe của bạn và phản ứng với liệu pháp. Nếu bạn bắt đầu uống rượu trở lại, hãy tiếp tục uống thuốc này nhưng thông báo cho bác sĩ.

TÁC DỤNG PHỤ:

Tiêu chảy, buồn nôn, nôn, đầy hơi, đau dạ dày, chán ăn, đau đầu, buồn ngủ, chóng mặt, táo bón, mệt mỏi, tăng/giảm cân, đau cơ/khớp, thay đổi ham muốn tình dục hoặc giảm khả năng tình dục có thể xảy ra. Nếu bất kỳ tác dụng nào trong số này kéo dài hoặc xấu đi, hãy thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ ngay lập tức. Hãy nhớ rằng bác sĩ của bạn đã kê toa thuốc này vì họ đã đánh giá rằng lợi ích cho bạn lớn hơn nguy cơ của tác dụng phụ. Nhiều người sử dụng thuốc này không gặp tác dụng phụ nghiêm trọng.

Thông báo cho bác sĩ ngay lập tức nếu bất kỳ tác dụng phụ nghiêm trọng nhưng ít gặp nào xảy ra: thay đổi tâm trạng/tâm lý (bao gồm trầm cảm nghiêm trọng, ý nghĩ tự tử), ngất xỉu, nhịp tim nhanh hoặc đập mạnh, thay đổi về thị lực hoặc thính giác, khát nước tăng.

Hãy thông báo cho bác sĩ ngay lập tức nếu bất kỳ tác dụng phụ rất nghiêm trọng nhưng hiếm gặp nào xảy ra: thay đổi lượng nước tiểu, co giật, đau bụng dai dẳng, phân đen/táo, nôn ra chất trông giống như bã cà phê. Phản ứng dị ứng rất nghiêm trọng với thuốc này là khó xảy ra, nhưng hãy tìm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu điều đó xảy ra. Triệu chứng của phản ứng dị ứng nghiêm trọng có thể bao gồm: phát ban, ngứa/sưng (đặc biệt là trên mặt/lưỡi/họng), chóng mặt nghiêm trọng, khó thở.

Đây không phải là danh sách đầy đủ các tác dụng phụ có thể xảy ra. Nếu bạn nhận thấy các tác dụng khác không được liệt kê ở trên, hãy liên hệ với bác sĩ hoặc dược sĩ.

BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA:

Trước khi uống acamprosate, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết nếu bạn bị dị ứng với thuốc này hoặc nếu bạn có bất kỳ dị ứng nào khác. Sản phẩm này có thể chứa các thành phần không hoạt động, có thể gây ra phản ứng dị ứng hoặc vấn đề khác. Hãy nói chuyện với dược sĩ của bạn để biết thêm chi tiết.

Thuốc này không nên được sử dụng nếu bạn có một số tình trạng y tế nhất định. Trước khi sử dụng thuốc này, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ nếu bạn có: bệnh thận nặng.

Trước khi sử dụng thuốc này, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết về tiền sử bệnh của bạn, đặc biệt là: các bệnh thận khác.

Thuốc này có thể làm bạn chóng mặt hoặc buồn ngủ. Không lái xe, sử dụng máy móc, hoặc làm bất kỳ hoạt động nào yêu cầu sự tỉnh táo cho đến khi bạn chắc chắn có thể thực hiện những hoạt động đó một cách an toàn. Tránh đồ uống có cồn.

Thuốc này chỉ nên được sử dụng khi thật sự cần thiết trong thời kỳ mang thai. Thảo luận về các rủi ro và lợi ích với bác sĩ của bạn. Hãy nhớ rằng việc uống một lượng lớn rượu trong thời kỳ mang thai có thể gây ra các vấn đề lâu dài cho em bé của bạn, chẳng hạn như dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, và khuyết tật học tập. Bộ vấn đề này thường được gọi là hội chứng rượu bào thai.

Chưa biết liệu thuốc này có đi vào sữa mẹ hay không. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi cho con bú.

Tương tác thuốc:

Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe của bạn (ví dụ: bác sĩ hoặc dược sĩ) có thể đã biết về bất kỳ tương tác thuốc nào có thể xảy ra và có thể đang theo dõi bạn vì điều đó. Đừng bắt đầu, ngừng hoặc thay đổi liều lượng của bất kỳ loại thuốc nào mà không kiểm tra với họ trước. Trước khi sử dụng thuốc này, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết về tất cả các sản phẩm thuốc kê đơn và không kê đơn/các sản phẩm thảo dược mà bạn có thể sử dụng. Hãy giữ một danh sách tất cả các loại thuốc của bạn bên mình và chia sẻ danh sách đó với bác sĩ và dược sĩ của bạn.

Quá liều:

Nếu nghi ngờ quá liều, hãy liên hệ ngay với trung tâm kiểm soát độc tố hoặc phòng cấp cứu. Các triệu chứng quá liều có thể bao gồm tiêu chảy kéo dài.

Ghi chú:

Đừng chia sẻ thuốc này với người khác. Các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm (ví dụ: xét nghiệm chức năng thận) có thể được thực hiện định kỳ để theo dõi tiến trình của bạn hoặc kiểm tra các tác dụng phụ. Tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn để biết thêm chi tiết. Ngoài ra, hãy giữ tất cả các cuộc hẹn y tế và tham gia tất cả các buổi tư vấn và nhóm hỗ trợ của bạn.

Liều bị bỏ lỡ:

Nếu bạn quên một liều, hãy dùng thuốc ngay khi bạn nhớ. Nếu gần đến thời gian của liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch trình liều thông thường của bạn. Không gấp đôi liều để bù đắp.

Bảo quản:

Lưu trữ ở nhiệt độ phòng 77 độ F (25 độ C) tránh ánh sáng và độ ẩm. Việc lưu trữ ngắn hạn giữa 59-86 độ F (15-30 độ C) là được phép. Không lưu trữ trong phòng tắm. Giữ tất cả thuốc tránh xa trẻ em và thú nuôi. Đừng xả thuốc xuống toilet hoặc đổ vào cống trừ khi có chỉ dẫn làm như vậy. Vứt bỏ sản phẩm này một cách hợp lý khi hết hạn sử dụng hoặc không còn cần thiết nữa. Tham khảo ý kiến dược sĩ hoặc công ty xử lý chất thải địa phương của bạn để biết thêm chi tiết về cách vứt bỏ sản phẩm một cách an toàn.

Thiên môn

Tên khoa học:

Asparagus cocjinchinensis (Lour.) Merr. Họ khoa học: Hành Tỏi (Liliaceae).

Tên khác: Thiên môn đông

Tên tiếng Trung: 天冬

Mô Tả:

Cây Thiên môn
Cây Thiên môn

Dây leo, sống lâu năm, dưới đất có rất nhiều rễ củ mẫm hình thoi. Thân mang nhiều cành 3 cạnh, dài nhọn, biến đổi thành lá giả hình lưỡi liềm. Lá thật rất nhỏ, trông như vẩy. Mùa hạ ở kẽ lá mọc hoa trắng nhỏ. Quả mọng, khi chín màu đỏ (cũng có cây, quả khi chín màu tím đen).

Mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi.

Thu hoạch:

Tháng 10 – 12 ở những cây đã mọc trên 2 năm. Đào về, ruẳ sạch, đồ chín, rút lõi, phơi hoặc sấy khô.

Phần dùng làm thuốc:

Củ rễ (Radix Aspargi). Loại béo mập, cứng, mịn, mầu trắng vàng, hơi trong là loại tốt. Củ dài, gầy, mầu nâu vàng, không sáng là loại vừa.

Mô tả dược liệu:

Củ hình thoi, tròn dài, hai đầu nhỏ nhưng tầy, dài 6-20cm. Mầu trắng vàng hoặc nâu, vàng nhạt, có chất dầu hơi trong. Mặt ngoài có vằn dọc nhỏ hoặc rãnh dọc. Khi khô, chất cứng nhưng dòn. Chưa khô thì chất mềm, dính, chỗ vết bẻ như chất sáp, mầu trắng vàng, hơi trong, giữa có nhân trắng, không trong. Vị ngọt, hơi đắng (Dược Tài Học).

Nguồn gốc:

Đây là rễ củ khô của cây thiên đông thuộc loài thực vật họ bách hợp. Sản xuất chủ yếu ở Qui Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây v.v… Các nơi khác như Hồ Bắc, Triết Giang, Giang Tây cũng có.

Phân biệt tính chất, đặc điểm:

Đây là những miếng mỏng thái vát, to nhỏ không đều, không có vỏ ngoài, màu vàng trắng hoặc màu be vàng nhạt. Bề mặt có vân nhăn rảnh, có thể thấy rõ phần gỗ màu trắng vàng nhạt ở giữa. Riềm chung quanh mặt cắt không đồng đều, như có chất keo, lớp vỏ trong rõ rệt, trung tâm có lõi gỗ, màu vàng trắng, già nửa có dạng trong suốt, chất mềm, tron, vị ngọt hơi đắng. Sau khi nhúng vào nước sôi sờ tay vào thấy dính. Loại nào to con, màu trắng vàng, nửa trong suốt là loại tốt.

Bào chế:

+ Cạo vỏ, bỏ lõi, đồ chín, phơi khô, tẩm rượu 1 đêm, đồ lại, phơi khô dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).

+ Rửa sạch, bỏ lõi, thái phiến, phwoi khô để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Rửa sạch, bỏ lõi, ủ mềm, thái phiến, phơi khô (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Thiên môn
Thiên môn

Bảo quản:

Đậy kín, phòng ẩm, phòng độc.

Thành phần hóa học:

+ Yamogenin, Diosgenin, Sarsasapogenin, Smilagenin, Xylose, Glucose, Rhamnose (Hắc Liễu Chính Điển, Nhật Bản Dược Học Hợp Quyển 107, Trung Y Trung Dược Thủ Sách 1988, 10 (1): 56).

+ Sucrose, Ologosaccharide (Tomoda Masashi và cộng sự, Chem Pharm Bull 1974, 22 (10): 2306).

+ 5-Methoxymethyl fùrural, beta-Sitosterol 5

+ Citrulline, Asparagine, Serine, Threonine, Proline, Glycine, Alanine, Valine, Methionine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Tyrosine, Aspartic acid, Glutamic acid, Histidine, Lysine 6,7

+ Asparagi Cochinchinensisne, b-Sitosterol, Smilagenin, 5-Methoxymethylfùrural, Rhamnose (Trung Dược Học).

+ Trong Thiên môn có acid Amin, chủ yếu là Asparagin, thủy phân trong nước sôi cho Aspactic acid và Amoniac. Ngoài ra, còn có chất nhầy, tinh bột, Sacarosa (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

Tác dụng dược lý:

  • Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Thiên môn có tác dụng ức chế liên cầu khuẩn A và B, Phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn bạch cầu (Trung Dược Học).
  • Tác dụng chống khối u: Nước sắc Thiên môn có tác dụng ức chế Sacroma –180 và Deoxygenase của tế bào bạch cầu ở chuột nhắt bị viêm hạch bạch huyết cấp hoặc viêm hạt bạch huyết mạn (Trung Dược Học).
  • Nước sắc Thiên môn có tác dụng giảm ho, lợi tiểu, thông tiện, cường tráng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Theo các nghiên cứu hiện đại, dược liệu hàm chứa các chất thiên môn đông tố, chất dính, cốc tai thuần B, các thành phần phun-ma-rin, chất nhem, chất nhớt v.v… Có tác dụng chống khuẩn, chống ung thư, diệt ruồi, diệt muỗi.

Tính vị:

+ Vị đắng, tính bình (Bản Kinh).

+ Vị ngọt, tính rất hàn, không độc (Biệt Lục).

+ Vị ngọt, đắng, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Quy kinh:

+ Vào kinh thủ Thái âm Phế, túc Thiếu âm Thận (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Vào kinh thủ Thái âm Phế, thủ Thiếu âm Tâm (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Vào kinh Phế, thận (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Tác dụng:

+ Bảo định Phế khí, khu hàn nhiệt, dưỡng cơ bì, ích khí lực, lợi tiểu tiện (Biệt Lục).

+ Thông Thận khí, trừ nhiệt, chỉ tiêu khát, khử nhiệt trúng phong (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trấn Tâm, nhuận ngũ tạng, ích bì phu, bổ ngũ lao, thất thương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

Chủ trị:

+ Trị hư lao, người gìa suy nhược, gầy ốm, âm nuy, điếc, mắt mờ (Thiên Kim phương).

+ Trị phế khí ho nghịch, suyễn, phế nuy sinh ra nôn ra mủ, ghẻ nước (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trị ho lao, lao phổi, ho ra máu, khát nưóc do bệnh ở thượng tiêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kiêng kỵ:

+ Phế không có hư hỏa mà lại có hàn đàm hoặc đàm ẩm: cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Những cấm kỵ trong khi dùng thuốc:

Những người tỳ vị hư nhược, ăn ít, ỉa lỏng, ho vì bị ngoại cảm phong hàn, đều phải kiêng không được dùng.

Theo “Dược phẩm vựng yếu”

Còn gọi là Diện cức

Khí vị:

Vị đắng ngọt, tính rất hàn, không độc, thuộc loại âm dược, giáng xuông, vào kinh Thủ thái âm và Túc thiếu âm, Địa hoàng, Bối mẫu làm sứ, sợ cá Trắm, cá Chày, cá Chép. Dùng Thiên môn rửa mặt rất sạch.

Chủ dụng:

Bổ hư tổn hao thương, mạnh tinh tủy, nhuận tạng khí, đẹp nhan sắc, tươi da dẻ, giải khát, trừ phiền, tiêu đờm, khỏi ho, giữ gìn khí của Phế không bị nhiệt tà quấy rối, thông khí của Thận, trừ được chứng nhiệt lâm, ngăn huyết nhiệt đi bừa bãi, nhuận phân táo bế kết, ung nhọt mọc ở Phế, Phế nuy thổ ra máu mủ, có thể cứu vãn. Vị đắng thì tiết trệ huyết, vị ngọt thì giúp chân nguyên, tính hàn thì lui được hỏa tà ở Phế, ba điều đó là công dụng của Thiên môn. Lại có thuyết nói: là vị thuốc quý để nhuận Phế, Phế đã nhuận thì 5 tạng đều nhuận. Phàm chứng tinh khô, huyết táo dùng rất thích hợp. lại có thể trừ được mọi chứng phong thấp mạnh, nhiệt độc tê liệt một bên, chứng phong chạy lung tung.

Hợp dụng:

Cùng với Nhân sâm, Hoàng kỳ sắc uống là thuốc định hư suyễn rất hay. Nấu cao với Gừng tươi, mật Ong là thuốc thánh để phá đờm ngoan cố

Cấm kỵ: Vì tính nó chuyên tiết ra mà không thu lại nên chứng trung hàn, hàng hoạt thì kiêng dùng. Vì thế có câu: Người nhiệt thuộc hư thì thần diệu, người hàn thuộc hư thì chớ dùng.

Cách chế:

Ngâm nước sôi, bỏ vỏ và ruột, sấy nóng rồi mang ra chỗ gió mát, làm như thế 2-3 lần tự nhiên khô, không tổn hại đến dược lực.

Nhận xét:

Thiên môn có tác dụng thanh Kim, giáng hỏa, ích cho Thận, cho nên thông được khí của Thận, lại tư bổ Thận, chủ của 5 thứ dịch, dịch ráo thì đông lại thành đờm, được thuốc nhuận thì Phế không khô, Vị ráo thì đờm tự nhiên tiêu. Bởi vì Mạch môn thanh Tâm để bảo Phế, Thiên môn giúp Thủy để nuôi Phê, một đăng cứu ở trên, một bên giúp ở dưới, nhưng đều là bảo hộ Phế cả, có điều có trên dưới hàn nhiệt khác nhau. Cho nên đờm của thấp thổ thì Bán hạ làm chủ, đờm do táo hỏa thì Thiên môn làm chủ, Nếu Tỳ Vị hư hàn mà uống lâu hoặc uống đơn độc thì tất sinh chứng hoạt tràng, tiêu lỏng thành cố tật không chữa khỏi.

GIỚI THIỆU THAM KHẢO

“Hòa tể cục phương”

Bài Cam lộ ẩm

Thục địa 12g, Thạch hộc 15g, Sinh địa 12g, Chỉ xác 10g, mạch môn 12g, Thiên môn 12g, Tỳ bà diệp 12g, Hoàng cầm 10g, Nhân tràn 10g, Cam thảo 5g.

Sắc, chia uống vài lần trong ngày.

Chữa trong Vị có nhiệt tà ân náu, chân răng sưng loét ra mũ máu, mặt simg đỏ đau, miệng lưỡi phá lở, họng sưng đau, hoàng đản, phù nhẹ, ngực đầy, đoản hcri, nhị tiện bỉ kết, có lúc phát nóng.

“Y học tâm ngộ”

Bài Nhị đông thang

Thiên môn đông 8g, Mạch môn đông 12g, Thiên hoa phấn 4g, Cam thảo 2g, Hoàng cầm 4g, Tri mẫu 4g, Nhân sâm 2g, Hà diệp 4g. Sắc, chia uống 2 lần trong ngày.

Chữa Thượng tiêu nóng, khát nhiều, uống nhiều. Trên lâm sàng hiện nay dùng chữa tiểu đường.

“Chứng nhân mạch trị”

Bài Nhị đông nhị mẫu thang

Mạch môn đông 12g, Thiên môn đông 12g, Bối mẫu 8g, Tri mẫu 8g. Sắc, chia uống vài lần trong ngày.

Có tác dụng thanh nhiệt, nhuận táo, chỉ khái.

Chữa nội thương táo đàm, ho không dứt, hoặc Phế nhiệt thân thể phù, ho táo phiền đầy.

“Hướng dẫn sử dụng các bài thuốc”

Bài Thanh phế thang

Hoàng cầm, Cát cánh, Tang bạch bì, Hạnh nhân, Chi tử, Thiên môn, Bối mẫu, Trần bì, Đại táo, Trúc nhự đều 6g; Bạch linh, Đương quy, Mạch môn đều 8g; Cam thảo 3-5g, Ngũ vị tử, Sinh Khương 4-5g.

Sắc, chia uống 3 lần trong ngày.

Áp dung: Những người ho lâu ngày các tế bào Phổi, Khí quản trở thành chai, tiết ra nhiều đờm, đờm đặc rất khổ khạc ra, sinh họng đau, khản tiếng. Đờm có màu vàng xanh hoặc trắng. Bệnh ho này thuộc hư chứng. Các vị thuốc đều bổ âm Phế, liễm khí và ít vị tiêu đàm. Thuốc này không dùng cho bệnh mới phát, nhiệt còn nhiều.

“Y học chính truyền”

Bài Sinh huyết nhuận phu thang

Đương quy 8g, Thục địa 8, Sinh địa 8g, Hoàng kỳ 4g, Thiên môn 16g, Mạch môn 8g, Ngũ vị tử 18 hạt, Qua lâu nhân 4g, Thăng ma 4g, Hoàng cầm 4g, Hồng hoa 4g, Đào nhân 4g.

Sắc, chia uống vài lần trong ngày.

Có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, mát Phế Vị, làm cho da dẻ mềm mại tươi nhuận.

“Y học trung trung tham tây lục”

Bài Trấn can tức phong thang

Ngưu tất 10g, Sinh Giả thạch 10g, Sinh Long cốt 5g, Sinh Mẩu lệ 5g, Sinh Quy bản 5g, Sinh Bạch thược 5g, Thiên môn đông 5g, Xuyên luyện từ 2g, Sinh Mạch nha 2g, Nhân trần 2g, Cam thảo 2g, Huyền sâm 5g.

Sắc, chia uống vài lần trong ngày. Có tác dụng trấn Can, tức phong.

Trị Can phong khuấy động ở trong, Can dương bốc lên, mạch huyền trường hữu lực, hoặc trên thực dưới hư, đầu mắt choáng váng, hoặc đầu đau nhức, phát nóng, mắt sưng, tai ù, hoặc trong Tim phiền nóng, hay ợ hơi, hoặc miệng mắt dần dần méo lệch, hoặc ngã mề man không biết gì.

Chứng của bài này thuộc loại nội phong, bệnh cơ của nó là Can phong dấy động ở trong, Can dương bốc lên, huyết khí cùng xung lên trên mà gây ra.

Nếu nhiều đờm có thể thêm Trúc lịch, Đởm tinh để thanh nhiệt giáng đờm.

Nếu mạch Xích bên tả hư thì thêm Thục địa, Sơn thù để bổ Thận liễm Can.

“Hiệu phỏng tân phương”-Hải Thượng Lãn Ông

Bài Tư thủy nhuận táo phương

Thục địa 2 lạng, Thiên môn 6đ, Mạch môn 6đ, Hắc phụ tử 2đ, Ngũ vị tử 20 hạt, Sữa Người 1 bát to. Các vị trên sắc xong bỏ bã, cho Sữa người vào đun sôi vài dạo, uống ấm.

Chủ trị các chứng: Tiên thiên thủy suy, tinh kiệt, Hậu thiên âm hư huyết kém, trong ngực khó chịu, đau khan, từ cổ họng đến giang môn, trong Tràng Vị đau như giao cắt, chết đi song lại. Suy rộng ra có thể chữa chứng đại tràng mất huyết táo kết và hết thảy các chứng khô cháy, cùng chứng thương hàn nóng hầm.

Phát tán mồ hôi không ra, uống vào ra ngay.

Các phương thuốc bổ dưỡng thường dùng:

Thiên đông chúc (cháo thiên đông)

Thiên môn đông 15 – 20g

Đường phèn vừa phải.

Gạo lức 50 – 100g

Thiên môn đông rửa sạch, cho vào nồi đất, cho nước vừa phải sắc lấy nước đặc, bỏ bã, đổ gạo lức đã vỏ sạch vào nấu cháo, gạo gần chín thì cho đường phèn vào, nấu tiếp khi gạo chín nhừ thì thôi.

Uống ngày 2 lần sớm, tối, uống lúc đang nóng.

Dùng cho người phế thận âm hư, dẫn tới ho khan không có đờm, khạc ra máu, đổ mồ hôi trộm, khô miệng khô hầu, khát mà không muốn uống, quá trưa thường thấy nhiệt độ hạ xuống v.v…

Thiên đông tửu (rượu thiên đông)

Thiên môn đông 60g- Rượu trắng 500ml

Thiên môn đóng rửa sạch đựng vào túi vải thắt miệng túi lại, đặt vào vò, đổ rượu trắng vào bịt kín miệng vò, mỗi ngày lắc vò 1 lần, một tuần sau thì mỗi tuần lắc vò một lần, ngâm trong 30 ngày là được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml.

Dùng cho người thận âm bất túc, dễ cảm ngoại tà và chân tay tê dại, đau đớn do mạch máu mất khả năng điều hoà gây nên.

Thiên đông cao (cao thiên đông)

Thiên môn đông 100g Mật luyện 250g

Thiên môn đông rửa sạch ngâm nước, bỏ vỏ, lõi, giã nát ra lấy nước. Thêm một ít nước lã vào giã tiếp lấy nước 2, nước 3… cả thảy 5 lần. Gộp cả 5 nước vào nồi đất đun sôi, hạ nhỏ lửa sắc còn 3 phần, cho mật luyện đánh tan, cô đặc lại thành cao, đổ vào bình sứ cất đi, 7 ngày sau đem ra dùng. Ngày uống hai lần vào bữa sớm, bữa tối, mỗi lần 1 – 2 thìa canh, uống bằng nước sôi.

Dùng cho người ho khan ít đờm, uống nhiều, đái nhiều, do phế vị âm hư gây nên.

Nhị đông giáp ngủ thang (thang thuốc ba ba, thiên môn đông, mạch đông)

Ba ba 1 con – Câu kỷ tử 5g

Gia vị vừa phải – Thiên môn đông 15g

Bách hợp 10g – Mạch môn đông 15g

Chân giò muối 50g

Làm thịt ba ba, bỏ đầu, lòng ruột, đuôi, móng, rửa sạch bỏ vào nồi, cho nước đun sôi, hạ nhỏ lửa om 20 phút lấy ra, nậy bỏ mai, yếm, chặt miếng nhỏ, cho lẫn cả các vị thuốc trên vào nồi, thêm nước dùng, chân giò muối, rượu gia vị, hành, gừng, ninh tới khi thịt ba ba chín nhừ. uống thang ăn thịt.

Dùng cho người can thận âm hư sinh ra chóng mặt hoa mắt, hai gò má đỏ gay, họng háo mà đau, hay quên, tai ù, ngũ tâm phiền nhiệt, thân nhiệt thấp, đổ mồ hôi trộm, nam giới di tinh, nữ giới hành kinh lượng ít v.v…

Thôi nhũ phương (thuốc tăng sữa)

Thiên môn đông tươi 25 – 50g

Chân giò 1 chiếc

Ninh trước chân giò chừng 20 phút, cho thiên môn đông tươi vào ninh tiếp cho nhừ. Ăn chăn giò, uống thang.

Dùng cho người thiếu sữa do bị rối loạn cũng dưỡng.

Thiên môn đông hồng đường thuỷ (nước đường thiên đông)

Thiên môn đông tươi 150g

Đường đỏ vừa phải

Thiên môn đông rửa sạch bỏ vào siêu đất, cho 3 bát nước sắc lấy 1 bát rưỡi, cho đường đỏ vào đun sôi.

Uống ngày 1 lần; uống liền 3 – 5 lần sẽ có công hiệu rõ rệt.

Dùng cho người kinh nguyệt quá nhiều, đàn bà chửa sau khi mang nặng, bị xuất huyết ở âm đạo và phụ nữ bị tăng thêm tiểu diệp ở tuyến sữa.

Xuân thọ tửu (rượu xuân thọ)

Thiên môn đông, mạch môn đông, thục địa, sinh địa, sơn dược, liên nhục, táo tầu, lượng bằng nhau; cứ 210g hỗn hợp dược trên, cho 2500ml rượu, đựng trong bình kín, đun cách thuỷ, sau đó để tĩnh tại một số ngày sau mới đem ra uống. Uống liên tục tuỳ theo tửu lượng từng người. Bã rượu có thể đem chế thành viên hoàn đem uống.

Dùng cho người âm hư, tinh ít, lại cả chứng đau lưng, râu tóc sớm bạc, thần chí bất ổn định, ăn ít v.v… do tỳ yếu sinh ra. Có tác dụng làm chậm sự suy thoái sớm do âm hư tinh ít gây nên.

Thiên môn đông đồn nhục (Thiên môn đông hầm thịt)

Thiên môn đông 60g Thịt nạc 500g

Thịt nạc thái miếng, rửa sạch, bỏ vào nồi cùng với thiên món đông, cho nước vào đun sôi hầm nhỏ lửa cho tới khi thịt nhừ. Ăn thịt, uống thang.

Dùng cho người suy nhược sau khi đẻ, sữa ít, sắc mặt xanh xao…

Trường sinh cô thể tửu (Rượu cô thể trường sinh)

Nhân sâm 60g

Sinh địa 60g

Hoài sơn dược 60g

Mạch môn đông 60g

Cam câu kỷ 60g

Thiên môn đông 60g

Thục địa 60g

Liêu ngũ vị tử 60g

Rượu 2000ml

Các vị thuốc trên thái miếng, đựng vào túi vải mỏng, ngâm trong rượu, miệng bình rượu dùng lá tre nút thật chặt, đặt bình vào nồi đun cách thuỷ khoảng 30 phút, lấy bình rượu ra hạ thổ một thời gian để xuất hết hoả độc, sau đó đào lên để tĩnh tại một chỗ mà uống. Ngày uống 2 lần sớm, tối, mỗi lần uống một cốc nhỏ.

Dùng cho người khí hư, âm hư, dẫn đèn chân tay bải hoải, rất dễ mệt mỏi, lưng đau gối mỏi, tâm phiền miệng khô, tim đập hốt hoảng nhiều mộng mị, chóng mặt, râu tóc sớm bạc v.v…

Rượu này còn có tác dụng tăng sức khoẻ, dưỡng sinh, người nào thể chất lệch, khí âm bất túc, và những bệnh chứng không rõ rệt khác cũng có thể uống rượu này.

Thanh chưng thiên môn đông (Thiên môn đông hấp cách thuỷ)

Thiên môn đông tươi 60g, xé bỏ vỏ, cho vào bát hấp cách thuỷ cho chín. Pha thêm đường cho vừa, uống chia ba lần.

Dùng chữa u lành ở vú.

Thiên môn đông bối mẩu ẩm (Thuốc sắc thiên đông, xuyên bối)

Thiên môn đông 20g Đường phèn vừa phải

Xuyên bối 10g

Sắc uống ngày 1 thang.

Dùng để chữa bệnh phế hư hữu nhiệt cho người gia, ho lâu không khỏi.

Ngộ nhận: Đánh răng vào buổi sáng ngủ dậy là tốt nhất

Người ta sau một đêm ngon giấc, do đêm nghỉ, tuyến nước bọt ít tiết ra nước bọt nên không có nhiều nước bọt để luôn luôn làm sạch khoang miệng trong đêm, nên vi khuẩn sinh sôi nảy nở nhiều. Nên sau một đêm ngủ dậy phải đánh răng, mới cảm thấy mồm miệng sạch sẽ, dễ chịu. Đó là một cảm giác mà khó có một lúc đánh răng nào khác trong ngày cảm nhận được bằng, nên rất nhiều người cho rằng sáng sớm khi ngủ dậy là thời gian đánh răng tốt nhất, thậm chí có người còn cho rằng không thể không đánh răng vào buổi sáng được; các lúc khác, đánh cũng được, không cũng được, chẳng quan trọng gì. Nhưng các chuyên gia y học về khoang miệng thì lại chỉ ra rằng buổi sáng sớm không phải là lúc đánh răng tốt nhất trong ngày.

Trước hết, chúng ta hãy thử xét xem bệnh sâu răng được phát sinh ra như thế nào và việc đánh răng có tác dụng gì.

Kể từ khi loài người sinh ra, nỗi khổ của bệnh sâu răng mà con người phải chịu đựng nó suốt mấy chục vạn năm rồi, cho mãi đến hơn một trăm năm gần đây, loài người mối thực sự nhận thức ra được nguyên nhân gây bệnh sâu răng này. Đúng vào năm 1890, một bác sĩ nha khoa người Mỹ W.D.Miller đã trình bày một luận văn nổi tiếng với tiêu đề “Vi sinh vật trong khoang miệng con người”. Ông suy đoán rằng: Chất acid nào đó như lactic bám vào bề mặt răng làm mất chất canxi của men răng, từ đó dẫn tới tác dụng làm tiêu chất khoáng, gây nên tình trạng răng bị đục khoét, xói mòn; thế mà loại chất acid trong khoang miệng lại được hình thành dưới tác dụng của vi khuẩn vào đường và các loại hợp chất đường khác bám trên bề mặt răng Năm 1924 trong báo cáo đọc tại Sanmari ở Luân Đôn, nhà khoa học Ơ.K.Coraker đã chỉ rõ: Loại vi khuẩn có khả năng gây ra bệnh sâu răng nhất là một loại liên cầu khuẩn.

Đánh răng thế nào cho đúng
Đánh răng thế nào cho đúng

Vậy loại liên cầu khuẩn đã gây ra bệnh sâu răng như thế nào? Trước hết là chất cặn bã còn lại của thức ăn (đặc biệt là chất cặn bã loại đường) còn bám trên răng làm cho liên cầu khuẩn được sinh sôi nảy nở. Liên cầu khuẩn gặp đường, sản sinh ra tác dụng tụ hợp lại, sinh thành glucosan. Loại glucosan rất dính, nó cùng với liên cầu khuẩn và các vi khuẩn khác kết dính lại và bám chặt vào răng, hình thành các vết chấm khuẩn răng. Trong các vết chấm khuẩn răng này, liên cầu khuẩn làm cho hợp chất đường lên men sinh ra acid hữu cơ (chủ yếu là lactic acid). Lactic acid thông qua tác dụng của decalci và tác dụng của muối dephosphory phân giải chất men của răng, làm cho vi khuẩn xâm nhập vào được trong lòng răng, như vậy là sinh ra sâu răng. Do đó có thể thấy liên cầu khuẩn chính là nguyên nhân dẫn tới sâu răng. Những bã thức ăn và đường trong khoang miệng vừa là lương thực và thực phẩm cung cấp cho liên cầu khuẩn sinh tồn và phát triển, lại vừa là nguyên liệu cho liên cầu khuẩn tạo ra acid hữu cơ. Còn các chấm khuẩn của răng thì lại là môi trường thích hợp nhất cho liên cầu khuẩn sinh sôi nảy nở và tạo ra acid.

Tác dụng của đánh răng là bàn chải răng cọ rửa, có thể tẩy trừ các chất bã thải của thức ăn, của đường và các chấm khuẩn của răng bám trên bề mặt răng. Thuốc đánh răng có thể ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn trong khoang miệng, làm cho các cáu bẩn còn bám trên bề mặt răng dễ bị rơi ra hơn, đồng thời trung hòa với acid hữu cơ. Nước súc miệng thì có thể pha loãng acid hữu cơ ra, đồng thời thải loại các vi khuẩn và các cáu bẩn ra khỏi miệng. Do đó, đánh răng là phương pháp’có hiệu quả nhất đề phòng tránh sâu răng. Điều đặc biệt quan trọng là trước khi đi ngủ buổi tối phải đánh răng; vì khi ngủ, nước bọt trong khoang miệng tiết ra ít, cộng thêm với khi ngủ, không thể thường xuyên uống nước được, như vậy làm cho vi khuẩn rất ít bị xối rửa, acid hữu cơ mà vi khuẩn sinh ra cũng rất ít bị pha loãng. Nếu trước khi ngủ không đánh răng, vi khuẩn sẽ bình an vô sự tác oai tác quái suốt đêm trong khoang miệng và sử dụng đầy đủ các chất bã còn lại của thực phẩm và chất đường còn trong khoang miệng để sản sinh ra nhiều acid hữu cơ, ăn mòn đục khoét răng suốt trong một đêm. Nếu đến sáng hôm sau, mới đánh răng thì lúc đó răng đã bị tổn hại khá nhiều rồi. Qua nghiên cứu khoa học về mặt này, các học giả chỉ rõ trong suốt 8 giờ ngủ ban đêm, tác dụng phá hoại của vi khuẩn và acid hữu cơ đối với răng còn lớn hơn nhiều so với bất cứ sự phá hoại nào của nó trong 8 giờ ban ngày. Do đó, trước khi đi ngủ, đặc biệt phải thông qua đánh răng để làm cho số lượng vi khuẩn ở trong khoang miệng bị giảm đi tới mức thấp nhất, thanh trừ các nguyên liệu mà các vết chấm khuẩn và vi khuẩn bám trên răng nhờ vào đó để tạo nên acid hữu cơ – chất bã còn lại của thức ăn và chất đường.

Vì thế nói đánh răng vào buổi tối trước khi đi ngủ quan trọng hơn nhiều so với đánh răng vào buổi sáng sau khi ngủ dậy. Việc đánh răng vào ban sáng sau khi ngủ dậy thì chẳng khác nào “mất bò mới lo làm chuồng”. Còn việc đánh răng vào buổi tối trước khi đi ngủ chính là thực hiện việc “làm chuồng” để khỏi “mất bò” vậy.

Sỏi Thận và đường tiết niệu

Sỏi Thận

Định nghĩa: là có sỏi trong thận do lắng đọng các chất bình thường tan trong nước tiểu.

Tỷ lệ mắc: tỷ lệ bị sỏi thận là từ 0,1 đến 6% dân số, tuỳ theo nơi, khí hậu (nóng và khô), ăn uông (uống ít nước, dùng các sản phẩm sữa, thức ăn nhiều purin), giổi (hay gặp ở nam giới) và tuổi (hay gặp nhất ở tuổi 25-40 tuổi).

Căn nguyên: yếu tố cơ bản tạo thành sỏi là các muối và các chất chuyển hoá bị quá bão hoà ở trong nước tiểu. Các chất hay gây sỏi nhất là calci, urat, ammoniac, magnesi và cystin.

CÁC YẾU TỔ THUẬN LỢI

  • Nước tiểu ít (<1200 ml/ngày) và đào thải quá nhiều các muối tạo sỏi.
  • pH nước tiểu: pH nước tiểu acid (<5,3) tạo điều kiện cho các urat và cystin kết tủa. pH kiềm tạo điều kiện cho sỏi phosphat.
  • Có các nguyên nhân dẫn đến tạo tinh thể trong nước tiểu: ứ nước tiểu và nhiễm khuẩn có vai trò quan trọng.

SỎI NGUYÊN PHÁT

  • Calci niệu cao (calci huyết cao không rõ rệt).
  • Acid uric niệu cao (acid uric huyết cao không rõ rệt).
  • Không phát hiện được rối loạn chuyển hoá (khoảng 25% số trường hợp).

SỎI THỨ PHÁT

  • Rối loạn chuyển hoá:

+ Calci huyết cao và calci niệu cao: ưu năng tuyến cận giáp nguyên phát, cung cấp quá nhiều vitamin D, bất động lâu ngày, sarcoidose, u tân sinh.

+ Calci niệu cao, calci huyết không cao:

+ Calci niệu cao không rõ nguyên nhăn: rối loạn có tính gia đình, có hấp thu calci quá mạnh ở ống tiêu hoá ngay cả với chế độ ăn uống bình thường và tăng đào thải calci theo đường niệu.

+ Calci niệu cao thứ phát: nhiễm acid do ống lượn xa, sarcoidose, bệnh Cushing, bệnh to cực tiến triển, ưu năng tuyến giáp, thận bọt biển, các thuốc lợi tiểu quai (furosemid), nằm bất động lâu ngày.

+ Acid uric niệu cao (xem bệnh gút) gây sỏi uric.

+ Cystin niệu (xem bài này).

+ Dùng các thuốc gây sỏi (ví dụ, triamteren).

+ Oxalat niệu cao (xem bài này): yếu tố thuận lợi cho tạo sỏi calci mạnh hơn là calci niệu cao.

+ Các nguyên nhân khác: lượng nước tiểu ít, pH nước tiểu quá
kiềm hoặc quá acid, magnesi niệu thấp, citrat niệu thấp.

  • Bệnh ở thận:

+ Nhiễm khuẩn tạo urease (loài Proteus) ở đường niệu gây ra sỏi phosphat.

+ Bệnh thận có tắc nghẽn, ví dụ các dị dạng ở chỗ bể thận- niệu quản.

+ Thận bọt biển (10-15% các loại sỏi).

+ Nhiễm acid do ống lượn xa.

Bản chất sỏi: hơn 80% số sỏi có từ hai thành phần hoá học trở lên.

SỎI CALCI: sỏi oxalat calci (50%) hoặc phosphat calci (25%). sỏi cản quang. Thường có calci niệu cao, ít khi có oxalat niệu cao. Các nguyên nhân hay gặp nhất là calci niệu cao không rõ nguyên nhân hay thứ phát (xem ở trên), acid uric niệu cao (các tinh thể oxalat calci được tạo thành trong nước tiểu acid), ưu năng tuyến cận giáp nguyên phát. Có các loại:

  • Sỏi chỉ có oxalat calci: chứng tỏ có calci niệu cao và oxalat niệu cao.
  • Sỏi có oxalat calci + phosphat magnesi và phosphat ammoni: có calci niệu cao trong điều kiện nhiễm khuẩn chuyển hoá urê (phân giải urê như proteus) ở đường niệu.
  • Sỏi oxalat calci + phosphat calci: calci niệu cao, nước tiểu kiềm do ống thận kém acid hoá nước tiểu.
  • Sỏi oxalat calci + acid uric: calci niệu cao, nước tiểu rất acid và/hoặc có acid uric niệu cao.
  • sỏi oxalat calci +cystin: gặp trong cystin niệu.

SỎI PHOSPHAT (15% số trường hợp): các sỏi phosphat ammoni- magnesi ít cản quang hơn sỏi phosphat calci. Các sỏi này được hình thành ở bể thận khi có nhiễm vi khuẩn sinh urease (loại proteus) thuận lợi cho việc tạo sỏi (MgNH4P04) trong môi trường kiềm. Đưa dụng cụ, ống thông vào đường niệu và bị rối loạn thần kinh bàng quang là các yếu tố thuận lợi.

SỎI URIC (5% số trường hợp): sỏi không cản quang, sỏi được tạo thành trong môi trường acid, nhất là trong bệnh gút, hội chứng tủy tăng sinh nhất là trị liệu làm tăng acid uric trong nước tiểu, tiêu chảy, nối thông ruột non.

SỎI CYSTIN (1% số trường hợp): hiếm gặp, thường có tính gia đình. Sỏi ít cản quang. Chi tiết xem bài cystin niệu.

SỎI XANTHIN: gặp trong bệnh xanthin niệu có tính gia đình và trong trị liệu bằng allopurinol (ức chế xanthin oxydase).

Triệu chứng: sỏi thận thường không có triệu chứng hoặc gây đái ra máu. Triệu chứng kinh điển là cơn đau quặn thận (xem bài này) xuất hiện khi sỏi làm tắc nhiều đài thận, bể thận hoặc niệu quản, sỏi niệu quản gây đau dữ dội. Nên khám toàn diện ngay cả khi cơn đau đầu tiên qua đi và không để lại di chứng nào vì:

  • Sỏi thận có thể tái phát và cần phải có biện pháp phòng tái phát.
  • Sỏi thận có thể là biểu hiện của rối loạn chuyển hoá hay do một bệnh ở thận có thể bị bỏ qua.

Thời điểm khám toàn diện rất quan trọng. Nên tiến hành ngay lúc có cơn đau hoặc 2-3 tháng sau, khi bệnh nhân đã trở lại cuộc sống bình thường; bệnh nhân không cần phải nằm viện và vẫn ăn uống bình thường, không dùng thuốc, sỏi thận cũng có thể biểu hiện qua các biến chứng: đái ra máu đại thể, thận ứ nước (xem bệnh này), nhiễm khuẩn đường tiết niệu, sốc nhiễm khuẩn.

Xét nghiệm cận lâm sàng: với các bất thường trong cơn đau quặn thận xem bài này.

NƯỚC TIỂU BUỔI SÁNG

  • Đo pH nước tiểu.
  • Soi cặn nước tiểu dưới kính hiển vi: thường có nhiều hồng cầu. Nếu có một loại tinh thể chiếm đa số thì điều này có thể chỉ dẫn về bản chất hoá học của sỏi. Nếu nghi ngờ bị cystin niệu thì cần tìm các tinh thể cystin trong nước tiểu được acid hoá bằng acid acetic đóng băng sau khi nghỉ ngơi 12-24 giò.
  • Cấy nước tiểu: nếu nghi ngờ có nhiễm khuẩn hoặc nếu trong nước tiểu có nhiều bạch cầu và vi khuẩn.

MÁU LÚC ĐÓI

  • Calci huyết: làm lại ít nhất hai lần cùng với việc định lượng protein toàn phần trong máu (để loại trừ rối loạn calci huyết do rối loạn protein huyết).
  • Hormon tuyến cận giáp: chỉ định lượng khi calci huyết rất cao.
  • Creatinin huyết: để đánh giá chức năng thận.

NƯỚC TIỂU 24 GIỜ: là một xét nghiệm quan trọng, thường bị bỏ qua. Cần lấy nước tiểu khi bệnh nhân ăn chế độ tự do. Phải đo:

  • Thể tích nước tiểu 24 giờ:cho phép phát hiện những người uống ít, có nước tiểu cô đặc, người mất nhiều mồ hôi sau khi vận động mạnh mà không uống đủ nước.
  • Calci niệu:với chế độ ăn bình thường mà có calci niệu trên 0,125 mmol/kg hay 4 mg/kg là có bệnh lý. Nếu calci huyết bình thường thì calci niệu cao có thể do các nguyên nhân sau:
  • Chế độ ăn uống có nhiều calci, ăn nhiều chế phẩm sữa, uống thuốc (thuốc chống acid có chứa carbonat calci, vitamin D, các thuốc “tăng lực” có chứa calci).
  • Calci niệu cao không rõ nguyên nhân (xem bài này) do thận hay do hấp thu calci quá mạnh.
  • Nhiễm acid do ống lượn xa: bệnh hiếm gặp, pH nước tiểu bao giờ cũng cao hơn 6, không có nhiễm khuẩn đường niệu và nhiễm acid chuyển hoá có tăng clo huyết.
  • Urat niệu: có acid uric niệu cao nếu trên 4,5 mmol hay 760 mg urat/ngày (ở phụ nữ ăn chế độ bình thường); trên 4,8 mmol (800 mg) ở nam giới. Nếu acid uric huyết cao thì sỏi thận là biến chứng của bệnh gút. Nếu acid uric huyết nằm trong giới hạn bình thường thì là do chế độ ăn giàu purin. Acid uric niệu cao có thể có calci niệu cao kèm theo do ức chế tái hấp thu calci ở ống thận.
  • Natri niệu:natri niêụ cao (> 200 mEq/ngày) là dấu hiệu cho thấy chế dộ ăn quá nhiều natri. Nước tiểu quá nhiều natri có thể ức chế tái hấp thu calci ở ống thận và gây calci niệu cao.
  • Oxalat niệu cao(xem bài này): có thể là nguyên phát, do thức ăn (nhiều oxalat), hay do ruột (hấp thu mạnh ở ruột non).
  • Citrat niệu thấp:bài tiết citrat dưới 350 mg/24 giờ tạo điều kiện cho sự hình thành sỏi calci, nhất là sỏi calci không rõ nguyên nhân.
  • Creatinin niệu:cho phép kiểm tra xem thu nước tiểu có đủ không. Nam giới có tuổi và cân nặng trung bình đào thải từ 7 đến 16 mmol/ngày (800 đến 1800mg/ngày). Phụ nữ đào thải từ 5,3 đến 14 mmol/ngày (600- 1600mg/ngày).

Xét nghiệm bổ sung

  • Chụp bụng không chuẩn bị: các sỏi axalat hay phosphat calci (90% số sỏi) đều ít nhiều cản quang, sỏi cystin khó thấy còn các sỏi chỉ có urat thì không cản quang.
  • Chụp đường niệu qua đường tĩnh mạch: cho phép phát hiện sỏi không cản quang và sỏi trong, cản trỏ trên đường dẫn nước tiểu, thận bọt biển, thận ứ nước.
  • Chụp siêu âm: cho phép phát hiện sỏi có đường kính từ 3-4 mm cũng như thận ứ nước do tắc nghẽn.

Phân tích sỏi: phân tích sỏi bằng cách lọc nước tiểu qua màng lọc hay qua can thiệp. Bao gồm việc phân tích hình thể dưới kính hiển vi, phân tích thành phần bằng quang phô kế hồng ngoại và nhiễu xạ tia X, sắc ký.

  • Sỏi oxalat calci: sỏi cứng, không đều, xù xì, màu nâu-xám.
  • Sỏi urat: tròn, khá nhẵn, màu vàng, cứng. Có các thể hình dáng không nhất định, dễ võ.
  • Sỏi cystin: tròn, nhẵn, màu vàng.

Chẩn đoán

  • Đau ở vùng thận, cơn đau quặn thận.
  • Đái ra máu.
  • Đôi khi bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bàng quang bị kích thích, có hạt sỏi trong nước tiểu.
  • Thấy sỏi trên X quang hay chụp siêu âm.

Biến chứng: vô niệu do sỏi, ứ nước tiểu, nhiễm khuẩn đường tiết niệu (xem bài viêm bể thận), viêm thận kẽ mạn tính.

Tiên lượng: có thể loại bỏ sỏi có đường kính dưới 6 mm mà không cần phẫu thuật. Sỏi thận có thể nguy hiểm do các biến chứng, nhất là nhiễm khuẩn và sốc do nhiễm khuẩn huyết.

Điều trị

NGOẠI KHOA: cần lấy sớm các sỏi lớn gây tắc nghẽn hay gây nhiễm khuẩn.

LẤY SỎI BẰNG NỘI SOI: có thể lấy đi một số sỏi ở vùng niệu quản thấp bằng phương pháp nội soi với các ống thông đặc biệt dùng trong soi niệu quản.

TÁN SỎI NGOÀI CƠ THỂ: các sóng xung động được truyền qua nước và chụm vào viên sỏi cản quang (với điểu kiện sỏi không có cystin, có đường kính < 3cm, nằm trong đài thận hay bể thận), sỏi ở phần cao và phần giữa niệu quản phải được đẩy lên bể thận bằng nội soi. Tán sỏi không cần phải gây mê và phá được sỏi trong 90-95% số trường hợp.

LẤY SỎI THẬN HAY SỎI Ở BỂ THẬN QUA DA: đặt một ống thông vào bể thận rồi tán sỏi bằng nội soi. Kỹ thuật khó, chỉ áp dụng với sỏi ở bể thận.

Phòng ngừa sỏi

BIỆN PHÁP CHUNG

  • Tìm những nguyên nhân có thể gây ra sỏi thận, nhất là nguyên nhân gây calci huyết cao. Phát hiện các yếu tố thuận lợi (nhiễm khuẩn, bệnh đường tiết niệu có tắc nghẽn, thận bọt biển, dị dạng đường tiết niệu) và điều trị.
  • Đi tiểu nhiều: dù nguyên nhân gây sỏi hay bản chất hoá học của sỏi là gì thì bệnh nhân phải uống đủ nước, nhất là vào mùa hè, để có lượng nước tiểu ít nhất là 2 lít/ngày. Lượng nước uống phải được phân bố trong 24 giờ. Bệnh nhân cần uống nước trước lúc đi ngủ và ban đêm (nếu thức dậy). Cách này khó thực hiện, đòi hỏi sự tham gia của bệnh nhân, huấn luyện bệnh nhân đo và ghi lượng nước tiểu của mình nếu có thể được.
  • Chế độ ăn uống:(xem trongbài sỏi thận) trong trường hợp có calci niệu cao, acid uric niệu cao, oxalat niệu cao. Giảm muồi nếu có calci niệu cao do chế độ ăn có nhiều muối.

BIỆN PHÁP ĐẶC HIỆU

  • Sỏi calci và oxalat calci:

+ Tăng calci niệu không rõ nguyên nhân: uống nhiều nước. Nếu chế độ ăn ít calci mà calci niệu không giảm thì dùng thuốc lợi niệu thiazidic hoặc kết hợp amilorid và hydrochlorothiazid.

+ Oxalat niệu cao: ngoài chế độ ăn ít oxalat, không dùng vitamin c và điều trị kém hấp thu mỡ, nên dùng succinimid Sauba (SmithKline Beecham) 9g/ngày nhưng không dùng trong trường hợp có thai.

  • Sỏi phosphat:chữa bệnh thận có tắc nghẽn làm nhiễm khuẩn kéo dài. Dùng kháng sinh trong các đợt cấp nhưng thường hay bị tái phát. Nếu nước tiểu luôn luôn kiềm (pH lớn hơn 7,5) thì dùng các chất làm cho nước tiểu acid (acid phosphoric, acid mandelic). Để ngăn ngừa hình thành sỏi, nên dùng thuốc ức chế urease như acid acetohydroxamic (xem thuốc này).
  • Sỏi uric:nếu bị bệnh gút thì dùng allopurinol. Allopurinol cũng được dùng trong các trường hợp calci niệu cao thứ phát vì acid uric niệu cao do thức ăn mà bệnh nhân lại không chịu được chế độ ăn nghèo purin. Kiềm hoá nước tiểu (pH cao hơn 6,5) bằng trometamol kết hợp với citrat natri hay bằng nước khoáng Vichy Célestins (1 chai = 3,5g hay 40 mmol bicarbonat) hoặc trometamol kết hợp với citrat natri.
  • Sỏi cystin (hiếm) xem bài cystin niệu.

SỎI BÀNG QUANG

Căn nguyên: do ứ nước tiểu (u xơ tuyến tiền liệt, bệnh ở cổ bàng quang, rối loạn thần kinh bàng quang) và nhiễm khuẩn đường niệu có vai trò hàng đầu trong bệnh lý sỏi bàng quang.

Triệu chứng: khó tiểu tiện, đái rắt, cảm giác mót giả (cảm giác khó chịu vì không thải được nước tiểu). Hay bị nhiễm khuẩn đường niệu tái phát. Sỏi có thể rất lớn, thường là sỏi cản quang. Có thể phát hiện sỏi bằng chụp phim không chuẩn bị, chụp đường niệu qua tĩnh mạch, chụp siêu âm cắt lớp hay trực tiếp qua soi bàng quang.

Điều trị: có thể phá các sỏi nhỏ qua đường nội soi. Với sỏi lớn thì cần phẫu thuật qua bàng quang và chữa nguyên nhân gây tắc nghẽn làm cho bàng quang không thải hết (u xơ tuyến tiền liệt, sa bàng quang).

Những Điều Cần Biết Về Em Bé Ngôi Mông

Em Bé Ngôi Mông Là Gì?

Hướng đến cuối thai kỳ, em bé của bạn sẽ lớn đến mức không thể di chuyển nhiều trong tử cung của bạn. Vào thời điểm này, hầu hết các em bé đã nằm trong tư thế đầu xuống. Chúng sẽ vào ống sinh với đầu trước khi sinh. Một em bé ngôi mông có đầu hướng lên và được sinh ra từ phần mông và chân trước. Việc sinh em bé ngôi mông có một số rủi ro liên quan và cần được chăm sóc đặc biệt.

Hầu hết các em bé đều nằm đầu xuống khi chúng sẵn sàng ra khỏi tử cung của bạn. Tư thế này, được gọi là tư thế đỉnh đầu, là tư thế phổ biến nhất. Đây cũng là tư thế an toàn nhất cho việc sinh qua âm đạo.

Một em bé ngôi mông sẽ trình bày với mông và có thể là chân. Phần mông của em bé sẽ được sinh ra trước, tiếp theo là cơ thể, và cuối cùng là đầu (một tình huống được gọi là đầu sau). Sinh ngôi mông là một thách thức đối với bác sĩ sản khoa của bạn và có nguy cơ cao hơn cho bạn và em bé của bạn.

Nếu được sinh ra an toàn, các em bé ngôi mông sẽ có một thời gian đầu đời không gặp vấn đề gì. Sự phát triển, tăng trưởng và sức khỏe của chúng trong suốt cuộc đời không bị ảnh hưởng bởi việc sinh ra chân trước.

Ngoài tư thế đỉnh đầu và ngôi mông, em bé cũng có thể nằm ngang. Tư thế này được gọi là nằm ngang và thường yêu cầu sinh mổ.

Nguyên Nhân Của Em Bé Ngôi Mông

Rất phổ biến để em bé ngôi mông ở giai đoạn đầu của thai kỳ. Nhưng đến 36 đến 37 tuần, hầu hết em bé đã tự nhiên quay về tư thế đầu xuống. Khoảng 3% đến 4% vẫn nằm ở tư thế ngôi mông cho đến cuối thai kỳ.

Thông thường, đó chỉ là một cơ hội mà em bé của bạn không quay và vẫn ở tư thế ngôi mông. Dưới đây là một số yếu tố làm tăng khả năng có một em bé ngôi mông:

  • Thai lần đầu: Khả năng em bé của bạn ở tư thế ngôi mông cao hơn.
  • Oligohydramnios: Nước ối quá ít trong tử cung của bạn quanh em bé. Nước ối quá nhiều (polyhydramnios) cũng làm tăng khả năng có em bé ngôi mông.
  • Bám nhau thai thấp: Một nhau thai nằm thấp.
  • Mang thai đa thai: Sinh đôi hoặc hơn.

Triệu Chứng Của Em Bé Ngôi Mông

Thai kỳ của bạn sẽ không có gì khác biệt. Một em bé ngôi mông không gây ra nhiều hay ít buồn nôn, nôn mửa, hay các triệu chứng thai kỳ khác. Nhưng bạn sẽ cảm thấy những cú đá của em bé ở phần dưới bụng. Bạn có thể cảm thấy đầu của em bé như một cục cứng bên dưới xương sườn của bạn.

Bác sĩ sản khoa của bạn có thể nhận biết rằng bạn có em bé ngôi mông bằng cách cảm nhận bụng của bạn. Một siêu âm cũng sẽ cho thấy vị trí của em bé.

Em Bé Ngôi Mông Có Thể Được Quay Không?

Bác sĩ sản khoa của bạn có thể đề nghị bạn thực hiện phiên quay đầu ngoài (ECV) vào khoảng 36 tuần. Bác sĩ sản khoa sẽ cố gắng quay em bé của bạn để đưa đầu xuống bằng cách áp lực lên bụng của bạn. Bạn có thể thấy hơi khó chịu một chút, nhưng đây là phương pháp an toàn cho em bé của bạn.

Bác sĩ sản khoa có thể tiêm thuốc cho bạn để thư giãn tử cung của bạn. Điều này giúp họ cảm nhận và quay em bé của bạn. Nếu ECV không thành công, bạn và bác sĩ có thể quyết định thử lại vào ngày khác. Thủ tục này có thể được thử cho đến giai đoạn đầu của chuyển dạ.

ECV có hiệu quả trong khoảng 50% trường hợp. Nếu nó thành công với bạn, em bé của bạn sẽ ra ngoài với đầu trước (tư thế đỉnh đầu). Hầu hết các em bé ngôi mông được sinh ra bằng phương pháp sinh mổ. Sử dụng ECV để quay em bé của bạn mang lại cho bạn cơ hội sinh qua âm đạo.

ECV là một thủ tục an toàn. Nhưng bạn có thể gặp phải tình trạng chảy máu từ nhau thai. Nhịp tim của em bé có thể trở nên không đều. Bác sĩ sản khoa có thể phải thực hiện một ca sinh mổ khẩn cấp. Điều này xảy ra chỉ trong một trường hợp trong 200, nhưng bạn nên thực hiện ECV tại bệnh viện có khả năng thực hiện sinh mổ khẩn cấp.

Sinh Em Bé Ngôi Mông

Bạn nên thảo luận về các tùy chọn sinh của mình với bác sĩ sản khoa của bạn trước một thời gian. Hai tùy chọn của bạn là sinh ngôi mông qua âm đạo và sinh mổ theo kế hoạch. Sinh mổ theo kế hoạch an toàn hơn cho em bé của bạn.

Sinh qua âm đạo cho em bé ngôi mông của bạn tương tự như đối với em bé đỉnh đầu. Bạn sẽ có những lựa chọn tương tự về giảm đau, kẹp dây rốn và thuốc. Nhưng bạn nên chọn một bệnh viện có thể thực hiện một ca sinh mổ khẩn cấp ngay lập tức nếu cần. Khoảng 40% em bé ngôi mông cần sinh mổ khẩn cấp ngay cả khi sinh qua âm đạo đã được lên kế hoạch. Bệnh viện sẽ có một bác sĩ nhi có mặt trong ca sinh để quản lý bất kỳ vấn đề nào mà em bé ngôi mông của bạn có thể gặp phải.

Bác sĩ sản khoa có thể khuyên bạn không nên cố gắng sinh qua âm đạo nếu:

  • Em bé của bạn là ngôi mông chân (một hoặc cả hai chân nằm dưới mông)
  • Em bé của bạn lớn hơn hoặc nhỏ hơn bình thường
  • Em bé ngôi mông của bạn có đầu nghiêng về phía sau (căng duỗi)
  • Nhau thai nằm thấp trong tử cung của bạn (nhau thai thấp)
  • Bạn có bất kỳ biến chứng nào của thai kỳ, chẳng hạn như tiền sản giật.

Sinh Mổ Em Bé Ngôi Mông

Bác sĩ của bạn có thể khuyên bạn nên sinh mổ theo kế hoạch vào tuần thứ 39. Đến lúc đó, phổi của em bé bạn đã trưởng thành. Hầu hết phụ nữ không chuyển dạ trước thời gian này. Sinh mổ theo kế hoạch là an toàn nhất cho em bé của bạn. Các ca sinh mổ được thực hiện sau khi chuyển dạ đã bắt đầu có kết quả kém hơn.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đã lên kế hoạch sinh mổ, nhưng chuyển dạ bắt đầu trước thời gian đó? Bạn nên đến bệnh viện ngay lập tức. Bác sĩ sản khoa của bạn sẽ đánh giá bạn. Nếu chuyển dạ của bạn đã tiến triển và em bé gần được sinh ra, họ có thể quyết định rằng sinh qua âm đạo là an toàn hơn.

Mặc dù sinh mổ theo kế hoạch là tốt nhất cho em bé của bạn, nhưng nó có một số rủi ro cho bạn, bao gồm:

  • Mất máu quá nhiều
  • Huyết khối trong chân
  • Nhiễm trùng vết mổ
  • Tổn thương hệ thống tiết niệu của bạn trong quá trình phẫu thuật
  • Tăng khả năng phải sinh mổ trong các thai kỳ sau.

Rủi Ro Của Em Bé Ngôi Mông

Phần lớn nhất của em bé là đầu của chúng. Trong tư thế đỉnh đầu, nếu đầu không thể đi qua ống sinh, có thể thực hiện sinh mổ. Đầu của em bé ngôi mông bị mắc kẹt sau khi toàn bộ cơ thể đã được sinh ra. Đây là một tình huống nguy hiểm.

Dây rốn của em bé bạn có thể bị chèn ép, cắt đứt nguồn cung cấp máu và oxy. Điều này có thể dẫn đến tổn thương não trong vòng vài phút.

Nếu nước ối của bạn vỡ, dây rốn có thể ra ngoài trước khi chuyển dạ bắt đầu, đây là một tình huống cực kỳ nguy hiểm.

Các em bé ngôi mông có khả năng cao hơn mắc chứng loạn sản hông bẩm sinh, một tình trạng gây ra sự trật khớp của khớp hông. Tình trạng này cũng được gọi là loạn sản phát triển của hông (DDH) và trật khớp hông bẩm sinh (CDH). Một siêu âm về hông từ 4 đến 6 tuần sau sinh sẽ phát hiện tình trạng này.

Bạn và em bé ngôi mông của bạn có khả năng cao sẽ khỏe mạnh sau khi sinh miễn là bạn chọn một bệnh viện được trang bị tốt cho việc sinh nở. Kết quả lâu dài cho các em bé ngôi mông không khác biệt giữa việc sinh qua âm đạo hay sinh mổ.

Chẩn đoán và điều trị uốn ván ở trẻ em

Uốn ván là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do vi khuẩn kỵ khí sinh ngoại độc tố Clostridium tetani gây ra với biểu hiện đặc trưng là dấu hiệu cứng hàm và các cơn co cứng, co giật cơ. Cách lây thông thường là qua vết thương bị nhiễm bẩn.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Dựa vào các triệu chứng:

  • Cứng hàm.
  • Nuốt khó, nói khó.
  • Tăng động, kích thích, cứng gáy, cứng tay chân.
  • Co cứng cơ bụng, cổ, lưng, có tư thế ưỡn cong ngựời.
  • Thường tìm thấy vết thương.

Chẩn đoán phân biệt

  • Viêm não, màng não do vi khuẩn hoặc

+ Có thay đổi ý thức các mức độ.

+ Cơn co giật.

+ Thay đổi dịch não tuỷ.

+ Không có dấu hiệu cứng hàm.

  • Áp xe thành sau họng có triệu chứng cứng hàm.

+ Không có dấu hiệu co cứng cơ bụng, cơ lưng.

+ Không có tiền sử vết thương.

  • Hạ calci máu.

+ Không có dấu hiệu cứng hàm

+ XN: calci máu giảm rõ rệt, đặc biệt là calci ion hoá.

ĐIỀU TRỊ

  • Để bệnh nhân trong phòng yên tĩnh.
  • Săn sóc vết thương: rất quan trọng nếu có các vết thương phải nhanh chóng cắt lọc, lọc sạch mảnh vụn đặc biệt vết thương có lỗ thủng sâu, bỏ hết các mô chết, tránh băng kín.
  • Thông thoáng đường thở, thở oxy nếu cần thiết.
  • Mở khí quản và hỗ trợ hô hấp khi bệnh nhân có những cơn co cứng gây tím tái hoặc ngừng thở liên tục.
  • Cho ăn qua ống thông: bảo đảm ăn lỏng, dễ tiêu, đủ năng lượng, đề phòng tai biến trào ngược^
  • Tránh táo bón.
  • Đặt thông bàng quang nếu trẻ bí đái.
  • Kháng độc tố: huyết thanh SAT ngựa tiêm bắp 500 – 1000 đv/kg (nếu SAT người dùng từ 3000 – 6000UI) tuỳ theo mức độ vết thương (thử phản ứng trước khi tiêm).
  • Điều trị cơn giật.

+ Barbituric 0,1 – 0,2mg/kg uống hoặc tiêm bắp hoặc tĩnh mạch mỗi 3-6 giờ.

+ Diazepam: 3 – 10mg/kg/24 giờ chia đều trong ngày tuỳ theo mức độ giật.

  • Kháng sinh:

Penicillin 100.000 đv/kg/24 giờ chia 6 lần trong 7 ngày.

  • Đề phòng viêm phổi (Cấy dịch đờm) và nhiễm khuẩn tiết niệu (Cấy nước tiểu).
  • Tiêu chuẩn ra viện
  • Hết sốt.
  • Không còn các cơn cứng cơ, đi lại được, nuốt và nói được.
  • Các tổn thương khác (nếu có) hồi phục hoàn toàn.

 

Các mối lo âu khi mắc ung Thư Vú

Khi biết mình mắc ung thư vú, trải qua quá trình điều trị và hồi phục có thể ảnh hưởng đến cả sức khỏe tinh thần và cảm xúc của bạn.

Về mặt cảm xúc, bất kỳ điều gì trong số này có thể mang đến nhiều cảm giác khác nhau, bao gồm cả sự sợ hãi và lo lắng. Nghiên cứu cho thấy khoảng 1 trong 4 người mắc ung thư cho biết họ cảm thấy rất lo âu.

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy lo âu và cảm giác này không biến mất hoặc trở nên tồi tệ hơn, có thể bạn mắc một tình trạng sức khỏe tâm thần gọi là rối loạn lo âu. Các triệu chứng có thể cảm thấy áp lực và có thể cản trở cuộc sống hàng ngày của bạn hoặc mong muốn tham gia vào tất cả các buổi điều trị ung thư vú. Đó là lý do tại sao rất quan trọng để tìm đến bác sĩ để được giúp đỡ.

Nếu bạn được chẩn đoán mắc rối loạn lo âu, đội ngũ chăm sóc sức khỏe của bạn có thể đề xuất các phương pháp điều trị giúp giảm triệu chứng. Họ cũng có thể giới thiệu bạn đến một chuyên gia sức khỏe tâm thần, như nhà tâm lý học hoặc bác sĩ tâm thần, người có thể dạy bạn các cách quản lý lo âu.

Các Dấu Hiệu của Lo Âu

Bạn có thể có các triệu chứng như:

  • Luôn cảm thấy lo lắng
  • Gặp khó khăn trong việc “tắt suy nghĩ”
  • Khó tập trung, giải quyết vấn đề hoặc học thông tin mới
  • Cảm thấy bồn chồn hoặc không yên
  • Thường xuyên khóc
  • Cáu kỉnh, dễ nổi giận hoặc nóng tính
  • Ngủ kém
  • Nhịp tim nhanh, tay run hoặc cơ bắp căng thẳng

Nếu bạn có một hoặc nhiều triệu chứng này gần như mỗi ngày và chúng khiến bạn không thể sống cuộc sống bình thường, hãy tìm đến bác sĩ để được giúp đỡ.

Mối Liên Hệ Giữa Ung Thư Vú và Lo Âu

Không chỉ riêng việc được chẩn đoán ung thư vú mà nhiều yếu tố khác cũng có thể khiến một số người phát triển lo âu.

Trong khi bạn đang điều trị, bất kỳ số điều nào cũng có thể khiến bạn có khả năng mắc rối loạn lo âu cao hơn. Rủi ro của bạn tăng lên nếu bạn:

  • Đã từng có lo âu trong quá khứ hoặc tại thời điểm chẩn đoán
  • Đã trải qua chấn thương về thể chất hoặc tinh thần trong quá khứ
  • Không có nhiều người thân hoặc bạn bè để hỗ trợ bạn
  • Không nhận được đủ giảm đau từ thuốc
  • Có ung thư vú không cải thiện với điều trị
  • Gặp khó khăn trong các hoạt động như tắm rửa hoặc tự ăn uống

Sau khi bạn hoàn tất điều trị, lo âu của bạn có thể gia tăng khi bạn:

  • Ít gặp đội ngũ điều trị hơn
  • Nhận thấy bất kỳ thay đổi nào về sức khỏe của bạn
  • Quay trở lại công việc và cuộc sống gia đình

Nếu ung thư của bạn đi vào giai đoạn thuyên giảm, nỗi sợ nó quay trở lại cũng có thể khiến lo âu của bạn gia tăng, đặc biệt là trước các cuộc hẹn kiểm tra y tế và khi chờ đợi kết quả xét nghiệm.

Liệu Pháp Tâm Lý Có Thể Giảm Lo Âu của Bạn Như Thế Nào?

Một chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể cung cấp cho bạn các phương pháp giúp bạn quản lý lo âu trước, trong và sau quá trình điều trị ung thư vú.

Bạn có thể yêu cầu bác sĩ giới thiệu bạn đến một nhà tâm lý học, tư vấn viên hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khác có kinh nghiệm trong việc giúp đỡ người mắc ung thư vú.

Các buổi trị liệu một-một có thể giúp bạn nói chuyện về những nỗi sợ hãi của mình, bao gồm cả những nỗi lo liên quan đến các thay đổi trong cuộc sống hoặc cơ thể của bạn. Một loại liệu pháp nói chuyện gọi là liệu pháp hành vi nhận thức cũng có thể giúp bạn hiểu và thay đổi các mô hình suy nghĩ làm gia tăng lo âu.

Các buổi nhóm với những bệnh nhân ung thư vú khác có thể mang lại cho bạn sự hỗ trợ tinh thần bằng cách kết nối bạn với những người hiểu những gì bạn đang trải qua. Đối với một số người, sự kết hợp giữa liệu pháp cá nhân và nhóm là hiệu quả nhất.

Tùy thuộc vào tình huống và nhu cầu cá nhân của bạn, một số loại điều trị tâm lý khác có thể giúp là:

  • Tư vấn cho cặp đôi hoặc gia đình
  • Tư vấn khủng hoảng
  • Nhóm tự lực
  • Đào tạo thư giãn, như thôi miên, thiền, hình ảnh hướng dẫn, hoặc phản hồi sinh học

Khi bạn chọn một chuyên gia sức khỏe tâm thần, hãy hỏi xem họ có sẵn lòng thực hiện một cuộc gọi giới thiệu ngắn với bạn không. Điều đó có thể giúp bạn xác định xem họ có phù hợp với bạn không. Đảm bảo rằng bạn:

  • Cảm thấy an toàn khi mở lòng với họ
  • Cảm thấy họ đang lắng nghe bạn
  • Tin rằng họ có thể giúp bạn

Nếu sau một vài buổi bạn không cảm thấy thoải mái với tư vấn viên, hãy xem xét gặp một chuyên gia sức khỏe tâm thần khác.

Các Loại Thuốc Có Thể Giúp Giảm Lo Âu

Một số người mắc ung thư có thể hưởng lợi từ việc dùng thuốc chống lo âu một mình hoặc kết hợp với liệu pháp. Loại thuốc này có thể giảm bớt sự sợ hãi, sự căng cơ, khó ngủ và các triệu chứng khác.

Một số thuốc chống trầm cảm cũng có thể giúp điều trị các rối loạn lo âu. Nếu bạn đang dùng liệu pháp hormone tamoxifen như một phần của điều trị ung thư vú, hãy lưu ý rằng một số loại thuốc chống trầm cảm có thể làm giảm hiệu quả của nó, bao gồm:

  • Bupropion (Wellbutrin)
  • Duloxetine (Cymbalta)
  • Fluoxetine (Prozac)
  • Paroxetine (Paxil)
  • Sertraline (Zoloft)

Hãy hỏi bác sĩ của bạn liệu một loại thuốc chống lo âu hoặc thuốc chống trầm cảm có phù hợp với bạn không, và yêu cầu họ giải thích lợi ích và rủi ro.

Một Số Cách Khác Để Giảm Lo Âu

Ngoài liệu pháp tâm lý và thuốc, bạn có thể thực hiện một số điều khác để giúp giảm bớt lo âu:

  • Tích cực vận động trong suốt cả ngày. Các hoạt động thể chất như đi bộ, tập thể dục, yoga và thái cực quyền có thể giúp ích. Quan trọng là hãy hỏi bác sĩ về những gì an toàn cho bạn trong quá trình điều trị hoặc hồi phục.
  • Ngủ đủ giấc. Hãy cho đội ngũ chăm sóc của bạn biết nếu bạn gặp khó khăn trong việc đi vào giấc ngủ hoặc duy trì giấc ngủ. Nếu bạn uống caffeine hoặc rượu, hãy hạn chế lượng bạn tiêu thụ – đặc biệt là vào cuối ngày. Không nên uống caffeine ít nhất 6 giờ trước khi đi ngủ, và không uống rượu ít nhất 4 giờ trước khi đi ngủ.
  • Thử các kỹ thuật thở sâu và thư giãn. Ví dụ, bạn có thể làm theo các bước sau:
    1. Nhắm mắt và hít thở sâu.
    2. Tập trung vào từng phần cơ thể và thư giãn các cơ bắp trong đó. Bắt đầu từ ngón chân đến đầu.
    3. Khi cảm thấy bình tĩnh hơn, hãy hình dung một nơi mà bạn cảm thấy thư giãn (như bãi biển hoặc đường mòn trên núi).

Một số điều khác có thể giúp giảm lo âu của bạn bao gồm:

  • Chế độ ăn uống cân bằng
  • Thời gian chất lượng bên người thân
  • Thiền
  • Viết nhật ký
  • Hình ảnh hướng dẫn
  • Âm nhạc liệu pháp
  • Liệu pháp hương liệu
  • Cầu nguyện

Albuterol dung dịch trộn sẵn cho trẻ em – hít, AccuNeb

TÊN THUỐC GỐC: DUNG DỊCH TRỘN SẴN ALBUTEROL CHO TRẺ EM – HÍT (al-BUE-ter-ol)
TÊN THƯƠNG HIỆU: AccuNeb

Cách Sử Dụng Thuốc | Tác Dụng Phụ | Biện Pháp Cảnh Giác | Tương Tác Thuốc | Quá Liều | Ghi Chú | Liều Bị Bỏ Lỡ | Bảo Quản

CÔNG DỤNG:

  • Albuterol (còn được biết đến với tên salbutamol) được sử dụng để điều trị tình trạng thở khò khè và khó thở do các vấn đề về hô hấp như hen suyễn.
  • Sản phẩm này được sử dụng cho trẻ em hoặc người lớn cần liều thấp hơn của thuốc này. Albuterol thuộc nhóm thuốc được gọi là thuốc giãn phế quản.
  • Nó hoạt động trong đường hô hấp bằng cách mở rộng các đường hô hấp và thư giãn các cơ. Kiểm soát các triệu chứng của vấn đề hô hấp có thể giảm thời gian mất đi từ công việc hoặc trường học.

CÁCH SỬ DỤNG:

Đọc tờ thông tin cho bệnh nhân do dược sĩ cung cấp trước khi bạn bắt đầu sử dụng thuốc này và mỗi lần bạn nhận thuốc lại.

Thuốc này được sử dụng với một máy đặc biệt gọi là máy xông khí dung (nebulizer) để chuyển đổi dung dịch thành sương mù mịn mà bạn hít vào.

Hãy học tất cả các hướng dẫn sử dụng thuốc này và máy xông khí dung. Một phụ huynh hoặc người lớn có trách nhiệm nên giám sát trẻ em khi sử dụng thuốc này.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ, dược sĩ hoặc chuyên gia hô hấp. Sản phẩm này nên trong suốt và không màu hoặc màu vàng nhạt.

Trước khi sử dụng, hãy kiểm tra sản phẩm này một cách trực quan để phát hiện các hạt hoặc sự đổi màu. Nếu có bất kỳ điều gì trong số đó, không sử dụng dung dịch.

Thuốc này không yêu cầu trộn trước khi sử dụng. Sử dụng một miệng ống hoặc mặt nạ với máy xông khí dung, hít vào liều thuốc được kê đơn vào phổi của bạn, thường là 3 hoặc 4 lần mỗi ngày theo nhu cầu hoặc theo chỉ định của bác sĩ.

Mỗi lần điều trị thường mất khoảng 5 đến 15 phút. Chỉ sử dụng thuốc này qua máy xông khí dung. Không nuốt dung dịch. Không trộn với các loại thuốc khác trong máy xông khí dung của bạn. Để ngăn ngừa nhiễm trùng, hãy làm sạch máy xông và miệng ống/mặt nạ theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Liều lượng được xác định dựa trên tình trạng sức khỏe, độ tuổi, trọng lượng cơ thể và phản ứng với điều trị của bạn. Không tăng liều hoặc sử dụng thường xuyên hơn liều đã được kê đơn mà không có sự chấp thuận của bác sĩ.

Nếu bạn sử dụng các loại thuốc hen suyễn khác (bao gồm các thuốc hít), hãy hỏi bác sĩ về cách sử dụng đúng thuốc này cùng với các loại thuốc hen suyễn khác của bạn.

Nếu thuốc này không còn hiệu quả, hoặc nếu các triệu chứng hô hấp của bạn trở nên tồi tệ hơn, hoặc nếu bạn cần sử dụng thuốc này thường xuyên hơn bình thường, hãy tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức.

TÁC DỤNG PHỤ:

Cảm giác lo âu, run (tremor), khô miệng/họng hoặc kích ứng, ho, chóng mặt, đau đầu, khó ngủ, hoặc buồn nôn có thể xảy ra.

Nếu bất kỳ tác dụng nào trong số này kéo dài hoặc xấu đi, hãy báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ ngay lập tức.

Hãy nhớ rằng bác sĩ đã kê đơn thuốc này vì họ đã đánh giá rằng lợi ích đối với bạn lớn hơn nguy cơ của tác dụng phụ.

Nhiều người sử dụng thuốc này không gặp tác dụng phụ nghiêm trọng. Hãy thông báo cho bác sĩ ngay lập tức nếu bất kỳ tác dụng phụ nào trong số này xảy ra: nhịp tim nhanh/mạnh, chuột rút/cơ yếu.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bất kỳ tác dụng phụ hiếm gặp nhưng rất nghiêm trọng nào xảy ra: đau ngực, nhịp tim không đều. Hiếm khi, thuốc này đã gây ra sự trầm trọng đột ngột (hiếm khi dẫn đến tử vong) của các vấn đề hô hấp/hen suyễn (co thắt phế quản nghịch lý).

Nếu bạn trải qua tình trạng thở khò khè đột ngột, hãy tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức. Một phản ứng dị ứng rất nghiêm trọng với thuốc này là hiếm.

Tuy nhiên, hãy tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào của một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, bao gồm: phát ban, ngứa/sưng (đặc biệt là trên mặt/lưỡi/họng), chóng mặt nghiêm trọng, khó thở.

Đây không phải là danh sách đầy đủ các tác dụng phụ có thể xảy ra. Nếu bạn nhận thấy các tác dụng khác không được liệt kê ở trên, hãy liên hệ với bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn.

BIỆN PHÁP CẢNH GIÁC:

Trước khi dùng albuterol, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết nếu bạn bị dị ứng với thuốc này; hoặc nếu bạn đã từng có phản ứng nghiêm trọng với các thuốc tương tự (ví dụ: metaproterenol, terbutaline); hoặc nếu bạn có bất kỳ dị ứng nào khác.

Trước khi sử dụng thuốc này, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết về tiền sử bệnh của bạn, đặc biệt là: các vấn đề về tim (ví dụ: nhịp tim không đều, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim), huyết áp cao, tiểu đường, nồng độ kali thấp trong máu, co giật, tuyến giáp hoạt động quá mức (cường giáp).

Thuốc này có thể làm bạn chóng mặt. Không lái xe, sử dụng máy móc, hoặc thực hiện bất kỳ hoạt động nào cần sự tỉnh táo cho đến khi bạn chắc chắn có thể thực hiện các hoạt động đó một cách an toàn. Hạn chế đồ uống có cồn.

Trước khi phẫu thuật, hãy cho bác sĩ hoặc nha sĩ biết rằng bạn đang sử dụng thuốc này. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc này ở người lớn tuổi vì họ có thể nhạy cảm hơn với tác dụng của nó, đặc biệt là các tác dụng lên tim.

Trong thời kỳ mang thai, thuốc này chỉ nên được sử dụng khi thực sự cần thiết. Hãy thảo luận về các rủi ro và lợi ích với bác sĩ của bạn.

Chưa biết liệu thuốc này có đi vào sữa mẹ hay không. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi cho con bú.

TƯƠNG TÁC THUỐC:

Bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn có thể đã biết về bất kỳ tương tác thuốc nào có thể xảy ra và có thể đang theo dõi bạn.

Không bắt đầu, ngừng, hoặc thay đổi liều lượng của bất kỳ loại thuốc nào trước khi kiểm tra với bác sĩ hoặc dược sĩ.

Tránh dùng thuốc ức chế MAO (ví dụ: furazolidone, isocarboxazid, linezolid, moclobemide, phenelzine, procarbazine, rasagiline, selegiline, tranylcypromine) trong vòng 2 tuần trước, trong hoặc sau khi điều trị bằng thuốc này.

Trong một số trường hợp, một tương tác thuốc nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong có thể xảy ra.

Trước khi sử dụng thuốc này, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết về tất cả các sản phẩm kê đơn và không kê đơn/thảo dược mà bạn có thể sử dụng, đặc biệt là: các loại thuốc giống adrenaline (ví dụ: ephedrine, epinephrine), một số thuốc chẹn beta (như propranolol), digoxin, thuốc chống trầm cảm ba vòng (ví dụ: amitriptyline, nortriptyline), “thuốc lợi tiểu” (như furosemide, hydrochlorothiazide).

Kiểm tra nhãn trên tất cả các loại thuốc của bạn (ví dụ: sản phẩm ho và cảm lạnh, sản phẩm hỗ trợ giảm cân) vì chúng có thể chứa các thành phần có thể làm tăng nhịp tim hoặc huyết áp. Hãy hỏi dược sĩ về việc sử dụng các sản phẩm đó một cách an toàn.

Tài liệu này không chứa tất cả các tương tác có thể xảy ra. Do đó, trước khi sử dụng sản phẩm này, hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết về tất cả các sản phẩm bạn đang sử dụng.

Giữ một danh sách tất cả các loại thuốc của bạn bên mình và chia sẻ danh sách đó với bác sĩ và dược sĩ.

QUÁ LIỀU:

Nếu nghi ngờ quá liều, hãy liên hệ ngay với trung tâm kiểm soát chất độc địa phương hoặc phòng cấp cứu.

Những điểm phải chú ý khi áp dụng châm cứu ở mắt

Vô khuẩn tốt với dụng cụ (kim, hộp, pince, bông, gạc)

Bằng nhiệt độ 150°c trong 20 phút, kim có thể ngâm cồn 75°, trong 30 phút, bộ kim thì tốt nhất mỗi bệnh nhân một hộp riêng.

Da bệnh nhân được sát khuẩn bằng cồn Iode 1%, sau đó lau bằng cồn 70°, tránh cồn rơi vào mắt gây bỏng.

Tay thầy thuốc cần rửa sạch bằng xà phòng và cồn 75°.

Chọn huyệt có 3 cách chọn huyệt chính

Chọn huyệt quanh mắt

Chọn huyệt theo kinh lạc.

Kết hợp chọn huyệt gần mắt và theo kinh lạc.

Kim châm

Có nhiều loại chất liệu khác nhau: bằng đồng, bằng sắt, bằng thép, bạc vàng, nhưng hiện nay dùng thép không gỉ (vừa bền, vừa cứng, vừa dẻo ít gãy).

về to nhỏ và dài ngắn, châm dùng trong điều trị bệnh mắt thường dùng loại dài 15mm, 30mm, 50mm đường kính 0,26mm, 0,32mm, 0,38mm.

Kim phải thẳng không được cong, đầu nhọn, không có mấu.

Kỹ thuật châm

Chọn đúng huyệt, phối hợp tốt các huyệt.

Châm đúng hướng.

Đạt được cảm giác châm tê, căng, nóng đau không phải là cảm giác cần, có lợi cho điều trị mà do kỹ thuật, kim cùn, chạm mạch V….

Hình thức kích thích cơ thể:

+ Ân, day tại huyệt.

+ Châm bằng kim kích thích tay.

+ Châm kim kích thích điện.

+ Tiêm thuốc như vitamin B 12 vào huyệt.

+ (Một số tác giả dùng siêu âm và laser kích thích trên các huyệt).

Với kích thích tôn trọng nguyên tắc: bệnh mối đau tức, chói cộm, kích thích dùng cường độ mạnh, tần số cao (tả). Với bệnh mạn tính, thoái hoá, liệt, teo, dùng kích thích nhẹ, tần số thấp (bổ) với những huyệt ở hốc mắt, châm ấn không vê và chạm vật cản không ấn tiếp, cẩn thận khi châm người cẩn thị nặng và cạo huyết áp.

Số huyệt dùng:

+ Hằng ngày chỉ nên châm 2 đến 4 huyệt.

Thay phiên châm không nên cố định một huyệt, tránh xơ hoá.

+ Hang ngày hay cách ngày 1 lần.

+ Mỗi lần châm từ 15 đến 20 phút.

+ Một liệu trình 10 ngày, nên nghỉ từ 3-5 ngày rồi lại tiếp liệu trình sau.

Những tai biến và cách xử lý

Nhìn chung ít tai biến. Tuy nhiên đã xảy ra những tai biến như ngất xỉu, chảy máu, nhiễm khuẩn, gãy kim, châm vào các tạng phủ phía trong, kể cả nhãn cầu.

Nguồn gốc tai biến:

Không giải thích kỹ cho bệnh nhân, bệnh nhân sợ châm vào mắt.

Tiến hành châm trong khi bệnh nhân mệt mỏi, đói, hay khát.

Thầy thuốc trong quá trình chuẩn bị dụng cụ, thực hiện quy chế vô khuẩn không nghiêm ngặt.

Lần đầu tiên, tốt nhất khi châm là bệnh nhân nằm, cẩn thận khi châm các huyệt quanh hốc mắt ở bệnh nhân cận thị nặng.

Tai biến có thể gặp

Ngất xỉu

Xảy ra khi châm bệnh nhân đang trạng thái mệt, đói khát, bệnh nhân toát mồ hôi lạnh, da nhợt nhạt, chân tay bủn rủn, ngã, mạch nhanh, huyết áp hạ.

Xử lý:

Rút kim ra.

Đặt bệnh nhân nằm đầu thấp, ấn huyệt nhân trung hay hợp cốc.

Mùa hè mở cửa cho thoáng, mùa đông đắp chăn ấm và cho uống nước ấm.

Cần thiết tiêm một ống spartein hay spartocamphre dưới da, bệnh nhân sẽ hồi phục.

Chảy máu

Hay gặp khi châm một số huyệt có nhiều mạch máu như thái dương và huyệt quanh nhãn cầu. Bệnh nhân hay kêu đau khi châm, báo hiệu châm vào mạch, trường hợp này khi rút kim nên phân đoạn và ấn để hạn chế chảy máu. Thường máu tự tiêu trong vòng 10 ngày. Trường hợp quá nặng có thể tiêm hyasa tại chỗ, uống alpha chimotrypsin hay tam thất.

Nhiễm khuẩn

ít gặp, do không tôn trọng nguyên tắc vô khuẩn, trong trường hợp xảy ra phải dùng kháng sinh. Để tránh bệnh lây bao gồm cả bệnh AIDS, mỗi bệnh nhân nên có hộp kim riêng.

Gãy mũi kim

Xẩy ra khi chất lượng kim không tốt hay bệnh nhân thay đổi tư thế. Trường hợp này này bảo bệnh nhân quay lại tư thế cũ và dùng pince lấy ra.

Các Bệnh Tiểu Cầu (tiểu cầu suy nhược, loạn chức năng tiểu cầu)

Tên khác: tiểu cầu suy nhược, loạn chức năng tiểu cầu

Triệu chứng

Thường thấy chấm xuất huyết, vết bầm máu (bầm tím), khối máu tụ, chảy máu cam và chảy máu da, niêm mạc, xuất hiện đặc biệt sau khi bị một chấn thương không đáng kể. Thời gian chảy máu kéo dài. Số lượng tiểu cầu vẫn bình thường, nhưng tiểu cầu bị thiếu hụt về chất lượng, tuy hình thể của chúng có thể vẫn bình thường hoặc bị biến đổi.

Các thể lâm sàng

BỆNH TIỂU CẦU MẮC PHẢI: tiểu cầu thể hiện những bất thường chức năng, đôi khi cả bất thường hình thái (loạn dưỡng) thấy trong bệnh xơ gan, suy thận mạn tính (urê- huyết), trong những trường hợp globulin huyết thanh không bình thường (ví dụ bệnh đa u tủy xương, bệnh macroglobulin-huyết, bệnh globulìn-huyết tủa lạnh, V..V…), trong những bệnh tạo keo, bệnh thiếu Vitamin c, trong những trường hợp ngộ độc (acid acetylsalicylic, phenacetin,. thuốc chống viêm không Steroid, Clofibrat, chloral), hoặc sau phẫu thuật tim- phổi chạy tuần hoàn ngoài cơ thể.

BỆNH TIỂU CẦU NGUYÊN PHÁT, BẨM SINH HOẶC THỂ TRẠNG

  • Bệnh tiểu cầu suy nhược Glanzmann (ban xuất huyết chảy máu di truyền):bệnh di truyền (nhiễm sắc thể thân kiểu lặn), hiếm gặp, đặc hiệu bởi chảy máu dưới da và niêm mạc (đôi khi chảy máu cam rất nặng) nhưng không giảm tiểu cầu. Thường có những dấu hiệu: thời gian chảy máu kéo dài, cục máu đông không co, những test ngưng tụ tiểu cầu in vitrokhông bình thường. Lực kháng mao mạch giảm (dấu hiệu dây thắt dương tính). Có glycoprotein GP la bất thường.
  • Hội chứng Bernard và Soulier (loạn dưỡng tiểu cầu xuất huyết bẩm sinh):bệnh di truyền (nhiễm sắc thể thân kiểu lặn), đặc hiệu bởi có những tiểu cầu khổng lồ xuất hiện trong máu ngoại vi. Những tiểu cầu này có một hạt nhiễm sắc giống như một nhân tế bào. Tiểu cầu không ngưng tụ khi có sự hiện diện của ristocein. Thời gian chảy máu kéo dài. Mức tiêu thụ prothrombin và lực kháng mao mạch bình thường. Có glycoprotein GP Ilb và GP nia bất thường.
  • Hội chứng Naegeli:bệnh tiểu cầu di truyền kiểu trội đặc hiệu bởi những bất thường hình thái và chức năng của tiểu cầu, với các triệu chứng: ban xuất huyết, chảy máu dưới da, niêm mạc và chảy máu tiết niệu sinh dục. Thời gian chảy máu kéo dài, cục máu đông không co, lực kháng mao mạch giảm (dấu hiệu dâ 7 thắt dương tính).
  • Hội chứng Chediak-Higashi (xem hội chứng này): đôi khi bao gồm cả những bất thường về ngưng tụ tiểu cầu.
  • Hội chứng May-Hegglin(xem hội chứng này): bao gồm sự xuất hiện những tiểu cầu khổng lồ trong máu, giảm số lượng tiểu cầu, và những bất thường của các bạch cầu hạt.
  • Hội chứng Hermansky-Pudlak: bất thường về khả năng ngưng tụ của tiểu cầu, các tế bào võng trong tủy xương nhiễm sắc tố, và chứng bạch tạng mắt-da.
  • Thiếu cyclo-oxygenase:thường đi kèm những bất thường về khả năng ngưng tụ của tiểu cầu. Bệnh di truyền nhiễm sắc thể thân kiểu trội.
  • Hội chứng tiểu cầu màu xám và bệnh tiểu cầu “rỗng nguồn”: bệnh bẩm sinh, di truyền nhiễm sắc thể thân kiểu trội, đặc hiệu bởi thiếu dự trữ tiểu cầu.
  • Hội chứng tiểu cầu Montreal:giảm số lượng tiểu cầu với những tiểu cầu khổng lồ ngưng tụ tự phát.

Cách sử dụng kính ở người cao tuổi

Đặc điểm về mắt ở người cao tuổi:

cuộc sống con người có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường thiên nhiên, bao gồm các vếu tô như không khí, ánh sáng, vi sinh vật, vi khuan, virus, các tia bức xạ.

Mắt và cơ thể là khối thống nhất. Đặc biệt ở người cao tuổi có những diễn biến không bình thường trong cơ thể (ở các tế bào, các phủ tạng, hệ thần kinh, hộ tuần hoàn…) đều tác động đến các giác quan, nhất là đối với giải phẫu và sinh lý của cơ quan thị giác.

Ở tuổi từ 45 trở lên, không kể đến các yếu tố bệnh lý, những biến đổi sinh lý cũng có tác động đến chức năng thị giác, phổ biến nhất là hiện tượng giảm khả năng điều tiết của mắt và xuất hiện lão thị.

Thế nào là lão thị:

Mắt điều tiết bình thường cho phép đọc được rõ ràng và không mệt mỏi ở khoảng cách 30 cm (khả năng này sẽ giảm dần theo tuổi tác). Khi nhìn gần ở khoảng cách 33 cm, nếu cảm thấy khó chịu, không rõ là bắt đầu lão thị.

Thời gian bị lão thị tùy vào mỗi người, nhưng thường xảy ra ở tuổi 45 và cũng có thể xuất hiện sớm ở những người có chế độ dinh dưỡng kém hay thường xuyên phải làm việc nặng nhọc. Khi đó khoảng cách từ mắt đến điểm gần ngày càng xa (điểm gần xa chừng nào thì khả năng điều tiết xa chừng ấy).

Sự suy giảm khả năng điều tiết theo tuổi liên quan đến quá trình nhân của thể thủy tinh to, cơ mi yếu đi không còn khả năng làm giãn dây treo của thủy tinh và tới bao của thể thủy tinh, do đó làm giảm tính đàn hồi của dây treo và bao thể thủy tinh.

Cách phát hiện lão thị:

Lão thị xuất hiện ở tuổi trung niên (từ 40 – 50 tuổi). Khi nhìn gần, đặc biệt khi đọc ở khoảng cách 33 cm, cảm thấy khó khăn hoặc nhìn mờ. Nhưng khi để xa (ngoài 33 cm) thì có thể đọc được, nhưng thấy chóng mỏi mắt, đôi khi nhức đầu sau lúc làm việc hoặc vào buổi chiều.

Lão thị có thể xuất hiện sớm ở người bị viễn thị, bị tiểu đường do khả năng điều tiết giảm, bị glôcôm. khi nhìn thấy thì mờ, để xa mới rõ do đồng tử bị giãn rộng và cơ mi bị liệt nhẹ. Trái lại, lão thị xuất hiện chậm ở người cận thị.

Sử dụng kính lão thị:

Khi phát hiện lão thị, cần phải điều chỉnh bằng kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác. Có người không dùng kính, sợ làm tăng nhanh số kính, điều này hoàn toàn không có cơ sở. Thật ra một số ít người lão thị không dùng kính, cố gắng để xa vẫn đọc được, có khi phải nheo mắt để nhìn rõ nhất là dưới ánh sáng tốt. Nhưng sau khi đọc hay sau một ngày làm việc mệt mỏi, có khi bị nhức trán, nhức đầu do mắt phải điều tiết quá mức.

Người lão thị thì dùng kính hội tụ (kính lão), nên dùng kính không có màu để đọc, nhìn gần. Không nên dùng kính có độ quá cao hoặc quá thấp so với yêu cầu, làm mắt phải điều tiết nhiều gây mệt mỏi. Kính tốt là đọc được rõ ràng, dùng lâu vẫn cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái, chất lượng của kính còn phụ thuộc vào kỹ thuật làm kính, độ nặng của gọng, độ chênh của mắt kính và khoảng cách giữa kính và mắt.

Thông thường dùng kính sau 3 – 5 năm phải thay số. Chú ý hiện tượng lão suy tí mắt có thể xảy ra sớm ở những người đọc viết nhiều. Nếu dùng kính lâu (quá 5 năm) vẫn đọc được hoặc dùng kính thấp hơn số đang dùng lại thấy rõ hơn. Hiện tượng đó cho thấy đã bắt đầu đục thủy tinh thể. Khi đó cần đi khám để chuẩn đoán chính xác.

Kính lão thị cho người viễn thị:

Viễn thị là một tật khúc xạ do đường kính trước sau của nhãn cần ngắn hơn bình thường (khả năng này cũng có thể xảy ra ở người trẻ tuổi). Nếu để quá lâu mới phát hiện bị viễn thị thì khả năng điều chỉnh là khó khăn.

Khi dùng kính lão thị, số kính ở người viễn thị sẽ cao hơn sô kính ở người chính thị (người không có tật khúc xạ).

Kính dùng cho người cao tuổi cận thị:

Cận thị là một tật khúc xạ do đường kính trước sau của nhãn cầu quá dài (cận thị trục), giác mạc quá cong hoặc do lực khúc xạ của thủy tinh thể quá cao (cận thị khúc xạ). Cận thị có thể là một bệnh của toàn bộ nhãn cầu gây tổn hại ở củng mạc, màng bồ đào và võng mạc. Đây là loại “cận thị bệnh” hoặc “cận thị ác tính” sẽ gây nhiều biến chứng trầm trọng rất nguy hại đối với chức năng thị giác.

Việc sử dụng kính ở người cao tuổi phải được đến bác sĩ để khám và đo cho chính xác để sử dụng kính hợp lý.

Điều trị bệnh gan do rượu

Điều trị thành công bệnh gan do rượu (ARLD) thường phụ thuộc vào việc người bệnh có sẵn sàng ngừng uống rượu và thay đổi lối sống hay không.

Ngừng uống rượu

Điều trị Bệnh gan do rượu bao gồm việc ngừng uống rượu. Điều này được gọi là cai rượu, và có thể là điều rất quan trọng tùy vào giai đoạn của bệnh.

Nếu bạn mắc bệnh gan nhiễm mỡ, tổn thương có thể được phục hồi nếu bạn cai rượu trong một thời gian (có thể là vài tháng hoặc vài năm).

Sau đó, thường an toàn để bắt đầu uống lại nếu bạn tuân thủ hướng dẫn của NHS về đơn vị rượu. Tuy nhiên, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi uống trở lại.

Nếu bạn mắc bệnh Bệnh gan do rượu nặng hơn (viêm gan do rượu hoặc xơ gan), cai rượu suốt đời là điều được khuyến nghị.

Điều này là do việc ngừng uống rượu là cách duy nhất để ngăn ngừa tổn thương gan tiếp tục diễn tiến và có thể ngăn chặn cái chết do bệnh gan.

Ngừng uống rượu không dễ dàng, đặc biệt vì ước tính có khoảng 70% người mắc Bệnh gan do rượu gặp vấn đề với phụ thuộc vào rượu.

Tuy nhiên, nếu bạn bị xơ gan hoặc viêm gan do rượu và không ngừng uống, không có phương pháp điều trị y tế hoặc phẫu thuật nào có thể ngăn ngừa suy gan.

Tác hại của rượu
Tác hại của rượu với gan của bạn

Triệu chứng cai rượu

Nếu bạn cai rượu, bạn có thể gặp các triệu chứng cai.

Những triệu chứng này sẽ nghiêm trọng nhất trong 48 giờ đầu, nhưng sẽ bắt đầu cải thiện khi cơ thể bạn dần thích nghi với việc không có rượu. Thông thường, quá trình này kéo dài từ 3 đến 7 ngày kể từ lần uống rượu cuối cùng.

Nhiều người ban đầu sẽ gặp vấn đề về giấc ngủ khi cai rượu, nhưng trong hầu hết các trường hợp, giấc ngủ của họ sẽ trở lại bình thường trong vòng một tháng.

Trong một số trường hợp, bạn có thể được khuyên giảm dần lượng rượu một cách có kế hoạch để tránh các vấn đề về cai rượu.

Bạn cũng có thể được cung cấp thuốc gọi là benzodiazepine và liệu pháp tâm lý, chẳng hạn như liệu pháp hành vi nhận thức (CBT), để hỗ trợ quá trình cai.

Một số người cần ở lại bệnh viện hoặc tại các trung tâm phục hồi chức năng chuyên biệt trong giai đoạn cai rượu ban đầu để theo dõi tiến trình của họ một cách chặt chẽ.

Nếu bạn ở nhà, bạn sẽ thường xuyên gặp y tá hoặc chuyên gia y tế khác. Họ có thể đến nhà, tại phòng khám GP của bạn, hoặc tại dịch vụ chuyên khoa NHS.

Ngăn ngừa tái phát

Sau khi ngừng uống, bạn có thể cần điều trị thêm để đảm bảo không bắt đầu uống lại.

Phương pháp điều trị đầu tiên thường là liệu pháp tâm lý. Điều này liên quan đến việc gặp gỡ một nhà trị liệu để nói về suy nghĩ, cảm xúc của bạn và cách chúng ảnh hưởng đến hành vi và sức khỏe tinh thần của bạn.

Nếu liệu pháp tâm lý không hiệu quả, bạn có thể cần dùng thuốc để hỗ trợ cai rượu, chẳng hạn như:

  • acamprosate
  • disulfiram
  • naltrexone

Tìm hiểu thêm về điều trị vấn đề lạm dụng rượu

Nhóm tự lực

Nhiều người phụ thuộc vào rượu cảm thấy hữu ích khi tham gia các nhóm tự lực để giúp họ ngừng uống.

Một trong những nhóm nổi tiếng nhất là Alcoholics Anonymous (AA), nhưng cũng có nhiều nhóm khác có thể giúp đỡ.

Xem thông tin về hỗ trợ cai rượu để biết thêm chi tiết.

Chế độ ăn và dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng thường gặp ở những người mắc Bệnh gan do rượu, vì vậy, điều quan trọng là phải ăn một chế độ ăn cân đối để đảm bảo bạn nhận đủ dưỡng chất cần thiết.

Tránh thức ăn mặn và không thêm muối vào bữa ăn có thể giảm nguy cơ phát triển phù ở chân, bàn chân và bụng do sự tích tụ dịch.

Tổn thương gan cũng có thể khiến gan không thể dự trữ glycogen, một loại carbohydrate cung cấp năng lượng ngắn hạn.

Khi điều này xảy ra, cơ thể sẽ sử dụng chính mô cơ của mình để cung cấp năng lượng giữa các bữa ăn, dẫn đến sự mất khối lượng cơ và suy yếu. Điều này có nghĩa là bạn có thể cần thêm năng lượng và protein trong chế độ ăn.

Ăn vặt lành mạnh giữa các bữa ăn có thể giúp bạn bổ sung calo và protein. Bạn cũng có thể thấy hữu ích khi ăn 3 hoặc 4 bữa nhỏ mỗi ngày, thay vì 1 hoặc 2 bữa lớn.

GP của bạn có thể tư vấn cho bạn về chế độ ăn phù hợp hoặc trong một số trường hợp, giới thiệu bạn đến chuyên gia dinh dưỡng.

Trong những trường hợp suy dinh dưỡng nghiêm trọng nhất, các dưỡng chất có thể cần được cung cấp qua ống thông mũi vào dạ dày.

Thuốc điều trị triệu chứng

Việc sử dụng thuốc để điều trị trực tiếp Bệnh gan do rượu còn gây tranh cãi. Nhiều chuyên gia cho rằng có ít bằng chứng về hiệu quả của nó.

Đối với những người bị viêm gan do rượu nặng, có thể cần điều trị tại bệnh viện.

Điều trị đặc hiệu bằng corticosteroid có thể được sử dụng để giảm viêm gan ở một số người mắc bệnh này.

Hỗ trợ dinh dưỡng cũng là một phần quan trọng của điều trị trong các trường hợp này.

Ghép gan

Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất của Bệnh gan do rượu, gan mất khả năng hoạt động, dẫn đến suy gan.

Ghép gan hiện là cách duy nhất để chữa suy gan không thể hồi phục.

Ghép gan có thể được xem xét nếu:

  • bạn phát triển suy gan tiến triển, mặc dù không uống rượu
  • bạn đủ khỏe mạnh để sống sót sau phẫu thuật
  • bạn cam kết không uống rượu suốt đời

Dùng thuốc khi mắc Bệnh gan do rượu

Nếu bạn mắc Bệnh gan do rượu, điều quan trọng là phải nói chuyện với GP hoặc dược sĩ trước khi dùng thuốc kê đơn hoặc không kê đơn.

Bệnh gan do rượu có thể ảnh hưởng đến cách cơ thể xử lý một số loại thuốc.

Viêm màng hoạt dịch khớp háng thoáng qua

VIÊM MÀNG HOẠT DỊCH KHỚP HÁNG THOÁNG QUA

(Transient synovitis of the hip)

Viêm màng hoạt dịch khớp háng thoáng qua còn được gọi là viêm màng hoạt dịch do nhiễm độc (toxic synovitis) là tình trạng viêm khu trú ở màng hoạt dịch khớp háng một bên với tính chất khởi phát đột ngột, khỏi nhanh chóng trong vòng 7-10 ngày mà không để lại di chứng. Bệnh thường gặp ở trẻ em từ 3-10 tuổi, song có thể gặp ở trẻ 3 tháng tuổi hoặc ở người trưởng thành. Trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái 2-4 lần. Trong các bệnh lý đau cấp tính của khớp háng thì viêm màng hoạt dịch thoáng qua là loại hay gặp nhất ở trẻ nhỏ. Có thể gặp ở người lớn.

2. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

Nguyên nhân chính xác còn chưa rõ. Có thể liên quan đến nhiễm virus đường hô hấp dưới hoặc chấn thương xảy ra ngay trước khi có triệu chứng viêm màng hoạt dịch.

Sinh thiết màng hoạt dịch thấy tăng sinh màng hoạt dịch và tình trạng viêm không đặc hiệu. Có hình ảnh tràn dịch khi siêu âm khớp háng và xét nghiệm dịch khớp có tăng nồng độ proteoglycan.

3. CHẨN ĐOÁN

a) Lâm sàng

Bệnh khởi phát đột ngột, cấp tính với triệu chứng đau tại khớp háng hoặc đôi khi khi đau ở đùi hoặc tại khớp gối ở bên bị bệnh.

Ở trẻ nhỏ, do trẻ không có khả năng mô tả, nên có thể biểu hiện bởi hiện tượng đi khập khiễng hoặc bò lết bất thường; trẻ khóc bất thường không giải thích nguyên nhân khi được thay tã.

Sờ nắn vào khớp háng tổn thương khiến trẻ kêu đau hoặc khóc. Hạn chế vận động khớp háng, đặc biệt là động tác dạng và xoay trong ở bên tổn thương. Khớp háng bên đối diện, các khớp khác và cột sống không thấy dấu hiệu gì bất thườ

Sốt: nhiệt độ tăng có thể vừa phải hoặc Trẻ có tình trạng kích thích, khó chịu.

Các thông số về viêm như tốc độ máu lắng, CRP, bạch cầu có thể tăng nhẹ.

b)  Cận lâm sàng

Chụp X-quang khớp háng thường không thấy gì đặc biệt, đôi khi thấy khe khớp như rộng ra; chỏm xương đùi có vẻ như phẳng ra; mất nhẹ chất khoáng ở đầu xương. Cần chụp khớp háng hai bên để dễ quan sát và so sánh.

Siêu âm có thể thấy dịch trong ổ khớp (không thường xuyên). Trong trường hợp phải phân biệt với viêm khớp nhiễm khuẩn, cần chọc hút dịch dưới hướng dẫn của siêu âm, nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ.

Chụp MRI đôi khi được chỉ định trong trường hợp khó,khi cần phải phân biệt với viêm khớp nhiễm trùng (CT không có giá trị trong trường hợp này).

c)   Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định dựa vào các thông tin sau:

Các triệu chứng viêm khớp háng một bên với biểu hiện:

+ Đau, hạn chế vận động khớp háng một bên

+ Tràn dịch khớp (thường phát hiện trên siêu âm), có thể có tăng sinh màng hoạt dịch khớp thấy trên siêu âm hoặc cộng hưởng từ.

+ Tăng các thông số viêm trên xét nghiệm.

– Đáp ứng tốt với thuốc chống viêm không steroid và kéo dài không quá 2 tuần.

Điều cần chú ý là chỉ chẩn đoán xác định viêm màng hoạt dịch khớp háng thoáng qua khi đã loại trừ tất cả các bệnh có thể gây đau tại khớp háng một bên, đặc biệt là viêm khớp háng nhiễm khuẩn. Trường hợp đau, viêm kéo dài trên 2 tuần cần tìm nguyên nhân khác

Chẩn đoán phân biệt

Viêm khớp háng nhiễm khuẩn: Đây là chẩn đoán phân biệt quan trọng nhất vì nếu bỏ qua một viêm khớp háng nhiễm khuẩn sẽ gây phá hủy khớp không hồi phụ Các triệu chứng gợi ý: sốt thường cao, các thông số viêm tăng mạnh, tình trạng nhiễm trùng rõ. Chẩn đoán xác định: chọc hút có dịch khớp là dịch mủ, xét nghiệm có tế bào mủ; có thể phân lập được vi khuẩn và làm kháng sinh đồ.

Các nguyên nhân gây đau khớp háng khác như viêm xương, viêm xương tủy; chấn thương như chấn thương phần mềm ở chi dưới, sang chấn gân, dây chằng, gãy xương; bệnh Legg-Calves- Perthes; bệnh lý thần kinh ngoại biên; loạn sản khớp háng, bệnh lý khối u; apxe cơ thắt lưng chậu, viêm tinh hoàn…

Viêm khớp mạn tính thiếu niên giai đoạn đầu: triệu chứng viêm kéo dài trên 3 tháng.

4.  ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

Chủ yếu là nghỉ ngơi, tránh cho khớp khỏi bị đè ép và chịu tải trọng.

Điều trị cụ thể

Thuốc chống viêm giảm đau không steroid : Ở trẻ em thường dùng Ibuprofen, vì thuốc ít tác dụng phụ so với các thuốc chống viêm không steroid khác. Liều lượng mỗi lần uống 5-10 mg /kg cân nặng, uống 3-4 lần trong 1 ngày. Trường hợp ở trẻ lớn trên 16 tuổi hoặc người trưởng thành có thể dùng 1 trong các thuốc chống viêm không steroid khác như diclofenac, piroxicam, meloxicam, celecoxib,… Cần chú ý các tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa.

Kéo dãn khớp háng để làm giảm bớt áp lực trong ổ khớp và giảm đau.

5. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

Bệnh lành tính và thường khỏi trong vòng 7 – 10 ngày không để lại di chứng. Đôi khi kéo dài vài tuần. Có 4-17% bệnh nhân tái phát trong vòng 6 tháng đầu.

6. PHÒNG BỆNH

Phòng và điều trị các viêm đường hô hấp, tránh các chấn thương

Chức năng của Calci (Ca) đối với cơ thể

Hầu hết mọi người đều hiểu đúng rằng calci có liên quan với xương, răng và có tác dụng chống thoái hoá loãng xương. Ngoài ra, calci còn liên quan đến nhiều chức năng khác của cơ thể, điều hoà nhiều quá trình sinh hoá.

Chức năng

  • Tạo xương

Tạo xương được bắt đầu từ rất sớm ngay từ khi thụ thai và là một hình ống chắc dần, tạo nên một khuôn mẫu linh động để các xương khác tập hợp lại. Khuôn này chiếm 1/3 cấu trúc của xương và còn rất mềm cho đến khi sinh ra, tạo điều kiện dễ dàng cho trẻ và mẹ trong khi sinh. Khuôn xương này bao gồm chất xơ của một loại protein đựơc gọi là collgen, nó được bao phủ bởi phức hợp gelatin gồm protein và polysaccaride được gọi là chất nền. Sau khi sinh bộ xương trở lên dài và rộng ra, và nhanh chóng rắn chắc do sự lắng đọng của các chất khoáng vào trong xương. Quá trình này được gọi là calci hóa hoặc xương hoá do chất tạo cứng rắn và chất khoáng có mặt nhiều nhất trong phức hợp là calci. Vào thời điểm trẻ có thể bước đi được, bộ xương đã được calci hoá đủ để nâng đỡ trọng lượng cơ thể.

Những tinh thể khoáng được lắng đọng dần trong quá trình xương hoá là calci phosphate, Ca3 (PO4)2, được gọi là apatie, hoặc hỗn hợp calci phosphate và Ca(OH)2 – hydroxyapatite. Vì calci và phosphorus là những chất khoáng chủ yếu trong xương, nên việc cung cấp đầy đủ 2 chất khoáng này trong thời gian phát triển là rất cần thiết.

  • Tạo răng

Phần ngoài và giữa của răng được gọi là men và xương răng có chứa một lượng rất lớn hydoxyappatite, chất này có mặt dọc theo chiều dài chất protein keratin (trong xương là collagen). Quá trình calci hoá các răng sữa được bắt đầu từ thời kỳ bào thai khoảng 20 tuần tuổi và chỉ hoàn thiện trước khi mọc răng (khi trẻ được 6 tháng tuổi). Răng vĩnh viễn bắt đầu được calci hoá khi trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 năm tuổi, ngay từ khi còn đang ở trong giai đoạn tạo răng sữa.

Có một sự trao đổi chậm chạp calci giữa máu và thân răng, có thể có trao đổi giữa calci nước bọt và calci của men răng. Thiếu hụt calci trong quá trình tạo răng có thể dẫn đến nguy cơ sâu răng. Mặc dù, calci là thành phần quan trọng nhất trong tạo răng, nhưng cũng cần phải chú ý rằng chất lượng của răng phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác.

  • Phát triển

Calci còn cần cho những chức năng khác của tế bào. Một số nghiên cứu ở Nhật cho thấy, khẩu phần ăn nghèo calci thường kết hợp với chiều cao thấp. Một khẩu phần ăn nghèo calci thường kết hợp với thấp protein, một yếu tố quan trọng cho phát triển cơ thể và phát triển xương.

  • Tham gia các phản ứng sinh hoá khác

Vai trò của calci trong quá trình đông máu là một chức năng được biết rõ, quá trình hình thành thromboplastin, thrombin, fibrin tại nơi tổn thương tạo cục máu đông cần sự có mặt của calci. Những vai trò khác là vai trò calci trong việc dẫn truyền xung động thần kinh và hấp thu vitamin B12, vào hoạt động của enzyme tuỵ trong tiêu hoá mỡ, vào quá trình co cơ. Calci có nhiều chức năng quan trọng khác nhau, tuy nhiên sự thay đổi calci trong chế độ ăn thường ít thấy hiệu quả sớm do việc duy trì cân bằng calci của xương.

Hấp thu và chuyển hoá

Hiệu quả của hấp thu calci trong cơ thể dao động từ 10 – 60%. Trẻ em đang phát triển có thể hấp thu calci đạt 75%. Quá trình hấp thu calci phức tạp và phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau: lượng calci trong khẩu phần, nhu cầu của cơ thể, tuổi, giới, một số thuốc cũng như một số chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần như lactose, protein, vitamin D. Tỷ lệ hấp thu calci tỷ lệ nghịch với lượng calci trong khẩu phần. Phụ nữ thường hấp thu calci kém hơn nam giới, hấp thu calci giảm dần theo tuổi.

Calci được hấp thu bằng hai cơ chế khác nhau: khuếch tán thụ động và vận chuyển tích cực. Hấp thu tích cực cần sự có mặt của vitamin D. Hấp thu thụ động liên quan đến khuếch tán đơn thuần không bão hoà của calci khi có sự chênh lệch gradient, không cần năng lượng tham gia.

Sự đóng góp của 2 quá trình hấp thu phụ thuộc vào nồng độ calci trong ruột và nồng độ vitamin D hoạt tính trong huyết thanh. Người trưởng thành bình thường thì 95% lượng calci được hấp thu bằng con đường tích cực, và nó cũng phụ thuộc vào vitamin D.

  • Những yếu tố làm tăng hấp thu

Vitamin D: Sự có mặt của dạng vitamin D hoạt tính làm tăng hấp thu từ 10 –30% lượng calci ở đường ruột.

Acid trong hệ tiêu hoá: Calci hoà tan tốt hơn trong môi trường acid, do vậy nó hấp thu tốt trong môi trường acid hơn môi trường kiềm. Đa số các calci được hấp thu ở ruột non, tất cả các yếu tố làm tăng độ acid của đường tiêu hoá trước khi thức ăn tới đều làm tăng hiệu quả hấp thu calci. Giảm hấp thu calci theo tuổi liên quan đến giảm độ acid trong dạ dày và ruột của người cao tuổi.

Lactose: Lactose làm tăng hấp thu calci, trong khi đó những chất bột đường khác không có tác dụng. Lactose làm tăng hấp thu calci trên người từ 33 – 48%. Một tỷ lệ cao giữa lactose và calci là cần thiết để tăng cường hấp thu calci, cơ chế của vấn đề này còn chưa được biết rõ.

Protein và phosphorus: ảnh hưởng của protein đến hấp thu calci phụ thuộc vào lượng calci trong khẩu phần ăn. Với một lượng 500mg calci/ngày, một nghiên cứu trên nam giới trưởng thành cho thấy tăng protein khẩu phần từ 50 – 150 g/ngày không gây những ảnh hưởng rõ rệt đến việc hấp thu calci. Nghiên cứu này còn cho thấy protein không có hiệu quả khi calci khẩu phần giảm xuống còn 500 mg/ngày. Tăng lượng protein khẩu phần lên gấp đôi, có thể làm tăng 50% lượng calci ra nước tiểu.

  • Những yếu tố làm giảm hấp thu hoặc tăng mất calci

Acid oxalic: Kết hợp với calci tạo phức hợp không hoà tan và không được hấp thu tại ruột. Do vậy mà độ hấp thu của calci khẩu phần phụ thuộc vào tỷ số calci/oxalic trong thực phẩm. Một số đồ uống có hàm lượng oxalic cao, không phù hợp cho trẻ em.

Acid phytic: cũng có thể gắn với calci tạo phức hợp khó hoà tan, acid phytic có nhiều trong các loại ngũ cốc, khi nồng độ phytic cao có thể gây giảm đáng kể khả năng hấp thu calci.

Tăng nhu động ruột: Bất kỳ nguyên nhân nào làm tăng nhu động ruột, giảm thời gian lưu của thức ăn trong ruột đều gây giảm hấp thu calci. Thuốc nhuận tràng và những chế độ ăn nhiều chất xơ cũng gây hiệu quả trên.

Ít vận động thể lực: Những người ít hoạt động thể lực, nằm nhiều, đặc biệt là ở người cao tuổi có thể bị mất 0,5% calci trong xương hằng tháng, đây cũng là yếu tố liên quan rất quan trọng trong chứng loãng xương ở người cao tuổi.

Cafeine: Nhiều cafein có ảnh hưởng đến giá trị sinh học của calci do làm tăng đào thải qua phân và nước tiểu.

Nhu cầu khuyến nghị

Trẻ bú mẹ: Trong những tháng đầu, lượng calci do sữa mẹ cung cấp là đủ nhu cầu, khoảng 50mg calci/kg/ngày và 2/3 được giữ lại trong cơ thể. Sữa nhân tạo có lượng calci cao hơn nhưng hấp thu và giữ lại cơ thể ít hơn sữa mẹ. Vitamin D rất cần cho hấp thu calci trong giai đoạn này.

Trẻ em: Từ 1 – 10 tuổi có thể hấp thu tới 75% calci của khẩu phần ăn. Nhu cầu ở giai đoạn này cao hơn so với các nhóm khác do cần cho phát triển. Trẻ vị thành niên do bộ xương phát triển nhanh và bộ xương cần lưu giữ khoảng 500 mg calci/ngày, do vậy khẩu phần cần 1200 – 1500 mg/ngày. Từ sau 30 tuổi, nhu cầu calci giảm dần.

Phụ nữ có thai: Trẻ sinh ra có lượng calci trong xương rất thấp, khoảng 30g, trong đó 1/3 được thu nhận trong 3 tháng cuối thai nghén. Khuyến nghị calci là 400 mg cao hơn so với người không có thai.

Phụ nữ cho con bú: Trẻ bú mẹ nhận calci nhiều và nhanh hơn thời kỳ thai nghén. Calci tới từ 2 nguồn chính là: thức ăn của mẹ và dự trữ calci của mẹ. Do vậy, khuyến nghị cũng 400 mg cao hơn so với không cho con bú nhằm đề phòng giảm dự trữ calci trong xương.

Người trưởng thành: Bắt đầu có hiện tượng mất calci và loãng xương. Nhu cầu khuyến nghị là 800 mg cho người sau 35 tuổi bởi những lý do sau: trước khi mãn kinh, hormone estrogen bảo vệ xương không bị mất calci, đến khi mãn kinh hormone này giảm và tốc độ mất xương tăng lên.

Nguồn thực phẩm

Chỉ có một số ít thực phẩm có nguồn calci cao. Sữa là thức ăn có lượng calci cao, hấp thu tốt, giá rẻ. Từ sữa có thể chế ra các sản phẩm như bơ, pho mát giúp tăng cường calci và vitamin D. Ngoài ra, một số ngũ cốc và hạt đậu cũng có calci cao nhưng hấp thu kém hơn sữa.

Nước ở nhiều khu vực có hàm lượng calci cao, có thể cung cấp 200mg/ngày. Ngoài ra, các thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, cá… cũng cung cấp một lượng nhỏ calci.