Não mô cầu (Neisseria meningitidis) là song cầu Gram âm và được chia thành 12 nhóm huyết thanh (A,B,C, E29, W135, X,Y,Z, v.v…). Vi khuẩn lan trong cơ thể theo đường máu.
Dịch tễ học
Bệnh do não mô cầu phổ biến trên khắp thế giới. Vi khuẩn có trong họng của nhiều người lành (theo một số nghiên cứu, tới 25% dân cư ). Có các vụ dịch xảy ra trên cơ sở bệnh lưu hành. Dịch thường xảy ra chủ yếu ở các nhóm dân cư có điều kiện vệ sinh kém, trẻ con và người trẻ tuổi hay bị nhất. Typ A gây bệnh chủ yếu- ở châu Phi, typ B (chưa có vaccin) gây 65% số trường hợp bệnh ở châu Âu còn typ c chủ yếu gây bệnh ở Nam Mỹ.
Bệnh do não mô cầu có thể tiến triển như một viêm nhiễm thông thường của đường hô hấp trên. Bệnh lây. truyền theo đường trực tiếp, chủ yếu là dq hít phải các giọt nước bắn ra từ mũi họng của người mang mầm bệnh nhưng không có biểu hiện bệnh. Nguồn mang vi khuẩn là người.
Các thể lâm sàng
THỂ VIÊM MÀNG NÃO – TUỶ (xem viêm màng não cấp do vi khuẩn)
NHIỄM KHUẨN HUYẾT: có thể tiến triển không có triệu chứng màng não hoặc có trước, đi kèm theo hay xảy ra sau viêm màng não.
Viêm màng não có ban xuất huyết do não mô cầu: ban xuất huyết là triệu chứng hay gặp trong viêm màng não do não mô cầu.
Có những thể cấp hay tối cấp và có các thể bán cấp, có sốt cách hồi và triệu chứng ở khóp, biến chứng ở mắt (viêm mông mắt mạch mạc, viêm mông mắt thể mi), co giật, rối loạn tiêu hoá, đôi khi có xuất huyết tiêu hoá.
Viêm màng não có ban xuất huyết giả sốt rét do não mô cầu: các cơn sốt giống như trong sốt rét, có thể có đau khớp và ban dát- sẩn đỏ. 50% số trường hợp chuyển sang viêm màng não.
Viêm màng não do não mô cầu kiểu thương hàn: sốt liên tục, có các biến chứng ở phổi, ở tim (viêm nội tâm mạc) hay ở gan. Thường chuyển sang viêm màng não.
Hội chứng Waterhouse- Friederichsen (ban xuất huyết tối cấp hay ban xuất huyết do não mô cầu): thể hiếm gặp, có sốt, suy sụp nặmg, hạ huyết áp dẫn tới tuỵ tim, tím tái và ban xuất huyết ở da và ở tạng. Hội chứng này, do các tuyến thượng thận bị hoại tử xuất huyết (xem suy tuyến thượng thận cấp), có thể dẫn đến tử vong trong 12-24 giờ nếu không được điều trị. Não mô cầu thường là nguyên nhân chính nhưng cũng có thể do Haemophilus influenzae và phế cầu khuẩn.
Xét nghiệm cận lâm sàng
Cấy máu là xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết.
Với các thể có nổi ban ở da, cần tìm não mô cầu bằng nuôi cấy và soi kính hiển vi bệnh phẩm (được nhuộm Gram) lấy từ chất tiết hoặc dịch ở chấm xuất huyết.
Xét nghiệm dịch não tuỷ trong trường hợp có dấu hiệu màng não: cấy, soi cặn trên kính hiển vi, dùng test latex để phát hiện nhanh kháng thể hoà tan.
Điều trị
Benzylpenicilliln (12-24 triệu đơn vị/ngày theo đường tĩnh mạch) hay ampicillin (6-8 g/ngày). Nếu bị dị ứng với penicillin thì dùng chloramphenicol (2-4 g/ngày). Một số chủng nhậy cảm với sulfamid nhưng nhanh chóng kháng lại thuốc.
Hội chứng Waterhouse- Friderichsen:tiêm tĩnh mạch ngay lập tức ampicillin hay amoxicillin (25 mg/kg) hay thiamphenicol (50mg/kg) nếu bị dị ứng. Phải vào bệnh viện ngay. Điều trị suy tuyến thượng thận cấp (xem bệnh này).
Phòng bệnh
Các biện pháp chung về vệ sinh. Tiêm vaccin cho những người có nguy cơ cao. Rifampicin có thể phòng ngừa viêm màng não (xem viêm màng não do não mô cầu).
Vệ sinh tốt là rất quan trọng khi pha sữa công thức.
Hệ miễn dịch của trẻ sơ sinh không mạnh mẽ như của người lớn. Đó là lý do tại sao bình, núm vú và bất kỳ dụng cụ cho ăn nào khác cần được rửa sạch và tiệt trùng trước mỗi lần cho ăn.
Điều này sẽ giảm nguy cơ trẻ bị nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy và nôn mửa.
Bước 1: Đổ ít nhất 1 lít nước máy tươi vào ấm (không sử dụng nước đã được đun sôi trước đó).
Bước 2: Đun sôi nước. Sau đó để nước nguội không quá 30 phút, để nước giữ ở nhiệt độ ít nhất 70°C.
Bước 3: Làm sạch và khử trùng bề mặt bạn sẽ sử dụng.
Bước 4: Rửa tay thật kỹ là rất quan trọng.
Bước 5: Nếu bạn sử dụng máy tiệt trùng nước lạnh, hãy lắc bỏ dung dịch dư thừa từ bình và núm vú, hoặc rửa chúng bằng nước đun sôi đã nguội từ ấm (không phải nước máy).
Bước 6: Đặt bình lên bề mặt đã được làm sạch và khử trùng.
Bước 7: Làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất và đổ lượng nước cần thiết vào bình. Kiểm tra kỹ rằng mức nước là đúng. Luôn đổ nước vào bình trước khi thêm bột công thức, khi nước còn nóng.
Bước 8: Đổ bột công thức vào muỗng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, sau đó dùng cạnh phẳng của một con dao sạch, khô để san phẳng bột. Các loại công thức khác nhau có muỗng khác nhau. Đảm bảo bạn chỉ sử dụng muỗng đi kèm với công thức.
Bước 9: Giữ mép của núm vú, đặt nó vào vòng giữ, kiểm tra xem nó đã chắc chắn chưa, rồi vặn chặt vòng vào bình. Đảm bảo vòng đã được gắn chặt.
Bước 10: Đậy núm vú bằng nắp và lắc bình cho đến khi bột tan hoàn toàn.
Bước 11: Làm mát công thức để nó không quá nóng để uống. Làm điều này bằng cách giữ bình (có nắp) dưới dòng nước lạnh chảy.
Bước 12: Kiểm tra nhiệt độ của công thức bằng cách đặt lên bên trong cổ tay trước khi cho trẻ bú. Nhiệt độ nên tương đương với nhiệt độ cơ thể, nghĩa là nó nên cảm thấy ấm hoặc mát, nhưng không nóng.
Bước 13: Nếu còn sữa công thức chưa sử dụng trong bình sau khi cho ăn, hãy vứt bỏ.
Sử dụng máy pha sữa công thức cho trẻ
Nếu bạn sử dụng máy pha sữa công thức cho trẻ, hãy làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Đảm bảo rằng nước ra từ máy ít nhất là 70°C khi được trộn với bột công thức. Bạn có thể sử dụng nhiệt kế thực phẩm kỹ thuật số để kiểm tra điều này. Nước ở nhiệt độ 70°C hoặc cao hơn sẽ tiêu diệt bất kỳ vi khuẩn có hại nào.
Nếu nước dưới 70°C, hãy ngừng sử dụng máy và làm theo hướng dẫn từng bước để chuẩn bị sữa công thức.
Bạn cũng có thể muốn liên hệ với nhà sản xuất, văn phòng tiêu chuẩn thương mại địa phương hoặc Tư vấn công dân để báo cáo lỗi với máy của bạn.
Những điều nên làm và không nên làm khi pha sữa công thức
Nên: Làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất rất cẩn thận, vì chúng khác nhau về lượng nước và bột cần sử dụng.
Không nên: Thêm bột công thức extra khi pha sữa. Điều này có thể làm cho trẻ bị táo bón hoặc mất nước.
Không nên: Thêm nước extra khi pha sữa. Quá ít bột có thể không cung cấp đủ dinh dưỡng cho trẻ.
Không nên: Thêm đường hoặc ngũ cốc vào sữa công thức của trẻ.
Không bao giờ: Hâm nóng sữa công thức trong lò vi sóng, vì nó có thể làm nóng sữa không đồng đều và gây bỏng miệng cho trẻ.
Giảm nguy cơ nhiễm trùng
Ngay cả khi hộp và gói bột công thức trẻ em đã được niêm phong, chúng đôi khi có thể chứa vi khuẩn.
Vi khuẩn sinh sôi rất nhanh ở nhiệt độ phòng. Ngay cả khi sữa được bảo quản trong tủ lạnh, vi khuẩn vẫn có thể sống sót và sinh sôi, mặc dù chậm hơn.
Để giảm nguy cơ nhiễm trùng, tốt nhất là pha sữa 1 lần tại thời điểm trẻ cần.
Sử dụng nước uống đun sôi mới từ vòi để pha sữa. Không sử dụng nước đã được làm mềm nhân tạo hoặc nước đã được đun sôi trước đó.
Để nước nguội trong ấm không quá 30 phút. Sau đó, nước sẽ giữ ở nhiệt độ ít nhất 70°C. Nếu bạn sử dụng máy pha sữa công thức cho trẻ, hãy đảm bảo nước ở ít nhất 70°C. Nước ở nhiệt độ này sẽ tiêu diệt bất kỳ vi khuẩn có hại nào.
Nhớ để sữa nguội trước khi cho trẻ bú. Hoặc bạn có thể giữ bình (có nắp) dưới dòng nước lạnh từ vòi.
Không sử dụng nước đóng chai để pha sữa công thức
Nước đóng chai không được khuyến nghị để pha sữa, vì nó không vô trùng và có thể chứa quá nhiều muối (natri) hoặc sulfat.
Pinellia ternata (thunb) bret (pinellia tuberifera ten). Họ khoa học: Họ Ráy (Araceae).
Tên Hán Việt khác:
Thủy ngọc, Địa văn (Bản Kinh), Hòa cô (Ngô Phổ Bản Thảo), Thủ điền, Thị cô (Biệt Lục), Dương nhãn bán hạ (Tân Tu Bản Thảo), Trỉ mao ấp, Trỉ mao nô ấp, Bạch bang kỷ tử, Đàm cung tích lịch (Hòa Hán Dược Khảo), Lão nha nhãn, Thiên lạc tinh, Dả vu đầu, (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Tam bộ khiêu (Hồ Nam Dã Sinh Thực Vật), Ma vu quả (Liễu Châu Dân Gian Phương Dược Tập), Địa chu bán hạ (Côn Minh Dược Dụng Thực Vật Điều Tra Báo Cáo), Địa lôi công (Trung Dược Chí) .
Mô tả:
Bán hạ (Bán hạ chế)
Bán hạ là loại thân củ. Củ hình tròn cầu hoặc tròn dẹt. Lá có cuống dài, về mùa xuân cây mọc 1-2 lá, dài 3-33cm, lá đơn chia làm 3 thùy, tùy theo tuổi cây mà lá mọc có khác nhau về hình dạng, cuống lá dài lá màu xanh, nhẵn bóng không có lông, lúc cây còn nhỏ lá đơn, hình trứng hay hình tim, đuôi nhọn mép lá nguyên hoặc hơi có làn sóng, gốc lá hình mũi tên, cây 2-3 tuổi lá có 3 thùy, hình bầu dục hay hình kim phình giữa, hai đầu nhọn. Cây 2-3 tuổi mới có hoa, hoa hình bông nở vào đầu mùa hạ, hoa có bao lớn, bao màu xanh, trong bao có hoa tự, hoa cái mọc ở phía dưới, màu xanh nhạt, hoa đực mọc ở bên trên, màu trắng, đoạn trên cong hoa đài nhỏ. Quả mọng hình bầu dục, dạng trứng.
Địa lý:
Có nhiều ở Trung quốc, mọc hoang và trồng sản xuất. Nhân dân Trung quốc có tập quán cho Bán hạ sản xuất ở các tỉnh Hồ bắc, Hồ nam, An huy, Sơn đông có phẩm chất tốt nhất. Ở các tỉnh như Giang tô, Triết giang, Tứ xuyên, Vân nam, Quý châu, Giang tây, Quảng tây cũng có sản xuất vị này. Việt Nam còn phải nhập của Trung Quốc.
Thu hái, sơ chế:
Thu hoạch vào mùa hè, chọn củ đào về rửa sạch đất cắt bỏ vỏ ngoài (màu vàng tro) và rễ tơ phơi khô.
Mô tả dược liệu: Bán hạ hình cầu tròn hoặc hình tròn dẹt, hoặc dẹt nghiêng, đường kính 0,7-2cm. Mặt ngoài mầu trắng hoặc mầu vàng nhạt, phần trên thường tròn, phẳng, ở giữa có chỗ lõm, đó là vết của thân, mầu vàng nâu, chung quanh chi chít vết rễ chấm nhỏ, mặt dưới thường hình tròn, tầy, bóng hoặc không phẳng, mầu trắng. Chất cứng, mặt bổ dọc hình quả Thận, có bột, mầu trắng, bóng mịn. Loại củ gìa hoặc khô thì mầu trắng tro hoặc có vân mầu vàng, không mùi, vị cay, nhấm thấy dính, tê lưỡi, ngứa họng (Dược Tài Học).
Bào chế:
+ Vì Bán hạ dùng sống có độc, vì vậy khi dùng uống trong, cần phải bào chế. Cách bào chế có Pháp bán hạ, Tô bán hạ (chế với váng sữa) ngoài ra còn có Bán hạ khúc để dùng có tác dụng giải uất trừ đàm. Sau đây là các ph p bào chế:
Bào chế Pháp Bán hạ: Lấy Bán hạ sạch ngâm nước chừng 10 ngày cho đến khi bột trắng nổi lên thì vớt ra, rồi ngâm tiếp với Bạch phàn (cứ 50kg Bán hạ cho 1kg Bạch phàn). Ngâm 1 ngày rồi lại thay nước, đến khi nhấm vào miệng không còn cảm giác tê cay thì vớt ra, phơi trong râm (tránh nắng). Ngoài ra còn có cách khác là gĩa dập Cam thảo hòa với nước vôi, lắng gạn bỏ cặn rồi để Bán hạ vào ngâm.
Quấy trộn hàng ngày đến khi màu vàng thấm đều vào bên trong vớt ra phơi trong râm đến khô (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 8kg Cam thảo và 10kg vôi cục) (Dược Tài Học).
Bào chế Khương Bán hạ: Bán hạ đã được bào chế theo pháp Bán hạ như trên, đến khi vị thuốc không còn tê cay thì xắt lát Gừng sống rồi cho Bạch phàn và Bán hạ vào đun cho thấ Lấy ra phơi qua cho ráo nước, cắt thành từng miếng phơi khô (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 12,5 kg Gừng sống 6,5kg Bạch phàn) (Dược Tài Học).
Bào chế Thanh Bán hạ: Lấy Bán hạ đã biến chế theo Pháp bán hạ như trên, đến khi vị thuốc không còn tê cay, thêm Bạch phàn và nước đun kỹ, lấy ra phơi qua cho ráo nước ủ ấm rồi xắt thành phiến, lại phơi trong râm mát (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 6,5kg Bạch phàn) (Dược Tài Học).
Bào chế Bán hạ khúc: Dùng Bán hạ sống đồ vào nồi nước, dùng một chút phèn chua đun sôi ngâm 1 đêm, hôm sau lại đun nước khác để thay nước cũ đi, làm 7 ngày 7 đêm như vậy, rồi phơi khô, tán bột. Dùng nước Gừng hòa với hồ làm thành Bánh sao vàng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Dùng Bán hạ 160kg, Bạch giới tử 80g, giấm chua 200g. Cho Bạch giới tử gĩa nhỏ vào giấm khuấy đều, thêm Bán hạ vào ngâm trong 1 đêm. Lấy ra, rửa sạch hết nhớt mà dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Theo kinh nghiệm của huyện Đạt tỉnh Tứ xuyên biến chế như sau: Có thể đem củ tươi chất đống ở trong nhà 10-15 ngày, sau lấy tay bóp vỏ củ tự bóc ra thế là được. Ngoài ra để rút ngắn thời gian ủ có thể trộn thêm một ít tro, có thể rút ngắn được nửa thời gian ủ. Ngoài ra có một biện pháp ủ nhanh nữa là dùng một số lượng vôi vừa phải trộn lẫn đều với củ xếp đống ở một góc nhà, đống cao khoảng 17cm, ủ khoảng 1-1,5 ngày là có thể xát bỏ vỏ được. Sau khi ủ xong bỏ vào rổ đầy, đem xuống chỗ nước chảy, lấy chân đạp sát, chân có đi d p cỏ, đạp cho tới khi tróc hết vỏ, thành màu trắng là được, nhưng phải đề phòng da chân bị ngứa lở. Ngoài ra còn có thể dùng chổi cứng hoặc que cứng đầu có buộc rạ hoặc
lưỡi ngô chọc vào rổ khoắng, trộn từ dưới lên, trong ra ngoài làm cho củ bị sát bong hết vỏ ngoài. Nếu có 1 số củ bên ngoài chưa tróc hết thì có thể chọn ra, sát lại cho sạch, nếu số lượng ít thì có thể lấy tay sát sạch, nhưng phải bôi thuốc hoặc dầu để chống bị nhiễm độc. Sau khi qua giai đoạn sát bỏ vỏ là phơi khô, sau khi sát sạch vỏ ngoài nên phơi nắng ngay, nếu bị mưa phải sấy khô, nếu không sẽ bị mốc thối. Nếu dùng lửa sấy trước hết phải dùng lửa lớn cho củ bốc nóng tỏa hơn nước, lấy vải khô lau nhẹ cho khô, trước khi củ khô hết nước không được trộn đảo, đến lúc không còn giọt nước đọng, dùng lửa nhỏ để sấy cho khô kiệt. Nói
chung sấy lúc đầu lửa lớn, nhưng về sau nhỏ dần, như vậy phải qua một ngày đêm mới khô. Nếu không có dụng cụ sao sấy có thể ngâm vào trong phèn chua bão hòa (nếu đã phơi củ khô được một ít thì không cần đem ngâm, dùng Lưu hoàng xông, có thể chống được mốc thối). Nên thay nước luôn để phòng thối, đến lúc nắng phơi khô. Trong quá trình phơi khô, chú ý không dùng tay trộn đảo, tốt nhất là dùng que tre. Nếu phơi khô mà màu da củ không được trắng thì có thể dùng Lưu hoàng xông 1 ngày (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 0,5kg Lưu hoàng), có thể làm củ trắng trong và trừ sâu mọt, men mốc. Cứ 3-4 kg củ tươi có thể được 1kg củ khô (Kỹ Thuật Nuôi Trồng Và Chế Biến Dược Liệu).
Cách dùng:
Bán hạ qua nhiều khâu chế biến khác nhau, nên dùng cũng khác.
Pháp Bán hạ dùng trong trường hợp táo thấp, hóa đàm.
Khương Bán hạ dùng trong trường hợp giáng nghịch, chỉ ẩu.
Bán hạ khúc dùng trong trường hợp kiện vị tiêu thực.
Còn Bán hạ sống chỉ dùng bên ngoài ít khi dùng để uống.
Bảo quản:
Để nơi khô ráo không được ẩm ướt, Bán hạ ít bị mối mọt. Nếu thấy mốc có thể lấy nước rửa sạch phơi khô, dùng Lưu hoàng xông, phơi khô, cất như cũ.
+ Choline, b-Sitosterol, Daucosterol (Vĩ Quan Chiếu Nhị, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1962, (82): 766).
+ Homogentisic acid, Protocatechualdehyde (Triệu Cương, Trung Quốc Trung Dược tạp Chí 1990, 15 (3): 146).
Tác dụng dược lý:
+ Tác dụng cầm nôn: Bán hạ chế thành hoàn và nước sắc Bán hạ có tác dụng cầm nôn. Cao lỏng Bán hạ, bột Bán hạ (chế với nhiệt độ cao) cũng có tác dụng cầm nôn. Nhưng Bán hạ sống ngược lại, lại có tác dụng gây nôn (Trung Dược Học).
+ Tác dụng giảm ho: Nước sắc Bán hạ cho mèo được gây ho nhân tạo uống, có tác dụng giảm ho nhưng k m Codein. Thuốc cũng có tác dụng giảm ho nếu chích vào tĩnh mạch. Chế phẩm của Bán hạ cho thỏ uống, có tác dụng làm giảm bớt tiết nước miếng do chất Pilocarpine. Chế phẩm của Bán hạ cho chuột cống được gây bụi phổi uống, kết quả phân tích tế bào chứng minh thuốc có tác dụng làm chậm quá trình bệnh. Cho dùng thuốc càng sớm, kết quả càng tốt (Trung Dược Học).
+ Bán hạ có tác dụng giải độc đối với trường hợp nhiễm độc Strychnin và Acetycholin (Trung Dược Học).
+ Protein Bán hạ với liều 30mg/kg đối với chuột nhắt, có tác dụng chống việc có thai sớm. Bán hạ sống ngâm kiệt có tác dụng chống rối loạn nhịp tim đối với súc cật thực nghiệm (Trung Dược Học).
+ Cồn loãng hoặc nước ngâm kiệt Chưởng diệp Bán hạ (Pinellia pedatisect Schott) có tác dụng ức chế rõ rệt đối với ung thư và tế bào Hela trên súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).
Thành phần độc của Bán hạ khó hòa tan trong nước, còn thành phần có tác dụng cầm nôn và giảm ho có thể hòa ào nước nóng. Thành phần có độc không bị phá hủy bởi nước Gừng đơn độc mà bị Bạch phàn (Phèn chua) làm cho hết độc (Trung Dược Học).
Độc tính: Liều LD50 của Bán hạ sống chích vào màng bụng chuột là 13g/kg. Bán hạ sống uống quá liều dễ bị ngộ độc. Ăn Bán hạ sống miệng lưỡi có cảm giác tê. Uống liều lớn làm cho miệng và họng có cảm giác tê, cay mạnh, ngứa, nóng bỏng, sưng, tiết nước miếng, muốn nôn, nôn, nói ngọng, khan tiếng, miệng há ra khó. Trường hợp nặng sẽ bị nghẹt thở, khó thở dẫn đến tử vong (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tính vị:
+ Vị cay, tính bình (Bản Kinh).
+ Sống: tính hơi hàn; Chín: có độc (Biệt Lục).
+ Rất độc (Dược Tính Bản Thảo).
+ Vị cay tính ấm, có độc (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Quy kinh:
+ Vào kinh Phế, tỳ, Vị (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Vào kinh thủ Dương minh Vị, thủ Thái âm Phế, thủ Thiếu âm Tâm (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Vào kinh tỳ, Vị (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tác dụng:
+ Táo thấp, hóa đàm, giáng nghịch, chỉ thổ
Chủ trị:
+ Trị ho suyễn, khí nghịch do đàm thấp thủy ẩm, thấp trệ trung tiêu, nôn mửa bụng đầy, đinh nhọt, sưng tấy, dùng sống tán bột, đắp ngoài.
Kiêng kỵ:
+ Đàn bà có thai, chứng táo nhiệt, không được dùng. Không có hàn thấp khí cấm dùng
+ Tính nó ghét Tạo giác, sợ Hùng hoàng, Gừng sống, Gừng khô, Tần bì, Quy giáp, Phản Ô đầu, kỵ máu dê, Hải tảo, Mạch nha, Đường.
Theo “Dược phẩm vựng yếu”
BÁN HẠ (Củ chóc chuột)
Khí vị:
Vị cay, hơi đắng, khí ôn, có độc, vào kinh Túc thái âm, Túc dương minh, Túc thiếu dương, và Thủ thiếu âm, Xạ can, Sài hồ làm sứ, ghét Tạo giác, sợ Hùng hoàng, sinh Khương, Tần giao, Quy giáp, Ô đầu, kỵ Hải tảo, thịt Dê, Di đường, tính chìm mà giáng xuống, thuộc loại âm dược.
Chủ dụng:
chữa ăn vào lại mửa ra, tiêu đờm lạnh ở bụng ruột, tan khí nghịch, trừ nôn mửa, mở khí kết, phát ra tiếng nói, chữa Tỳ tả, liễm Tâm hãn, là vị thuốc hay nhất để chữa chứng đờm quyết đầu đau, chóng mặt, chữa đờm lạnh đọng lại làm Phế bị tổn thương gây ra ho, khí hư da vàng, tiêu được cả ung sưng anh lựu. Lại chữa bệnh thương hàn nóng rét, ôn ngược, vùng mỏ ác trướng cứng, ruột sôi.
Hợp dụng:
Cùng dùng với cầm, Liên thì trị đờm hỏa sắc đen, đờm đặc như keo, cùng dùng với Khương, Phụ thì chữa đờm hàn sắc xanh, đờm thấp sắc trắng, cùng dùng với Nam tinh, Tạo giác thì chữa chứng đờm ẩm, đau sườn, cùng dùng với Trần bì, Bạch truật thì chữa chứng thốt nhiên trúng phong sôi đờm
cấm kỵ: Phàm chứng huyết hư, chứng đổ mồ hôi, chứng khát, chứng âm hư có đờm, người có thai đều kiêng dùng. Lại có thuyết nói: chứng hư và người có thai nôn mửa thì dùng Bán hạ khúc để tránh tổn huyết, trụy thai.
Cách chế:
Muốn chế Bán hạ khúc thì trước hết đem Bán hạ ngâm nước sôi 9 lần, phơi khô, tán nhỏ, ngào với nước, viên to bằng viên đạn, rồi dùng lá Dướng hay giấy bọc lại, lấy rơm nếp lót dưới, phủ trên; ủ 7 ngày; khi mọc meo thì lấy ra treo vào chỗ có gió và khói càng lâu càng tốt. Lại có cách khác: cùng nấu với Bồ kết, Gừng tươi cho chín, lấy ra thái lát để dùng. Lại một cách nữa:
lấy nước Gừng tươi hòa với bột Bán hạ, nặn thành bánh nướng chín, thái lát dùng.
Nhận xét:
Uông Cơ nói: Tỳ Vị thấp nhiệt nước dãi hóa thành đờm, không có Bán hạ thì không chữa được, nếu thay bằng Bối mẫu thì chịu chết mà thôi.
Lý Thời Trân cũng nói: Tỳ không có khí thấp lưu trệ lại thì không sinh ra đờm, Phế là nơi để chứa đờm. Bán hạ trị được đờm là vì thể chất nó trơn hoạt, vị cay, tính ấm, trơn hoạt thì nhuận, cay ấm thì tán mà cũng nhuận được, cho nên hành được thấp mà không ỉa lỏng, lợi khiếu mà không bí tiểu. Đan Khê nói: Bán hạ có khả năng làm cho đai tiện nhuận và tiểu tiện dài.
Thành Vô Kỷ nói: Bán hạ hành thủy khí mà nhuận Thận táo. Bài Bán lưu hoàn trong “hòa tễ cục phương” chữa người già hư bế là dùng tính trơn nhuận của nó. Bán hạ lợi thủy, trừ thấp mà làm cho Thổ táo chứ không phải tính nó táo vậy, nhưng nếu không có tà khí thấp nhiệt mà dùng nó thì lại làm cho mất tân dịch thêm, thực không thích hợp. Trường hợp nên dùng thì cứ dùng, như Nội kinh đã dạy: nên phạm mà phạm cũng như không phạm. Người xưa dùng Bán hạ có 3 điều cấm là: bệnh huyết hư, bệnh khát và bệnh ra nhiều mồ hôi, nhưng nó có công chỉ được nôn mửa, là thuốc của Túc dương minh, trừ đờm là thuốc của Túc thái âm, giúp Sài hồ chủ về chứng sợ lạnh là thuốc của Túc thiếu dương, giúp Hoàng cầm chủ về trừ nóng là thuốc của Túc dương minh. Nóng rét qua lại ở khoảng nửa biểu, nửa lý dùng Bán hạ là có ý nghĩa được một nửa.
GIỚI THIỆU THAM KHẢO
“Y học tâm ngộ” Bài Bản hạ bạch truật thiên ma thang
Bài Bán hạ bạch truật thiên ma thang
Bán hạ chế, Thiên ma, Quất hồng-đều 6-8g, Bạch linh, Bạch truật- đều 8-12g, Cam thảo 2-4g, Gừng tươi 2 nhát, Đại táo 2 quả. Sắc, chia uống vài lần trong ngày.
Có tác dụng kiện Tỳ, táo thấp, hóa đờm, tức phong.
Trị đau đầu chóng mặt, đờm nhiều, ngực đầy, do phong đỏm gây nên, rêu lưỡi trẳng nhơt, mạch huyền, hoat.
(Chú ý: đau đầu chóng mặt do Can dương thịnh, âm hư không dùng được bài này).
Sắc, chia uống vài lần trong ngày. Có tác dụng táo thấp, hóa đờm, lý khí, hòa trung.
Trên lâm sàng bài này thường dùng để hỏa đờm, hòa Vị vì thế được dùng nhiều để chữa các chứng đờm.
Gia giảm: Nếu chứng thuộc phong đờm thêm chế Nam tinh, Bạch Phụ tử để trừ phong, hóa đờm.
Nếu thuộc hàn đờm thêm Can Khương, Tế tân để ôn hóa đờm.
Nếu thuộc nhiệt đờm thêm Qua lâu, Bối mẫu, Hoàng cầm để thanh nhiệt hóa đờm.
Nếu thuộc thực đờm thêm La bặc tử, Chỉ xác để tiêu thực hóa đờm.
Viêm Phế quản mạn tính, ngực tức, khó thở, ho đờm nhiều, rêu lưỡi trắng nhớt thêm Tử uyển, Khoản đông hoa, Bách bộ, Cát cánh, Sa nhân để giáng khí, hóa đờm, chỉ khái.
Nếu Vị hàn thể hư, nôn mửa thêm Mộc hương, Sa nhân gọi là bài Hương sa nhị trần thang.
“Hướng dẫn sử dụng các bài thuốc”.
Bài Trúc nhự ôn đảm thang
Bán hạ, Sài hồ, Mạch môn đều 6-10g, Trúc nhự, Bạch linh, Sinh Khương đều 6g,Cát cánh, Trần bì đều 4-6g, Hương phụ 4g, Chỉ xác, Hoàng liên, Nhân sâm đều 2-4g, Cam thảo 2g.
Sắc, chia uống 3 lần trong ngày.
Chữa người do Dạ dày yếu, lạnh, ứ nước sinh đàm lâu ngày, sốt dai dẳng, ho đờm, tâm trạng bức bối, không ngủ, mơ nhiều, thần kinh quá mẫn, sinh viêm Phế quản, viêm Phổi, Tim đập nhanh, ứ đàm, ứ huyết ở ngực, khó thở.
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị đau nhói ở ngực, chính giữa tim đè vào thấy đau, mạch Phù Hoạt: Bán hạ nửa cân, Hoàng liên 40g, Qua lâu 1 trái, 8 bát nước. Trước hết, sắc Qua lâu còn 3 bát, bỏ bã rồi bỏ hai vị kia vào, sắc còn 2 bát, chia làm 3 lần uống (Tiểu Hãm Hung Thang – Thương Hàn Luận).
+ Trị nôn do chứng chi ẩm: Bán hạ ngâm rửa 7 lượng 1 chỉ, 7 tô nước, sắc còn 1,5 chén, chia ra uống (Tiểu Bán Hạ Thang – Thương Hàn Luận).
+ Trị nôn ọe, chóng mặt, hồi hộp, ăn uống không ngon: Bán hạ 1 cân, gừng sống nửa cân, Phục linh 120g, sắc với nước, chia làm 3 lần, uống nóng (Bán Hạ Gia Phục Linh Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị tim hồi hộp: Bán hạ, Ma hoàng, hai vị bằng nhau. Tán bột, làm viên to bằng hạt đậu nhỏ. Mỗi lần uống 30 viên, ngày 3 lần (Bán Hạ Ma Hoàng Hoàn – Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị ăn vào nôn ra: Bán hạ 3 cân, Nhân sâm 120g, Mật ong 1 cân, 8 bát nước. Trộn mật đưa lên cao mà rót xuống 120 lần, xong sắc còn 3 bát rưỡi. Mỗi lần uống 1 bát, uống nóng (Đại Bán Hạ Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị có thai nôn mửa: Bán hạ 80g, Nhân sâm, Can khương mỗi thứ 40g, tán bột, trộn với nước gừng và bột miến làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 10 viên ngày 3 lần (Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị bụng đau do bệnh thiếu âm, sinh mụn lở đau không nói được hay nói không ra tiếng: dùng Bán hạ gĩa nát, lấy một cái trứng gà khoét một cái lỗ bỏ lòng đỏ đi, đổ giấm vào đầy, bỏ Bán hạ vào trong, bỏ trứng lên, rồi sắc, bỏ bã lấy lòng trứng ngậm vào (Khổ Tửu Thang – Thương Hàn Tạp Bệnh).
+ Trị hóc xương: Bán hạ, Bạch chỉ hai vị bằng nhau, tán bột, uống một muỗng canh với nước cho khi nào mửa. Kiêng thịt dê (Ngoại Đài Bí Yếu phương).
+ Trị nôn mửa, lạnh tay chân do hàn đàm: Bán hạ 1 cân, ngâm rửa, sấy khô, trộn bột lúa miến 1 cân với nước, làm thành viên. Ngày 3 lần, mỗi lần nhai nuốt 4-5 viên rồi tăng dần đến 15 viên, khi nào bớt thì thôi, lúc uống cử thịt dê, đường (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị bụng đầy do tiêu chảy, nôn mửa: Bán hạ, Quế, 2 vị bằng nhau, tán bột, uống với nước sôi (Trửu Hậu phương).
+ Trị ung thư, phát bối, vú sưng lở loét: Bán hạ tán bột, trộn lòng trắng trứng gà bôi vào (Trửu Hậu phương).
+ Trị mụn nhọt, đàm nhớt, thanh dược khí trọc ở đầu mắt, ăn uống kém: Bán hạ rửa ngâm 296g, Khô phàn 40g. Tán bột, dùng nước gừng hồ làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 15 viên với nước gừng. Nếu do hàn đàm: thêm Đinh hương 20g, Nhiệt đàm: thêm Hàn thủy thạch (nướng) 160g (Ngọc Dịch Hoàn – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị suyễn do phong hàn: Bán hạ rửa sạch 7 cái, Chích cam thảo, Tạo giác (sao) mỗi thứ 8g, Gừng 2 lát, sắc với 1 ch n rưỡi nước còn 7 phân, uống nóng (Thiên Môn Thang – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị đàm nhiều, định chí, an thần, lợi đầu mắt: Bán hạ khúc 120g, Thiên nam tinh ngâm nước sôi 40g, Thần sa, Khô phàn mỗi thứ 20g. Tất cả tán bột, trộn với nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên khi ăn cơm, với nước gừng (Thần Sa Hóa Đàm Hoàn – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị ăn thức ăn lạnh vào, mửa ra do đàm đình trệ lại bên trong: Bán hạ, Trần bì, Quất bì mỗi thứ 40g. tán bột. Mỗi lần dùng 16g, gừng sống 7 lát, 2 ch n nước, sắc còn 1 chén, uống nóng (Quất Bì Bán Hạ Thang – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị đàm đình lưu lại làm ngực đầy tức, thở ngắn, uốn nôn, ăn không xuống hoặc mửa ra đàm: Bán hạ rửa 200g, Phục linh 120g. Tán bột. Mỗi lần dùng 16g, thêm gừng 7 lát, sắc với 1 ch n nước, còn 7 phân, uống nóng (Phục Linh Bán Hạ Thang – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị trúng nắng, giải khát, tỳ vị không điều hòa: Bán hạ (nấu giấm) 1 cân, Phục linh nửa cân, Cam thảo (sống) nửa cân, tán bột, trộn nước gừng và miến làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. mỗi lần uống 50 viên với rượu nóng (Tiểu Thử Hoàn – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị bón thuộc khí hư, người gìa bón, bón do lạnh: Bán hạ ngâm, rửa, sao, Lưu hoàng sống, 2 vị bằng nhau. Tán bột, trộn với nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với rượu nóng, lúc đói (Bán Lưu Hoàn – Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị phong cùi rụng lông mày: Bán hạ (sống), cứt Dê đốt khô, 2 vị này bằng nhau tán bột, trộn với nước gừng bôi hàng ngày (Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị ho đàm do phế nhiệt: Bán hạ (chế), Qua lâu nhân, mỗi thứ 40g. Tán bột, trộn với nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi ngày uống 30 viên hoặc lấy nước sắc của Qua lâu uống nóng (Tế Sinh phương)
+ Trị phong đàm của người lớn tuổi, phế nhiệt, đàm không thông, tạng phủ nóng quá không tỉnh người: Bán hạ ngâm rửa 7 lần, sấy khô. Tiêu thạch 20g, trộn với bột gạo trắng làm thành viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 1 muỗng canh với nước gừng (Phổ Tế phương).
+ Trị ngực bị nghẹt vì phong đàm: Bán hạ nửa cân, ngâm 1 đêm với nước tương chua, rửa bằng nước nóng nhiều lần để loại bỏ khí độc đi, phơi nắng, rồi tán bột, trộn với nước tương làm thành bánh, phơi khô rồi tán bột, cứ 200g cho vào 4g Long não sống, cho đến khi nước tương đặc dẻo, giở lên thấy có chân thì làm viên to bằng quả trứng gà, bỏ vào vải khâu lại, tránh gió, phơi khô. Mỗi lần uống với trà nóng hoặc uống với nước sắc Bạc hà Ngực Dược Viện phương).
+ Trị trúng phong đàm quyết: Bán hạ ngâm rửa nước sôi 320g, Chích cam thảo 80g, Phòng phong 160g. Mỗi lần dùng 20g sắc với 20 lát gừng, uống (Tỉnh Phong Thang -Kỳ Hiệu Lương phương).
+ Trị chóng mặt do phong đàm, nấc cụt, hoa mắt, sắc mặt xanh vàng, mạch Huyền: Bán hạ sống, Thiên Nam tinh sống, Hàn thủy thạch (nướng), mỗi thứ 40g, Thiên ma 20g, Hùng hoàng 8g, bột Miến 120g. Tán bột, trộn với nước làm thành bánh. Nấu sôi cho nổi lên thì lấy ra gĩa nát, hồ làm viên, to bằng hạt ngô đồng lần uống 50 viên với nước gừng. Có thể trị được chứng ho do phong đàm, đại tiểu tiện không thông, đau đầu do phong đàm (Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị suyễn do phong đàm, muốn nôn, chóng mặt: Bán hạ 40g, Hùng hoàng 12g. Tán bột, tẩm với nước gừng làm viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước gừng. Nếu đã mửa thì thêm Binh lang (Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị đàm kết không ra, tiếng nói không rõ, lâu năm không hết: Bán hạ 20g, Quế tâm xúc chừng một đồng tiền, Thảo ô đầu 2g. Tất cả tán nhỏ, tẩm nước gừng làm thành viên to bằng hạt súng. Mỗi lần dùng 1 viên, ngậm nuốt dần khi ngủ (Ngọc Phấn Hoàn Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị ho do nhiệt đàm, phiền nhiệt, mặt đỏ, miệng khô, đau tim, mạch Hồng Sác: Bán hạ, Thiên nam tinh, mỗi thứ 40g, Hoàng cầm 60g, tán bột, tẩm nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 2 muỗng canh với nước gừng sau khi ăn (Tiểu Hoàng Hoàn – Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị ho do khí đàm, bệnh nhân mặt trắng bệch, sợ lạnh, thở nhanh, buồn rầu, mạch Sáp: Bán hạ, Nam tinh mỗi thứ 40g, Quan quế 20g, tán bột, làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với nước gừng (Ngọc Phấn Hoàn – Khiết Cổ Gia Trân).
+ Trị phong đàm, thấp đàm: Bán hạ 1 cân, Thiên nam tinh 20g, tất cả đều ngâm nước, phơi nắng, tán bột, trộn nước gừng làm thành bánh, sấy khô. Dùng Thần khúc 20g, Bạch truật 80g, Chỉ thực 80g, hòa với bột miến và nước gừng làm thành viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với nước gừng sống (Thanh Hồ Hoàn – Lâm Chứng Chỉ Nam).
+ Trị đờm nhiều, ngực đầy: Bán hạ 1 cân, ngâm rửa 7 lần tán bột. Hễ dùng Bán hạ 40g thì dùng 4g Thần sa, hòa với nước gừng làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 1 muỗng canh với nước gừng (Thần Sa Bán Hạ Hoàn – Tụ Trân phương).
+ Trị ho do nhiệt đàm ở thượng tiêu: Bán hạ (chế qua) 40g, Hoàng cầm bột 8g, hồ với nước gừng làm viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 70 viên với nước gừng, sau bữa ăn (Tụ Trân phương).
+ Trị đờm nhiều do rượu, ngực đầy trướng khó chịu: Bán hạ sống, rửa xong, sấy khô, tán bột. Trộn với nước gừng làm thành bánh, rồi lấy giấy ướt đó gói lại nướng cho thơm, lấy 2 bát nước chín với 8g bánh, trộn với 2 phân muối, sắc còn 1 chén, uống (Đẩu Môn phương).
+ Trị đờm nhiều do rượu: Bán hạ, Thiên nam tinh mỗi thứ 80g, tán bột, dùng 5 bát nước cho vào chậu sành ngâm 1 đêm, đổ nước đi, sấy khô, tán bột. Mỗi lần dùng 8g sắc với 3 lát gừng, uống (Kinh Nghiệm phương).
+ Trị đau tim do thấp đàm, suyễn cấp: Bán hạ khúc, sao, tán bột, trộn với nước cháo lỏng làm viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 20 viên với nước gừng (Đan Khê Tâm Pháp).
+ Trị thương hàn: Bán hạ 16g, Gừng sống 7 lát, sắc với 1 ch n rượu (Hồ Hiệp Cư Sĩ Bách Bệnh phương).
+ Trị thương hàn ợ khan: Bán hạ chế, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước gừng (Mai Sư phương).
+ Trị trẻ nhỏ tiêu chảy, nôn mửa do tỳ vị hư hàn: Bán hạ ngâm rửa 7 lần, Trần thương mễ, mỗi thứ 4g, gừng sống 10 lát, sắc uống nóng (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết).
+ Trị trẻ nhỏ hay mửa ra đàm, ho phát sốt, ăn vào nôn ra: Bán hạ (ngâm rửa) 280g, Đinh hương 4g. Lấy Bán hạ trộn với nước, bọc Đinh hương, rồi lấy miến làm bánh bao ngoài, đem nướng cho chín, xong chỉ lấy Bán hạ và Đinh hương trộn với gừng làm viên, to bằng hạt mè. Mỗi lần uống 20-30 viên với nước Trần bì (Hoạt Ấu Khẩu Nghị).
+ Trị trẻ nhỏ bụng đầy: Bán hạ tán bột, trộn với rượu làm viên to bằng hạt thóc. Mỗi lần uống 2 viên với nước gừng, nếu không thấy đỡ, lấy lửa sao nóng, tán bột, trộn nước gừng đắp lên rốn (Tử Mẫu Bí Lục phương).
+ Trị suyễn, tiểu không thông, vàng da: Bán hạ, gừng sống mỗi thứ nửa cân, sắc với 7 ch n nước còn 1 ch n rưỡi, chia làm 3 lần uống (Trọng Cảnh phương).
+ Trị thở mệt do mất huyết, suyễn, nôn ra đàm, đầy ứ bên trong: Bán hạ gĩa bẹp ra, lấy nước gừng hòa với miến, nướng vàng, tán bột, làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước đun sôi (Trực Chỉ phương).
+ Trị bạch trọc, di tinh, mộng tinh: Bán hạ rửa 10 lần, xắt nhỏ, lấy Mộc trư linh 80g, tất cả sao vàng để hết hỏa độc, song bỏ Trư linh. thêm Mẫu lệ (sao qua) 40g. tán bột. Lấy Sơn dược làm hồ, trộn thuốc bột làm viên, to bằng hạt ngô đồng.
Mỗi lần uống 30 viên với nước Phục linh (Bản Sự phương).
+ Trị các loại đau nhức ở đầu: Bán hạ tán nhỏ, 1 chút Bách thảo sương, lấy giấy cuốn thuốc vào đốt xông khói vào mũi, trong miệng phải ngậm nước. Khi có đờm dãi ra thì súc miệng ngậm nước khác (Vệ Sinh Bảo Giám).
+ Trị cuống họng liệt, họng sưng nghẹt: Bán hạ (sống), tán bột thổi vào mũi, khi nào có nhớt dãi ra là có hiệu quả (Tập Giản phương).
+ Trị trên mặt phong nám đen: Bán hạ sấy khô, nghiền, dùng giấm gạo bôi vào, bôi 3 ngày liền từ sáng đến chiều tối rồi dùng nước sắc Tạo giác mà rửa, kiêng gió (Trích Huyền phương).
+ Trị sinh đẻ mà rặn quá làm cho ruột sa xuống (Bàn trường sa): Bán hạ tán bột, thổi vào mũi nhiều lần có thể k o lên được (Phụ Nhân Lương phương).
+ Trị sản hậu chóng mặt: Bán hạ tán bột, trộn với nước làm viên, to bằng hạt ngô đồng, nhét vào trong lỗ mũi (Trửu Hậu phương).
+ Trị trẻ nhỏ động kinh: Bán hạ (sống) 4g, Tạo giác 2g. tán nhuyễn, thổi 1 chút vào mũi thì tỉnh (Thế Kinh Tán – Trực Chỉ phương).
+ Cứu các chứng chết đột ngột như: Thắt cổ, vật gì đè mà chết, ma quỷ đè mà chết, chết đuối: lấy Bán hạ tán bột, bỏ vào mũi bằng hạt đậu xanh (Tử Mẫu Bí Lục phương).
+ Trị vú sưng, cho con bú mà núm vú sưng: Bán hạ 4g, nướng rồi nghiền, uống với rượu (Lưu Trường Xuân Kinh Nghiệm phương).
+ Trị vú sưng, cho con bú mà núm vú sưng: dùng bột Bán hạ tùy theo bên đau mà thổi vào mũi (Lưu Trường Xuân Kinh Nghiệm phương).
+ Trị dộp phỏng chân vì đi đường xa: Dùng bột Bán hạ trộn nước bôi vào (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
+ Trị bị vật sắc đâm vào trong thịt không ra được:Bán hạ, Bạch liễm 2 vị bằng nhau, tán bột, uống một muỗng canh với rượu, ngày 3 lần, liên tục 20 ngày (Lý Thuyên Đại Bạch Kinh phương).
+ Trị côn trùng bay vào lỗ tai: Bán hạ trộn dầu mè xức ngoài lỗ tai (Bản Sự phương).
+ Trị Bọ cạp, Ong đốt, dùng Bán hạ tán bột trộn nước xức vào (Tiền Tướng Công Khiếp Trung phương).
+ Trị bất tỉnh đột ngột: Bán hạ tán bột thổi vào mũi (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị lưỡi sưng cứng, lưỡi sưng lớn đầy miệng: Bán hạ sắc với giấm rồi súc miệng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị lưỡi sưng cứng, lưỡi sưng lớn đầy miệng: Bán hạ 20 củ nấu qua, sắt lát, khi sao lấy rượu tẩm vào, có mật ong lại càng tốt, ngậm khi nóng, nguội lại thay (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị trẻ con thóp trước bị hở (do lãnh khí): lấy nước trộn với Bán hạ đắp dưới lòng Bàn chân (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tham khảo:
+ Khi dùng Bán hạ phải đem ngâm nước nóng chừng nửa ngày cho hết nhớt nếu không sẽ còn độc uống vào ngứa cổ không chịu được, trong các Bài thuốc người ta thường dùng Bán hạ kèm theo Sinh khương vì Sinh khương chế được độc của nó (Bản Thảo Cương Mục).
+ Công dụng Bán hạ rất nhiều nhưng chủ yếu là tiêu đàm nhưng chủ yếu cốt là chữa khí nghịch nhưng có chất táo chứng ho mà đàm sáp không nên dùng, sở dĩ lợi được tiểu tiện là cốt ở chỗ chữa khí kiệt mà làm cho khí thông lợi. Chữa về bệnh gì cũng một mẻ là thông khí và giáng khí nhất là chứng mửa thì rất thường dùng, vì lạnh hợp với thuốc ấm (ôn), nóng hợp với thuốc mát (lương), bệnh gì có chứng mửa là dùng được. Đàn bà có thai phải kiêng dùng Bán hạ, nhưng nếu có chứng mửa vẫn có thể cho uống được (Bách Hợp).
+ Uông Cơ nói rằng: Tỳ vị thấp nhiệt nước dãi hóa thành đờm không có Bán thì không chữa được, nếu thay bằng Bối mẫu thì chỉ ngửa đầu chịu chết mà thôi, Lý Thời Trân cũng nói rằng: Tỳ không có thấp lưu trệ lại thì không có đờ, cho nên tỳ là nguồn sinh ra đờm. Bán hạ trị được đờm là vì thế, chất nó trơn hoạt vị cay tính ấm, trơn hoạt thì nhuận, cay ấm thì tán mà cũng nhuận được cho nên hành được thấp mà không thông đại tiện, lợi khí cũng tiết tiểu tiện, vì thế nói vị cay thì
tán khí, hóa như vậy. Đơn khê bảo Bán hạ có khả năng làm cho đại tiện nhuận mà tiểu tiện dài. Thành vô kỷ nói: Bán hạ hành thủy khí mà nhuận thận táo. Bài “Bán Lưu Hoàn” của sách “Cục phương” chính người gìa hư bế là dùng vào tính trơn nhuận của nó. Tục thường cho Bán hạ là táo, không biết rằng lợi thủy trừ thấp mà làm cho thổ táo chứ không phải tính nó táo vậy. Có điều không phải là chứng tà khí thấp nhiệt mà dùng nó thì lại làm cho mất tân dịch thêm, thực không thích hợp. Trường hợp nên dùng thì cứ dùng đúng như Nội Kim đã dạy: Nên phạm thì cứ phạm cũng như không phạm. Người xưa dùng Bán hạ có 3 điều cấm là: Bệnh huyết, bệnh khát, và bệnh ra mồ hôi nhưng nó có công ngăn trị được nôn mửa, là thuốc của trúc dương minh, trừ đàm là thuốc của Túc thiếu dương, Giúp hoàng cầm chủ về chừng sợ lạnh, thì lại ra thuốc của Túc thiếu dương, giúp Hoàng cầm chủ về trừ nóng thì lại là thuốc của Túc dương minh, nóng rét qua lại khoảng bán biểu, bán lý cho nên dùng Bán hạ trong trường hợp này là có nghĩa được một nửa (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Cũng có chứng hư hàn mà nôn mửa, nhất thiết không được dùng Bán hạ, Trần bì, vì hễ dùng nó ắt ra mồ hôi mà vong dương (Y Trung Quan Miện – Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh).
Lịch sử: Thiên ‘Nguyệt Lệnh’ (sách ‘Lễ Ký’), ghi rằng: Vị thuốc này sinh ra giữa mùa hè nên gọi là Bán hạ (Bán: nửa, Hạ: mùa hè)
Phân biệt:
Căn cứ vào báo cáo nghiên cứu năm 1960 của trại cây trồng thuốc Nam Xuyên thì hình thái của cây Bán hạ thay đổi rất lớn, qua điều tra sơ bộ có thể chia làm 4 loài:
Cây Bán Hạ Phổ Thông: Cây to cao, lá đơn hình kim phình ở giữa, màu xanh sẫm, nhánh chồi mọc ở dưới cuống lá.
Cây Bán Hạ Lá Rộng: Cây tương đối thấp bé, phiến lá đơn hình bầu dục, màu xanh nhạt, nhánh chồi mọc ở mé trong phần dưới cuống lá.
Cây Bán Hạ Nhành Chồi: Cây tương đối thấp b , lá đơn hình bầu dục, màu xanh nhạt, nhánh chồi mọc ở phần gốc, cuống lá có 3 lá kép.
Cây Bán Hạ Lá Dài: Cây cao và nhánh trồi mọc trên cuống lá cũng giống như nhánh chồi của cây Bán hạ lá rộng, nhưng có 5 lá đơn, lá giữa khá Trong 4 loài trên, thường thấy nhất là loài phổ thông và lá rộng nhưng sản lượng của loài nào cao nhất, chất lượng tốt nhất cần phải nghiên cứu thêm.
Cần phân biệt với cây Bán hạ nam còn gọi là củ tróc (Typhonium trilobatum Schott).
Cũng cần phân biệt với cây Thiên nam tinh hay củ Nưa (Arisaema consanguineum , Arisaema balansae Engl.. Arisaema petiolulatum Gagnep) có thân rễ hình củ tròn hơi giống hình Bán hạ bắc nhưng lớn hơn, đường kính khoảng 5cm được dùng làm thuốc có tác dụng an thần, giảm đau tiêu đàm, dùng tươi đắp ngoài chữa sưng tấy nhọt độc (Dqnh Từ Dược Vị Đông Y).
Đầu hãn là chỉ chứng chỉ ra mồ hôi ở vùng đầu và mặt. Biện Thái dương bệnh mạch chứng tính trị – Thương hàn luận: “Chỉ ra mồ hôi ở đầu đến vùng cổ gáy thì ngừng”.
Chứng ra mồ hôi ở đầu cũng có thể xuất hiện ở người bình thường như đang bữa ăn hoặc trẻ em khi đi ngủ cũng ra mồ hôi ở đầu, nhưng nếu không có chứng trạng nào khác, tục gọi là “Chưng lung đầu”, trường hợp này không coi là dấu hiệu bệnh biến.
Phân biệt
Chứng hậu thường gặp
Ra mồ hôi ở đầu do Thấp nhiệt hun đốt: Có chứng ra mồ hôi ở đầu mặt, tiểu tiện bất lợi, mắt và thân thể có màu vàng, sợ lạnh phát nhiệt, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Nhu Sác.
Ra mồ hôi ở vùng đầu do dương khí bất túc: Có chứng ra mồ hôi ở đầu mặt, sắc mặt nhợt hoặc tái xanh, chân tay không ấm, đoản hơi sợ lạnh, mỏi mệt yếu sức, lưỡi nhạt, non, mạch Hư Nhược.
Phân tích
– Chứng ra mồ hôi ở đầu do Thấp nhiệt hun đốt: Vì bị Thấp tà xâm phạm, uất nghẽn hóa nhiệt, Thấp nhiệt hun đốt không phân tán đi khắp nơi, chỉ có thể theo kinh để vượt lên thúc ép tân dịch tiết ra ngoài, cho nên đầu mặt ra mồ hôi. Thấp ngăn trở Bàng quang phân lợi thất thường thì tiểu tiện không lợi. Thấp nhiệt hun đốt Can Đởm, Đởm chấp tràn ra ngoài cơ bắp tùy theo bệnh tình nặng nhẹ có thể xuất hiện mắt và thân thể phát màu vàng. Thấp nhiệt nghẽn ở trong muốn đạt mà không đạt ra được. Doanh Vệ bất hòa cho nên ố hàn phát nhiệt. Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Nhu Sác là dấu hiệu Thấp nhiệt đều thịnh. Điều trị nên thanh lợi Thấp nhiệt chọn dùng phương Nhân trần ngũ linh tán.
– Chứng ra mồ hôi ở đầu do dương khí bất túc: Đây là thuộc Hư chứng, phần nhiều do sau khi mắc bệnh, sau khi đẻ hoặc người cao tuổi dương khí bất túc tấu lý không bền, tân dịch tiết ra ngoài, cho nên thấy đầu mặt ra mồ hôi khá nhiều. Dương khí bất túc, âm huyết cũng theo đó mà hư yếu không đưa lên làm tươi tốt vùng mặt cho nên sắc mặt nhợt hoặc tái xanh. Dương khí hư yếu không phân bố được ra ngoài nên chân tay không ấm và sợ lạnh, đoản hơi, tinh thần mệt mỏi yếu sức, lưỡi nhạt bệu, mạch Hư Nhược… đều là do dương khí bất túc gây nên. Điều trị nên ôn dương ích khí, cố biểu liễm mồ hôi, chọn dùng phương Kỳ phụ thang gia Hồng sâm, Long cốt, Mẫu lệ.
Chứng ra mồ hôi ở đầu đều có thể xuất hiện ở Hư chứng và Thực chứng, nhưng Thực chứng phần nhiều do Thấp nhiệt gây nên, Hư chứng phần nhiều do dương khí bất túc gây nên. Trong lâm sàng còn gặp các bệnh Quan cách, Thủy kết hung và Thiếu dương bệnh, cũng có chứng ra mồ hôi ở đầu. Người cao tuổi suyễn thỡ và bệnh nặng khi co dấu hiệu dương thoát cũng thấy ra mồ hôi ở đầu cần phải quan tâm đặc biệt.
Trích dẫn y văn
Thương hàn 5,6 ngày ra mồ hôi ở đầu, hơi ố hàn, chân tay lạnh, dưới Tâm đầy, chán ăn, đại tiện rắn, mạch Tế đó là chứng Dương vi kết tất có chứng trạng ở biểu (Biện Thái dương bệnh mạch chứng tính trị – Thương hàn luận).
Vị nhiệt hun đốt lên trên, mồ hôi ở vùng trán có màu vàng, tiểu tiện không lợi cho uống Ngũ linh tán gia Nhân trần. Bệnh Thương hàn đau sườn tai điếc, hàn nhiệt đắng miệng, mồ hôi ra ở đầu đến cổ thì ngừng là bệnh thuộc Thiếu dương (Hãn chứng – Loại chứng trị tài).
Phôi thai học: nhãn cầu và dây thần kinh thị giác là phần kéo dài của não trước. Giao thoa và đường thị giác sau giao thoa là phần kéo dài của não trung gian.
Màng não bao quanh dây thần kinh thị giác có nguồn gốc ngoại bì và trung bì, như vậy có khả năng có bệnh lý chung của thần kinh, da và mắt cũng như có chung hội chứng thoái hoá và nhiễm khuẩn.
Đường thị giác
Đường thị giác bắt đầu từ các tế bào thị giác nằm ở lớp ngoài của võng mạc, các tế bào hạch sẽ cho các sợi thị giác đi hướng vào lóp trong và tập trung lại ở đĩa thị thành dây thần kinh thị giác.
ở vị trí đĩa thị – các sợi thần kinh từ võng mạc phía mũi tạo thành phần trong của đĩa thị. Các sợi thần kinh từ võng mạc phía thái dương tạo thành phần ngoài và các sợi thần kinh từ vùng hoàng điểm sẽ nằm chính giữa dây thần kinh.
Hai dây thần kinh thị giác sau khi qua lỗ thị giác và ống thị giác sẽ tập trung lại thành giao thoa thị giác. Chính ở đó hình thành sự bắt chéo một nửa. Bó sợi phía thái dương đi từ bờ ngoài giao thoa tối dải thị giác cùng bên; còn bó sợi phía mũi đi qua trung tâm của giao thoa chéo sang dải thị giác phía bên kia. Các sợi của bó hoàng điểm cũng chia theo hai ngả.
Giao thoa thị giác nằm phía trên tuyến yên, giữa hai ống động mạch cảnh. Các bó sợi thần kinh sau giao thoa sẽ kéo dài tiếp thành dải thị giác, chúng chứa đựng một nửa số sợi thị giác cùng bên mắt này và nửa số sợi thị giác khác bên của mắt kia. Dải thị giác vòng qua cuống não và tận hết ở thể gối ngoài. Tại đó những tế bào thần kinh cuối sẽ kéo dài tiếp theo hình quạt nên được gọi là tia thị giác. Tia thị giác chia làm hai bó. Bó trên toả ra ở sừng thái dương của não thất bên và từ đó đến thành ngoài sừng chẩm sau một vòng gọi là vòng Bó dưới toả vào mặt ngoài của não thất bên cùng với các tia thính giác, bó Turck, bó thái dương cầu và tận cùng ở mép sau khe cựa.
Nuôi dưỡng: thị thần kinh được nuôi dưỡng bởi động mạch mắt (là nhánh của động mạch cảnh trong). Vùng giao thoa có hệ thống mạch máu phong phú hơn do động mạch cảnh trong trực tiếp chia nhánh hoặc qua trung gian là động mạch não trước và còn bởi nhánh nối thông sau.
Phần trước dải thị giác được nuôi dưỡng bởi nhánh nối thông trước và phần sau được nuôi dưỡng bởi động mạch hắc mạc.
Thể gối ngoài và vùng tia thị giác được nuôi dưỡng bởi động mạch não sau và một nguồn khác là động mạch hắc mạc.
Ngoài ra vùng tia thị giác còn được tưới máu bổ sung bởi động mạch Sylvius.
BIẾN ĐỔI VỀ GIẢI PHẪU CỦA THẦN KINH THỊ GIÁC
Biến đổi sinh lý
Ở trẻ sơ sinh, đĩa thị màu thường hồng nhạt hoặc hơi xanh xám, hình ảnh này kéo dài đến 1 tuổi.
Lõm đĩa thị có thể rộng, thường phải lưu tâm để phân biệt với lõm gai Glocom hoặc khuyết đĩa thị.
Liềm đĩa thị bẩm sinh thường ở phía dưới hoặc cả phía mũi, trong khi liềm cận thị thì ở phía thái dương.
Dị tật hoặc khuyết tật đĩa thị: (hình 14)
Khuyết đĩa thị điển hình là do ngừng đóng lại rãnh phôi thai. Như vậy có thể thấy khuyết cả hắc võng mạc từ bờ đồng tử đến tận đĩa thị, thường thấy khuyết ở phần mũi dưới – và sự phân chia mạch máu sẽ bất thường, có thể gặp dị tật ở một mắt hoặc cả hai mắt không đối xứng. Thường phối hợp với tổn thương khác như nhãn cầu nhỏ bẩm sinh hoặc mắt nhỏ dạng nang.
Giả khuyết đĩa thị hay khuyết đĩa thị không điển hình là do rối loạn quá trình đóng lại của rãnh phôi thai. Khuyết này chỉ liên quan đến nửa phần dưới của đĩa thị dưới hình thức như lõm từng phần hoặc hình móng ngựa.
Khi khuyết từng phần thì phần còn lại của đĩa thị vẫn có màu hồng. Không có tổn hại hắc võng mạc kèm theo nhưng thường kèm theo các tật khúc xạ.
Về phương diện tế bào học, hố khuyết có thể to, nhỏ nhưng không có sợi thị giác trong diện .khuyết.
Bệnh xảy ra tự phát hoặc di truyền, (xem hình 18.14 ở phần phụ bản màu cuối sách)
Hố gai thị bẩm sinh: (hình 18.15)
— Thường chỉ gặp ở một mắt – nguyên nhân do thiếu chất ở đầu thần kinh thị giác.
Hình 18.15. Hố gai thị bẩm sinh A. Lâm sàng B. Huỳnh quang
Soi đáy mắt thấy ở phía thái dương của đĩa thị có một hốc màu xám nâu hoặc xám xanh, kích thước có thể to nhỏ tuỳ trường hợp.
Biến chứng thường gây bong thanh dịch võng mạc trung tâm.
Hội chứng đĩa thị hình hoa huệ (Morning Glory Syndrome): (hình 18.16)
Đó là một bệnh bẩm sinh hiếm gặp: thường chỉ ở một mắt, chức năng chỉ còn đếm ngón tay.
Hình 18.16. Hội chứng Morning Glory
Hình ảnh đáy mắt: đĩa thị to ra do giãn lồi củng mạc quanh đĩa thị, lõm sâu như hình phễu. Thường khó nhận ra vì có tăng sinh thần kinh đệm màu hồng nhạt chất đầy ở trung tâm. Mạch máu võng mạc thì nhiều, mảnh, nhô ra ở bờ đĩa thị.
Tổn thương này có thể kèm theo những dị tật khác ở mắt và có thể biến chứng bong võng mạc.
Xoắn vặn đĩa thị (Dysversion papillaire):
Triệu chứng học nghèo nàn. Thường gây giảm thị lực hoặc nhược thị sâu, hoặc khuyết thị trường phía thái dương hai mắt.
Hình ảnh đĩa thị gần như bình thường, bờ thái dương hơi nhô lên. Trục đĩa thị và mạch máu nghiêng từ sau ra trước và từ trong ra ngoài.
Vấn đề là nếu hiểu rõ những triệu chứng này có thể tránh được những việc làm không cần thiết như tìm tổn thương thần kinh sọ, chụp CT. v.v.
Xoắn vặn đĩa thị thường kèm theo với liềm đĩa thị bẩm sinh. Đó là một mặt hình liềm, giới hạn rõ bao quanh bờ đĩa thị. Bình diện của liềm thường hơi sâu hơn bình diện võng mạc bên cạnh. Điều này chứng tỏ có một sự suy giảm của màng sau nhãn cầu.
Liên quan đến liềm bẩm sinh đôi khi có những mảng mất sắc tố giống như bạch tạng từng phần hoặc giả bạch tạng thường như một hình tam giác từ đĩa thị đến Ora.
Những dị dạng đĩa thị khác
Bất sản đĩa thị (Aplasie de la papille):(Hình 18.17)
Bất sản đĩa thị và thần kinh thị giác là một bất thường đặc biệt do không có tế bào hạch để hình thành các bó sợi thần kinh cũng như không có mạch máu. Đó là một mắt mù.
Thiểu sản đĩa thị (Hypoplasie papillaire):(Hình 18.18)
Đó là những rối loạn gây giảm kích thước đĩa thị và dây thần kinh thị giác nhưng vẫn có các tế bào hạch và mạch máu võng mạc. Mắt thường bị nhược thị và rung giật nhãn cầu. Đáy mắt thấy đĩa thị nhỏ, bao quanh bởi một vòng màu trắng ngà bờ của nó có sắc tố nên còn gọi là ” dấu hiệu hai vòng”.
Có thể thiếu sản đĩa thị kèm theo những rối loạn khác trong sọ mặt. Hội chứng De Morsier được mô tả là do sự thiểu sản của vách trong suốt (Septum lucidum). Thể bệnh nặng gây mù hoàn toàn do teo thần kinh thị giác, rung giật nhãn cầu, lác.
Có thể kèm theo tâm thần trì độn, dị dạng cơ thể khác.
Đĩa thị to bẩm sinh (Mégalopapille) hoặc hai đĩa thị: (H 18.19) •
Đó là những mô tả cá biệt trong y văn hết sức hiếm gặp. Người ta thấy có 2 vòng đĩa thị riêng biệt với 2 chùm mạch máu ở trung tâm riêng rẽ.
Hình 18.19 Mégalopapille
Loạn tạo myelin
Bình thường sự hình thành bao myelin kết thúc lúc trẻ ra đời hoặc muộn hơn một chút. Quá trình này từ trung tâm đi ra và dừng lại ở lá sàng sau 9 tháng:
Chậm hình thành bao myelin của thị thần kinh hay hội chứng Beau vieux: Ớ trẻ nhỏ, đĩa thị có màu xám, đôi khi đen nên còn gọi là bệnh giả teo đĩa thị.
Tiến triển có thể thuận lợi sau nhiều tháng cùng với sự mýelin hoá đĩa thị thì thị lực tăng dần. Nếu mắt bị lác và rung giật nhãn cầu kèm theo thì tiên lượng xấu.
Tồn lưu sợi myelin quanh đĩa thị: (H 18.20 xem ở phần phụ bản màu ở cuối sách).
Trên những mắt giải phẫu và chức năng bình thường.
Soi đáy mắt thấy những mảng màu trắng bao quanh một phần hoặc gần toàn bộ đĩa thị, đôi khi trải rộng ra đến tận cực sau.
Chứng bệnh này không tiến triển.
Tồn lưu đĩa thi Bergmeister: (H 18.21)
Bình thường đĩa thị Bergmeister được hình thành từ tháng thứ 4 của phôi thai bởi động mạch hyaloid giãn phình đoạn gai và chiếm phần phễu của các thớ sợi thần kinh. Từ chỗ giãn phình sẽ phát sinh ra các động mạch võng mạc. Đến tháng thứ 7, đĩa thị này sẽ tiêu đi, đó chính là lõm gai sinh lý.
Hình ảnh đáy mắt của bệnh tồn lưu đĩa thị Bergmeister sẽ thấy hệ thống mạch máu hyaloid không tiêu hết còn lại ở mặt trước đĩa thị về phía thái dương có những đoạn mạch máu dài ngắn, xung quanh có vỏ thần kinh đệm nhô vào dịch kính.
Tác dụng phụ, nghiện, liều lượng, tương tác, cảnh báo, ý kiến thêm
Thuốc generic: methylphenidate HCL Tên thương hiệu: Adhansia XR
Adhansia XR (methylphenidate HCL) là gì và cách thức hoạt động như thế nào?
Adhansia XR (methylphenidate HCL) là một loại thuốc theo toa được sử dụng để điều trị các triệu chứng của Rối loạn Tăng động Giảm chú ý (ADHD) và chứng Ngủ rũ. Adhansia XR có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với các loại thuốc khác.
Adhansia XR thuộc về một nhóm thuốc gọi là Stimulants (thuốc kích thích); các tác nhân điều trị ADHD.
Chưa biết liệu Adhansia XR có an toàn và hiệu quả ở trẻ em dưới 6 tuổi hay không.
Tác dụng phụ của Adhansia
CẢNH BÁO
Lạm dụng và Phụ thuộc
Các thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương (CNS), bao gồm Adhansia XR, các sản phẩm chứa methylphenidate khác, và amphetamines, có khả năng cao về lạm dụng và phụ thuộc. Đánh giá nguy cơ lạm dụng trước khi kê đơn, và theo dõi các dấu hiệu lạm dụng và phụ thuộc trong quá trình điều trị.
Adhansia XR có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm:
Nổi mề đay,
Khó thở,
Sưng mặt, môi, lưỡi hoặc họng,
Đau ngực,
Vấn đề về hô hấp,
Cảm giác chóng mặt,
Ảo giác,
Các vấn đề về hành vi mới,
Hành vi hung hăng,
Thù địch,
Paranoia,
Tê,
Đau,
Cảm giác lạnh,
Vết thương không giải thích được,
Thay đổi màu da (trắng, đỏ, hoặc xanh) ở ngón tay hoặc ngón chân, và
Cương dương đau đớn kéo dài 4 giờ hoặc hơn.
Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào ở trên, hãy tìm sự trợ giúp y tế ngay lập tức.
Các tác dụng phụ phổ biến của Adhansia XR bao gồm:
Sưng tấy quá mức,
Thay đổi tâm trạng,
Lo lắng,
Cáu kỉnh,
Vấn đề về giấc ngủ (mất ngủ),
Nhịp tim nhanh,
Đập mạnh trong lồng ngực,
Cảm giác rung rinh trong ngực,
Tăng huyết áp,
Mất cảm giác thèm ăn,
Giảm cân,
Khô miệng,
Buồn nôn,
Đau bụng, và
Đau đầu.
Hãy thông báo cho bác sĩ nếu bạn gặp bất kỳ tác dụng phụ nào khiến bạn khó chịu hoặc không biến mất.
Đây không phải là tất cả các tác dụng phụ có thể xảy ra của Adhansia XR. Để biết thêm thông tin, hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn.
Adhansia XR có gây nghiện hoặc triệu chứng cai thuốc không?
Lạm dụng và Phụ thuộc Thuốc
Chất kiểm soát
Adhansia XR chứa methylphenidate, một chất kiểm soát loại II.
Lạm dụng
Các thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương (CNS) bao gồm Adhansia XR, các sản phẩm chứa methylphenidate khác, và amphetamines có khả năng cao về lạm dụng. Lạm dụng là việc sử dụng thuốc không theo mục đích điều trị, ngay cả một lần, để đạt được một hiệu ứng tâm lý hoặc sinh lý mong muốn. Lạm dụng được đặc trưng bởi sự kiểm soát kém trong việc sử dụng thuốc, sử dụng thuốc một cách cưỡng bức, tiếp tục sử dụng mặc dù có hại, và sự thèm thuốc.
Các dấu hiệu và triệu chứng của lạm dụng thuốc kích thích CNS bao gồm nhịp tim tăng, nhịp thở tăng, huyết áp tăng, và/hoặc ra mồ hôi, đồng tử giãn, tăng động, lo âu, mất ngủ, giảm cảm giác thèm ăn, mất phối hợp, run, da mặt đỏ, nôn mửa, và/hoặc đau bụng. Cũng đã quan sát thấy lo âu, tâm thần, thù địch, hành vi hung hăng, và ý nghĩ tự sát hoặc giết người. Những người lạm dụng thuốc kích thích CNS có thể nhai, hít, tiêm, hoặc sử dụng các phương pháp không được phê duyệt khác để sử dụng thuốc, điều này có thể dẫn đến quá liều và tử vong.
Để giảm lạm dụng thuốc kích thích CNS bao gồm Adhansia XR, hãy đánh giá nguy cơ lạm dụng trước khi kê đơn. Sau khi kê đơn, hãy giữ hồ sơ kê đơn cẩn thận, giáo dục bệnh nhân và gia đình về lạm dụng cũng như cách bảo quản và tiêu hủy thuốc kích thích CNS, theo dõi các dấu hiệu lạm dụng trong quá trình điều trị, và đánh giá lại nhu cầu sử dụng Adhansia XR.
Phụ thuộc
Thích nghi
Thích nghi (một trạng thái thích ứng trong đó sự tiếp xúc với một loại thuốc dẫn đến giảm các hiệu ứng mong muốn và/hoặc không mong muốn của thuốc theo thời gian) có thể xảy ra trong quá trình điều trị kéo dài với các thuốc kích thích CNS bao gồm Adhansia XR.
Phụ thuộc
Phụ thuộc thể chất (một trạng thái thích ứng được thể hiện bằng hội chứng cai thuốc do ngừng đột ngột, giảm liều nhanh chóng, hoặc dùng chất đối kháng) có thể xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc kích thích CNS bao gồm Adhansia XR.
Các triệu chứng cai thuốc sau khi ngừng đột ngột sau khi dùng liều cao kéo dài của các thuốc kích thích CNS bao gồm tâm trạng khó chịu; trầm cảm; mệt mỏi; những giấc mơ sống động, không dễ chịu; mất ngủ hoặc ngủ nhiều; thèm ăn tăng; và sự chậm chạp hoặc kích thích tâm thần vận động.
Liều lượng cho Adhansia XR là gì?
Sàng lọc trước điều trị
Trước khi bắt đầu điều trị bằng Adhansia XR, hãy đánh giá sự hiện diện của bệnh tim (tức là thực hiện lịch sử bệnh cẩn thận, tiền sử gia đình có đột tử hoặc loạn nhịp thất, và khám lâm sàng).
Đánh giá nguy cơ lạm dụng trước khi kê đơn và theo dõi các dấu hiệu lạm dụng và phụ thuộc trong quá trình điều trị. Giữ hồ sơ kê đơn cẩn thận, giáo dục bệnh nhân về lạm dụng, và định kỳ đánh giá lại nhu cầu sử dụng Adhansia XR.
Thông tin chung về liều dùng
Sử dụng Adhansia XR qua đường uống một lần mỗi ngày vào buổi sáng, có thể dùng cùng hoặc không cùng thức ăn.
Liều khởi đầu khuyến cáo của Adhansia XR cho bệnh nhân từ 6 tuổi trở lên là 25 mg một lần mỗi ngày. Tăng liều theo các mức 10 đến 15 mg với khoảng thời gian không ít hơn 5 ngày.
Các liều cao hơn 100 mg mỗi ngày ở người lớn và 85 mg mỗi ngày ở bệnh nhân nhi chưa được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng và không được khuyến nghị. Mặc dù hiệu quả đã được chứng minh trong các thử nghiệm có kiểm soát ngắn hạn ở người lớn với liều 100 mg mỗi ngày, nhưng liều trên 85 mg mỗi ngày có liên quan đến việc gia tăng không tỷ lệ với một số phản ứng có hại nhất định.
Trong các thử nghiệm có kiểm soát ngắn hạn ở bệnh nhân nhi, hiệu quả đã được chứng minh với liều 70 mg mỗi ngày, nhưng liều 70 mg mỗi ngày trở lên có liên quan đến việc gia tăng không tỷ lệ với một số phản ứng có hại nhất định. Điều chỉnh liều lượng theo từng cá nhân dựa trên đánh giá lợi ích lâm sàng và khả năng dung nạp, với sự cân nhắc cẩn thận về các phản ứng có hại liên quan đến liều.
Adhansia XR có thể được uống nguyên viên hoặc mở nang và rắc toàn bộ nội dung lên một thìa sốt táo hoặc sữa chua. Toàn bộ hỗn hợp nên được tiêu thụ ngay lập tức hoặc trong vòng 10 phút.
Nếu hỗn hợp không được tiêu thụ trong vòng 10 phút sau khi trộn, nó nên được loại bỏ và không được bảo quản. Bệnh nhân nên tiêu thụ toàn bộ nội dung của nang rắc lên thức ăn đã chọn mà không nhai. Liều của một nang đơn lẻ không nên được chia nhỏ. Bệnh nhân không nên uống ít hơn một nang mỗi ngày.
Trong trường hợp bỏ lỡ liều, không dùng thuốc sau đó trong ngày. Không dùng thêm thuốc để bù cho liều đã bỏ lỡ.
Điều trị dược lý cho ADHD có thể cần kéo dài trong một thời gian dài. Đánh giá định kỳ việc sử dụng lâu dài Adhansia XR và điều chỉnh liều lượng khi cần thiết.
Giảm liều và ngừng thuốc
Nếu xảy ra tình trạng gia tăng triệu chứng nghịch lý hoặc các phản ứng không mong muốn khác, hãy giảm liều hoặc, nếu cần thiết, ngừng thuốc. Adhansia XR nên được ngừng định kỳ để đánh giá tình trạng của bệnh nhân. Nếu không thấy cải thiện sau khi điều chỉnh liều phù hợp trong vòng một tháng, hãy ngừng sử dụng Adhansia XR.
Chuyển đổi từ các sản phẩm methylphenidate khác
Nếu chuyển từ các sản phẩm methylphenidate khác, hãy ngừng điều trị đó và điều chỉnh liều với Adhansia XR theo lịch trình điều chỉnh liều đã nêu trên.
Không thay thế Adhansia XR cho các sản phẩm methylphenidate khác theo tỷ lệ miligam vì có sự khác biệt về thành phần methylphenidate và các hồ sơ dược động học khác nhau.
Những loại thuốc nào tương tác với Adhansia?
Tương tác thuốc quan trọng về lâm sàng
Bảng 3 trình bày các tương tác thuốc quan trọng với Adhansia XR.
Bảng 3: Các loại thuốc có tương tác lâm sàng quan trọng với Adhansia XR
Monoamine Oxidase Inhibitors (MAOI)
Tác động lâm sàng:
Việc sử dụng đồng thời MAOI và các chất kích thích hệ thần kinh trung ương (CNS) có thể gây ra cơn huyết áp cao. Các hậu quả tiềm tàng bao gồm tử vong, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tách động mạch chủ, các biến chứng về mắt, sản giật, phù phổi và suy thận.
Can thiệp:
Không được sử dụng Adhansia XR đồng thời với MAOI hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng điều trị MAOI.
Adhansia có an toàn để sử dụng trong thời gian mang thai hoặc cho con bú không?
Các nghiên cứu đã công bố và báo cáo sau khi tiếp thị về việc sử dụng methylphenidate trong thời gian mang thai là không đủ để xác định nguy cơ liên quan đến thuốc của các dị tật bẩm sinh lớn, sẩy thai hoặc các kết quả bất lợi cho mẹ hoặc thai nhi.
Có những rủi ro cho thai nhi liên quan đến việc sử dụng các chất kích thích hệ thần kinh trung ương (CNS) trong thời gian mang thai. Tài liệu đã công bố hạn chế, dựa trên việc lấy mẫu sữa mẹ từ năm bà mẹ, báo cáo rằng methylphenidate có mặt trong sữa mẹ, dẫn đến liều lượng cho trẻ sơ sinh từ 0,16% đến 0,7% so với liều lượng điều chỉnh theo trọng lượng của mẹ và tỷ lệ sữa/plasma dao động từ 1,1 đến 2,7.
Không có báo cáo về tác động bất lợi đối với trẻ sơ sinh được cho bú và không có ảnh hưởng đến sản xuất sữa.
Các tác động phát triển thần kinh lâu dài đối với trẻ sơ sinh do tiếp xúc với chất kích thích là chưa biết.
Lợi ích phát triển và sức khỏe của việc cho con bú nên được xem xét cùng với nhu cầu lâm sàng của mẹ về Adhansia XR và bất kỳ tác động bất lợi nào tiềm tàng đối với trẻ sơ sinh từ Adhansia XR hoặc từ tình trạng bệnh lý tiềm ẩn của mẹ.
Tóm tắt
Adhansia XR (methylphenidate HCL) là một loại thuốc kê đơn được sử dụng để điều trị các triệu chứng của Rối loạn Tăng động Giảm chú ý và Chứng ngủ rũ. Adhansia XR có khả năng cao về lạm dụng và phụ thuộc. Các tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm nổi mẩn, khó thở, sưng mặt, môi, lưỡi hoặc họng; đau ngực, khó thở, chóng mặt, ảo giác, vấn đề hành vi mới, hung hăng, thù địch, hoang tưởng và nhiều triệu chứng khác.
Abacavir (Ziagen) là chất tương tự guanosin, làm giảm tải lượng virus khoảng 1,4 log trong vòng 4 tuần (Harrigan 2000). Acabavir bị phosphoryl hoá trong nội bào thành carbovir triphosphat, chất này có thời gian bán huỷ kéo dài (Haris 2002). Vào tháng 10 năm 2004 sau một nghiên cứu lớn acabavir đã được cấp phép cho điều trị liều một lần mỗi ngày (Moyle 2005, Sosa 2005). Acabavir cũng có trong thành phần của biệt dược Trizivir TM và KixevaTM.
Khi phối hợp cùng với AZT và 3TC (TrizivirTM, xem “Phác đồ 3 nuke”), abacavir kém hơn so với efavirenz (Gulick 2004). Nghiên cứu ngẫu nhiên, mù kép CAN 3005 cũng chỉ ra acabavir có hiệu lực kém indinavir đặc biệt trong việc làm giảm tải lượng virus (Staszewski 2001). Ngược lại, hiệu lực thuốc ngang với nelfinavir (Matheron 2003). Khi phối hợp với 3TC, hiệu quả tương đương với AZT +3TC (Dejesus 2004) hoặc d4T+3TC (Podzamczer 2006).
Một công thức thất bại về virus học có thể được tăng cường thêm acabavir nếu như nó được cho sớm và với điều kiện tải lượng virus không quá cao (Katlama 2000, Rozenbaum 2001). Acabavir cũng thường được dùng để giản lược hoá HAART. Nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên đã chứng minh rằng các bệnh nhân đã thành công với phác đồ HAART có chứa PI hoặc NNRTI có thể chuyển sang sử dụng acabavir phối hợp thêm với 2 NRTI (Clumex 2001, Katlama 2003, Martinez 2003, Bojoch 2005). Tuy vậy giải pháp này cũng có một mức độ nguy cơ
nhất định, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã điều trị nhiều thuốc, thất bại điều trị là có thể xảy ra (Opravil 2002, Martinez 2003). Cần rất thận trọng khi phối hợp abacavir, tenofovir với 3TC bởi vì đột biến kháng thuốc có thể phát triển nhanh chóng (xem mục “Phối hợp 3 nuke”).
Về khía cạnh gây độc ty thể, abacavir có ưu thế hơn so với các thuốc khác. Khi so với d4T, nguy cơ teo mỡ là thấp hơn (Podczamcer 2006). Chuyển từ d4T sang abacavir làm cải thiện teo mỡ (Carr 2002, John 2003, Moyle 2003, McComsey 2004). Điều này cũng áp dụng cho sự gia tăng DNA trong ty thể (Hoy 2004, Martin 2004, McComsey 2005).
Một trở ngại khi dùng abacavir là phản ứng quá mẫn (HSR), một phản ứng dị ứng với các triệu chứng sốt và mệt lả (xem chương “Tác dụng phụ”). Quá mẫn xảy ra ở 4-6% số bệnh nhân và hầu hết trong 6 tuần điều trị đầu tiên. Ở những bệnh nhân nhiễm HIV cấp nguy cơ có thể tăng đến 18%, và nên tránh dùng abacavir (Stekler 2006). Nếu dùng lại, quá mẫn có thể gây tử vong. Có những ca quá mẫn nghiêm trọng xảy ra ngay khi chỉ dùng có một viên acabavir (De la Rosa 2004) hay sau khi ngắt đoạn điều trị mặc dù trước đó bệnh nhân dung nạp tốt (El-Sahly 2004). Sự kết hợp giữa những lời cảnh báo mạnh mẽ trên vỏ hộp thuốc và tính không đặc hiệu của những triệu chứng của quá mẫn luôn là thách thức với các bác sỹ. Có thể tồn tại những đặc điểm gen thuận lợi cho tính quá mẫn, ví dụ các bệnh nhân HLA type B5710 có nguy cơ bị quá mẫn cao hơn những bệnh nhân khác – HSR xảy ra ở 80% các bệnh nhân đó (Mallal 2002, Hetherington 2002). Tuy nhiên, HSR cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân không có typ HLA đó. Trong nghiên cứu PREDICT, giá trị dự báo của typ HLA được đánh giá ở khoảng 2000 bệnh nhân, và kết quả đang được mong chờ. Trong tương lai, có thể typ HLA sẽ được đánh giá trước khi điều trị abacavir, một chiến lược đang được thực hiện ở một số quốc gia.
Ung thư mũi họng là một loại ung thư thường thấy, phát sinh nhiều ở đàn ông 30 – 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Triệu chứng thường thấy là tắt mũi, chảy máu cam, ù tai, đau đầu… Bệnh phát triển có thể gây liệt mặt và trạng thái suy sụp toàn thân.
Thường bắt đầu có một hoặc 2 bên mũi tắc, thở khó, ho… chảy máu cam là một triệu chứng được bị chèn ép như đau đầu, thính lực giảm, tai ù, mắt mờ, hoa mắt chóng mặt, liệt mũi, liệt mặt, hạch lymphô ở cổ sưng to một bên hoặc hai bên.
Chẩn đoán: chủ yếu dựa vào
Nam giới trung niên có hiện tượng chảy máu cam kéo dài không rõ nguyên nhân, tai ù, đau đầu càng lưu ý kiểm tra toàn diện.
Lấy chất tiết dịch họng phết kính soi tìm tế bào ung thư.
Soi mũi họng làm sinh thiết tìm tế bào ung thư.
Chụp X- quang kiểm tra vùng mũi họng.
Kiểm tra sinh thiết tế bào hạch lymphô.
Điều trị
Do vị trí ung thư mũi họng nên khó dùng phẫu trị, nên chủ yếu dùng xạ trị và đông y.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Có thể chia làm 3 thể luận trị như sau
Can phế uất nhiệt
Triệu chứng chủ yếu: Tắt mũi, chảy máu cam hoặc nước mũi có máu, ho đờm ít có nhớt, bứt rứt dễ cáu, miệng đắng họng khô, chóng mặt hoa mắt, đầu đau như búa bổ, chất lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyết hoạt sác.
Phép trị: Thanh can phế.
Bài thuốc: Tiêu dao tán hợp tả bạch tán gia giảm.
Đơn bì, Chi tử, Tang bạch bì, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Thiên hoa phấn đều 12g, Hoàng cầm 12g, Thăng ma 8g, Bạch cương tàm 12g, Bạc hà 10g, Xích Bạch thược đều 12g, Triết Bối mẫu 12g, Xuyên bối lOg, (tán bột hoà thuốc uống). Thuyên thảo 12g, Đại Hoàng (sao rượu) 6 – 8g. Xuyên khung 10g thổ Phục linh 12g sắc uống.
Gia giảm: Miệng khát gia Sinh Thạch cao, đau đầu gia Toàn yết, Bạch chỉ, Câu đằng, Đơn sâm, nước mũi đặc nhớt gia Toàn Qua lâu, Cát cánh, mũi tắt nhiều gia Tân di, Thạch Xương bồ.
Đờm độc uất kết:
Triệu chứng chủ yếu: Hạch lymphô cổ to, mũi tắt chảy nước mũi có máu, ho đờm nhiều liệt mặt, chất lưỡi tôi (đen xạm) rêu dày nhớt, mạch huyền hoạt.
Phép trị: hóa đàm tán kết thanh nhiệt giải độc.
Bài thuốc: Thanh khí hóa đờm hoàn gia giảm.
Hoàng cầm, Liên kiều, Cương tàm, Hạ khô thảo, Triết bối, Thất diệp nhất chi hoa đều 12g, Khương Bán hạ, bào Nam tinh đều 8g, Mẫu lệ 20g, Thổ Phục linh, Hoàng dược tử, Bạch hoa xà thiệt thảo, đều 12g, Đại Tiểu kế đều 8g, Bán chi liên 12g, Bạch anh, Đào nhân, Ý dĩ nhân, Đông qua nhân đều 10 – 16g, Bạch mao căn 12g. sắc uống.
Phế thận âm hư:
Triệu chứng chủ yếu: bệnh lâu ngày từ phế ảnh hưởng thận. Triệu chứng có hoa mắt chóng mặt, ù tai, điếc tai, thị lực giảm, giọng khàn, lưng gối nhức mỏi, ra mồ hôi tiêu bón, chất lưỡi đỏ rêu mỏng vàng…
Phép trị: Bổ phế thận âm.
Bài thuốc: Mạch vị địa hoàng thang gia giảm.
Tây dương sâm, Nữ trinh tử, Sinh Địa, Sơn dược, Mạch đông, Nam Bắc sa sâm, Huyền sâm đều 12g, Sơn thù nhục 10g, Ngũ vị tử 6g.
Có triệu chứng nhiệt độc gia Ngân hoa, Dã cúc hoa, Sơn đậu căn, Tử thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo, Liên kiều, Hạ khô thảo, Tiêu bón gia Nhục thung dung, Hỏa ma nhân. Nếu sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp, mộng nhiều, ăn ít, mạch nhược, sắc lưỡi nhạt là chứng tâm Tỳ hư tổn cần bổ dưỡng tâm tỳ, dùng bài “Qui tỳ thang gia giảm”.
GIỚI THIỆU MỘT SỐ BÀI THUỐC KINH NGHIỆM:
Thuốc trị ung thư mũi họng của Giang Tây: Hạ khô thảo 30g, Ngưu hoàng 0,3g, sắc hạ khô thảo xong cho Ngưu hoàng vào uống.
Long quí, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngân hoa, Tử thảo, Ý dĩ, Dã cúc hoa, Mạch đông, Sinh Địa, Sơn đậu căn, Cam thảo (Giang Tây)
Thiên đông, Hạ khô thảo, Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngân hoa, Phục linh sa sâm, Đơn bì, Phong phòng, Xuyên khung (Phúc Châu).
Câu đằng, Ngô công, Phong phòng, Nga truật, Tẩu mã thai, Quí thúc tử, Sơn từ cô, Tang ký sinh, Bán chi liên (ung thư mũi trên).
Xuyên luyện tử, Thạch Xương bồ, Bạch thược, Huyền sâm, Qua lâu, Mẫu lệ, Hạ khô thảo, Tạo giác thích, Bằng sa (ung thư mũi dưới). Hai bài (5) và (6) là của Quảng Châu, Trung Quốc.
Rễ Tử thảo 40g, sắc nước uống ngày 1 thang.
Triết Bối mẫu, Cúc hoa dại đều 12g, Đảng sâm, Cao bản, Mộc thông, Hoàng cầm đều 16g, Bạch thược 20g, Liên kiều 12g sắc uống.
Kim ngân hoa 40g, Liên kiều, Thiên hoa phấn, Xích thược, Hoàng cầm, Bạc hà mỗi thứ 8g, Đương qui, Đại Hoàng mỗi thứ 20g, Bồ công anh 16g, Nhũ hương 3g, Đào nhân, Cúc hoa dại, Tri mẫu mỗi thứ 12g sắc nước uống ngày 1 thang. Đã dùng điều trị 21 ca ung thư mũi họng, kết quả tốt 16 ca, tiến bộ 5 ca. Bệnh viện bộ đội Phúc Châu đã dùng bài thuốc tương tự trị 15 ca, tốt 6 ca, tiến bộ 7 ca, chết 2 ca.
Bài (7) (8) (9) là của bệnh viện số 1 Nam Xương dùng điều trị ung thư mũi họng kết hợp với xạ trị Coban 60.
Cefobis là tên thương mại của cefoperazone sodium. Đó là kháng sinh bán tổng hợp nhóm cephalosporin, có phổ kháng khuẩn rộng và chỉ dùng đường tiêm. Là muối Na của 7-[-D(-)-a-(4- ethyl-2,3-dioxo-1-piperazinecarboxamido)-a-(4-hydroxyphenyl)acetamido]-3-[(1-methyl-H- tetrazol-5-yl)thiomethyl]-3-cephem- 4-carboxylic acid.
Mỗi gram Cefobis chứa 34 mg Na (1,5 mEq).
Cefobis có dạng bột tinh thể màu trắng, tan tự do trong nước.
pH của dung dịch hòa tan Cefobis trong nước tới nồng độ 25% là 5,0-6,5. Dung dịch không màu hoặc có màu vàng rơm tùy theo nồng độ.
Công thức hóa học là C25H26N9NaO8S2.
Cefobis được trình bày dưới dạng lọ bột hàm lượng 1 g cefoperazone Na.
DƯỢC LỰC
Visinhhọc (khả năng nhạy trên thực nghiệm):
Cơ chế kháng khuẩn của Cefobis là do ức chế sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn.
Cefobis có hoạt tính diệt khuẩn rộng trên thực nghiệm và kháng lại nhiều loại b-lactamase. Những vi khuẩn nhạy cảm với thuốc gồm:
Vi khuẩn Gram dương:
Staphylococcus aureus, cả dòng kháng và không kháng penicillin. Staphylococcus epidermidis.
Serratia (gồm cả S. marcescens). Salmonella và Shigella.
Pseudomonas aeruginosa và một vài Pseudomonas khác. Một số dòng Acinetobacter calcoaceticus.
Neisseria gonorrhoeae (cả những dòng có bêta-lactamase và không có bêta-lactamase). Neisseria meningitidis.
Bordetella pertussis. Yersinia enterocolitica. Vi khuẩn yếm khí:
Vi khuẩn Gram dương và Gram âm (gồm cả Peptococcus, Peptostreptococcus và Veillonella). Trực khuẩn Gram dương (gồm cả Clostridium, Eubacterium và Lactobacillus).
Trực khuẩn Gram âm (gồm cả Fusobacterium, nhiều dòng Bacteroides fragilis và những Bacteroides khác).
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Chỉ cần dùng liều duy nhất, nồng độ Cefobis đạt được trong huyết tương, dịch mật và nước tiểu rất cao. Bảng 1 biểu thị nồng độ Cefobis trong huyết thanh ở những người tình nguyện khỏe mạnh khi dùng thuốc theo một trong hai cách sau:
Cách thứ I: Truyền tĩnh mạch liều duy nhất trong 15 phút 1 g, 2 g, 3 g hoặc 4 g.
Cách thứ II: Tiêm bắp liều duy nhất 1 g hoặc 2 g
Probenecid không ảnh hưởng đến nồng độ Cefobis trong huyết thanh. Bảng 1. Nồng độ cefoperazone trong huyết thanh
Liều/Đường tiêm
Nồng độ trung bình cefoperazone trong huyết thanh (mg/ml)
0*
0,5 giờ
1 giờ
2 giờ
4 giờ
8 giờ
12 giờ
1 g IV
153
114
73
38
16
4
0,5
2 g IV
252
153
114
70
32
8
2
3 g IV
340
210
142
89
41
9
2
4 g IV
506
325
251
161
71
19
6
1 g IM
32**
52
65
57
33
7
1
2 g IM
40**
69
93
97
58
14
4
* Số giờ sau khi tiêm, 0 là thời điểm chấm dứt truyền tĩnh mạch
** Nồng độ huyết thanh sau khi tiêm 15 phút
Thời gian bán hủy trong huyết thanh trung bình khoảng 2 giờ, không phụ thuộc vào đường dùng thuốc.
Cefobis đạt nồng độ điều trị ở tất cả các mô và dịch của cơ thể bao gồm: dịch báng, dịch não tủy (ở bệnh nhân viêm màng não), nước tiểu, dịch mật và thành túi mật, đờm và phổi, hạch vòm họng và niêm mạc của xoang, tiểu nhĩ, thận, niệu quản, tuyến tiền liệt và tinh hoàn, tử cung và vòi trứng, xương, máu cuống rốn và nước ối.
Cefobis bài tiết qua nước tiểu và dịch mật. Nồng độ tối đa trong dịch mật đạt được sau khi tiêm thuốc từ 1 tới 3 giờ, đồng thời vượt cao hơn nồng độ trong huyết thanh tới 100 lần. Sau khi tiêm tĩnh mạch trực tiếp 2 g cho những bệnh nhân không bị tắc mật, nồng độ Cefobis trong dịch mật khoảng đạt 66 mg/ml sau 30 phút và đạt tới 6000 mg/ml sau 3 giờ.
Sau khi dùng Cefobis (ở mọi liều, mọi đường tiêm) ở người có chức năng thận bình thường, khoảng 20% tới 30% thuốc bài tiết nguyên vẹn qua nước tiểu trong khoảng thời gian 12 giờ. Nồng độ trong nước tiểu đạt được cao hơn 2200 mg/ml sau khi truyền 2 g Cefobis trong 15 phút. Sau khi tiêm bắp 2 g, nồng độ tối đa đạt được trong nước tiểu khoảng 1000 mg/ml.
Ở người bình thường liều Cefobis lặp lại không làm tích lũy thuốc trong cơ thể. Nồng độ thuốc tối đa, độ biến thiên nồng độ thuốc theo thời gian và thời gian bán hủy của thuốc ở người suy thận tương đương với người bình thường.
Trên những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan, thời gian bán hủy kéo dài và tăng bài tiết trong nước tiểu. Ở bệnh nhân bị suy chức năng thận và gan, Cefobis có thể tích lũy trong huyết thanh.
CHỈ ĐỊNH
Cefobis chỉ định trong những trường hợp nhiễm trùng do những vi khuẩn nhạy với thuốc sau đây:- Nhiễm trùng đường hô hấp (trên và dưới).
Nhiễm trùng đường tiểu (trên và dưới).
Viêm phúc mạc, viêm túi mật, viêm đường mật, và những nhiễm trùng khác trong ổ bụng
Nhiễm trùng huyết
Viêm màng não.
Nhiễm trùng da và mô mềm
Nhiễm trùng xương và khớp
Viêm vùng chậu, viêm nội mạc tử cung, lậu mủ và những nhiễm trùng khác ở đường sinh dụ Dự phòng:
Chỉ định sử dụng dự phòng nhiễm trùng hậu phẫu cho những bệnh nhân phẫu thuật bụng, phụ khoa, tim mạch và chấn thương chỉnh hình.
Sử dụng kết hợp:
Do Cefobis có phổ kháng khuẩn rộng, nên chỉ cần sử dụng Cefobis đơn thuần cũng có thể điều trị hữu hiệu hầu hết các nhiễm trùng. Tuy nhiên, Cefobis có thể dùng kết hợp với những kháng sinh khác nếu cần. Khi kết hợp với aminoglycoside phải kiểm tra chức năng thận trong suốt đợt điều trị (xem phần Liều lượng và Cách dùng).
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Không sử dụng ở những bệnh nhân dị ứng với nhóm kháng sinh cephalosporin.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chú ýđề phòng:
Trước khi điều trị bằng Cefobis, cần xác định xem bệnh nhân có tiền căn bị phản ứng quá mẫn với cephalosporin, penicillin hoặc những thuốc khác không. Thuốc sử dụng dè dặt ở những bệnh nhân hay bị dị ứng, đặc biệt là dị ứng với thuốc.
Nếu bị dị ứng, phải ngưng thuốc ngay và chuyển sang chế độ điều trị thích hợp hơn. Khi có choáng phản vệ phải cấp cứu ngay bằng adrenalin. Đồng thời hồi sức tích cực bằng oxy, tiêm tĩnh mạch steroid, làm thông đường thở kể cả đặt nội khí quản.
Thận trọng lúc dùng: Tổng quát:
Cefobis thải trừ chủ yếu qua dịch mật. Ở những bệnh nhân bị bệnh gan hoặc tắc mật, thời gian bán hủy trong huyết thanh của Cefobis kéo dài và tăng thải trừ qua nước tiểu. Ngay cả những bệnh nhân bị bệnh gan nặng, nồng độ điều trị của cefoperazone cũng đạt được trong dịch mật và thời gian bán hủy chỉ tăng 2 tới 4 lần.
Ở những bệnh nhân bị tắc mật nặng, bệnh gan nặng, hoặc đi kèm rối loạn chức năng thận phải điều chỉnh lại liều.
Ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan và suy thận cùng lúc, phải theo dõi nồng độ thuốc trong huyết tương và phải điều chỉnh liều. Trong những trường hợp này, khi dùng liều quá 2 g một ngày phải theo dõi sát nồng độ trong huyết tương.
Thời gian bán hủy trong huyết tương của Cefobis bị giảm nhẹ trong khi thẩm lọc máu. Do đó, liều lượng phải phù hợp trong suốt thời kỳ làm thẩm lọc máu.
Giống như những kháng sinh khác, một vài bệnh nhân bị thiếu vitamin K khi điều trị bằng Cefobis. Nguyên nhân thường là do giảm khuẩn ở đường ruột rất cần cho sự tổng hợp vitamin K.
Những người có nguy cơ cao là những bệnh nhân ăn uống kém, giảm hấp thu (ví dụ túi mật xơ hóa) và bệnh nhân nuôi ăn đường tĩnh mạch lâu ngày. Ở những bệnh nhân này phải theo dõi thời gian prothrombin và dùng thêm vitamin K.
Khi bệnh nhân dùng rượu trong thời gian sử dụng thuốc và ngay cả sau khi ngưng thuốc 5 ngày, có một số người bị phản ứng đỏ mặt, đổ mồ hôi, nhức đầu và nhịp tim nhanh. Khi dùng những cephalosporin khác, đôi khi cũng bị phản ứng tương tự nếu bệnh nhân có uống bia rượu trong thời gian dùng thuốc. Đối với những bệnh nhân phải nuôi ăn bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch, tránh dùng dung dịch có ethanol.
Nếu dùng thuốc lâu ngày, phải lưu ý tình trạng quá sản của những vi sinh vật không nhạy cảm với thuốc. Do đó, phải theo dõi sát bệnh nhân trong suốt đợt điều trị.
Tương tác giữa thuốc và xét nghiệm cận lâm sàng:
Xét nghiệm đường niệu có thể bị dương tính giả khi dùng dung dịch Benedict hoặc Fehling. Sử dụng trong nhi khoa:
Cefobis có tác dụng ở tất cả mọi liều trên tinh hoàn của chuột tiền dậy thì. Tiêm dưới da 1000 mg/kg/ngày (cao hơn liều ở người 10 lần) gây giảm khối lượng tinh hoàn, ngưng sản xuất tinh trùng, giảm số lượng tế bào mầm và có hốc trong bào tương của tế bào Sertoli. Mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào liều dùng từ 100 tới 1000 mg/kg ngày ; Liều thấp gây giảm không đáng kể tế bào tinh trùng. Những ảnh hưởng này không thấy ở chuột trưởng thành. Trong tất cả các trường hợp, những tổn thương mô học đều trở về bình thường, ngoại trừ tổn thương khi dùng liều cao nhất. Tuy nhiên, những nghiên cứu này không đánh giá hậu quả về chức năng sinh sản ở chuột. Những ảnh hưởng này trên người cũng chưa được xác định rõ.
Sử dụng ở trẻ nhũ nhi:
Cefobis sử dụng rất hiệu quả ở trẻ nhũ nhi. Thuốc chưa được nghiên cứu rộng rãi ở trẻ nhũ nhi và sơ sinh non tháng. Do đó, trước khi điều trị phải cân nhắc kỹ lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra. Cefobis không chiếm chỗ của bilirubin khi gắn kết với protein huyết tương.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúccóthai:
Nghiên cứu trên chuột và khỉ, dùng liều cao hơn ở người 10 lần cho thấy không có ảnh hưởng nào trên khả năng sinh sản và không gây quái thai. Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ trên phụ nữ có thai. Bởi vì nghiên cứu trên vật không thể tiên lượng chắc chắn trên người nên tránh dùng thuốc trong thai kỳ trừ khi thật cần thiết.
Lúc nuôi con bú:
Cefobis được bài tiết qua sữa rất ít. Tuy nhiên phải lưu ý khi sử dụng ở người đang cho con bú.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
Tăng mẫn cảm:
Giống như tất cả cephalosporin khác, triệu chứng của tăng mẫn cảm là nổi sẩn đỏ, mề đay, tăng bạch cầu ái toan và sốt. Phản ứng dễ xảy ra ở người có tiền căn dị ứng, đặc biệt là dị ứng với penicillin.
Huyết học:
Bạch cầu trung tính có thể giảm nhẹ. Giống như những kháng sinh họ bêta-lactam khác, khi điều trị lâu dài có thể bị giảm bạch cầu trung tính. Một số bệnh nhân khi điều trị bằng cephalosporin, test Coombs dương tính. Trong y văn thường báo cáo giảm hemoglobin và hematocrit khi điều trị bằng cephalosporin. Tăng bạch cầu ái toan và giảm prothrombine máu thoáng qua cũng có thể xảy ra (xem phần Thận trọng lúc dùng về thiếu vitamin K).
Gan:
Tăng tạm thời SGOT, SGPT và phosphatase kiềm. Đường tiêu hóa:
Có thể thay đổi chức năng ruột (phân lỏng hoặc tiêu chảy). Hầu hết chỉ ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Trong tất cả trường hợp, chỉ cần điều trị triệu chứng hoặc ngưng thuốc sẽ hồi phục. Phản ứng tại chỗ:
Cefobis dung nạp tốt khi dùng đường tiêm bắp. Hiếm khi bị đau tại chỗ. Giống như những cephalosporin khác, khi Cefobis được truyền tĩnh mạch bằng catheter, một vài bệnh nhân bị viêm tĩnh mạch ở tại vị trí tiêm truyền.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều thông thường ở người lớn là 2 g tới 4 g một ngày chia làm hai lần. Trong những trường hợp nhiễm trùng nặng tăng liều tối đa đến 8 g một ngày chia hai lần. Cũng có thể dùng liều 12 g một ngày chia làm ba lần, có trường hợp dùng tới 16 g một ngày vẫn không có biến chứng. Có thể bắt đầu điều trị trước khi có kết quả xét nghiệm chính xác.
Liều điều trị cho viêm niệu đạo do lậu cầu không biến chứng là tiêm bắp liều duy nhất 500 mg. Do thận không phải là đường thải trừ chính cho nên ở những bệnh nhân suy thận dùng liều như bình thường (2 g tới 4 g một ngày).
Ở bệnh nhân bị giảm tốc độ lọc cầu thận dưới 18 ml/phút hoặc creatinin trong huyết thanh cao hơn 3,5 mg/dl, liều tối đa của Cefobis là 4 g/ngày.
Dung dịch Cefobis không được pha chung với aminoglycoside bởi vì hai loại không tương hợp. Khi sử dụng kết hợp (xem phần Chỉ định) phải truyền tĩnh mạch riêng làm hai lần. Lưu ý phải thay dây truyền dịch khi truyền dung dịch thứ hai hoặc phải rửa sạch dây truyền bằng một dung dịch thích hợp. Nên truyền Cefobis trước aminoglycoside.
Ở trẻ nhũ nhi và trẻ em dùng liều từ 50-200 mg/kg/ngày Cefobis chia hai lần mỗi 12 giờ hoặc liều cao hơn nếu cần thiết. Đối với trẻ sơ sinh dưới 8 ngày tuổi, cho thuốc mỗi 12 giờ. Có thể cho liều tới 300 mg/kg/ngày ở trẻ nhũ nhi và trẻ em nếu có nhiễm trùng nặng như viêm màng não do vi trùng không có biến chứng.
Dùng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật, 1 g hoặc 2 g đường tĩnh mạch trước khi bắt đầu cuộc mổ 30 phút tới 90 phút. Có thể lập lại liều mỗi 12 giờ và trong hầu hết các trường hợp không quá 24 giờ. Trong những cuộc mổ có nguy cơ nhiễm trùng cao (ví dụ: phẫu thuật trực tràng) hoặc khi có nhiễm trùng thì rất nguy hiểm (ví dụ: phẫu thuật tim hở và phẫu thuật tạo hình khớp), liều dự phòng Cefobis tiếp tục tới 72 giờ sau khi hoàn tất phẫu thuật.
Đường dùng tĩnh mạch:
Lọ bột vô trùng Cefobis có thể pha khởi đầu với bất cứ dung dịch truyền tĩnh mạch tương hợp nào như nêu ở Bảng 2, tỉ lệ pha ít nhất 2,8 ml cho 1 g cefoperazone. Để dễ nhớ, nên pha 5 ml dung dịch thích hợp cho 1 g Cefobis.
Bảng 2. Dung dịch để pha thuốc khởi đầu:
Dextrose 5%.
Dextrose 10%.
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,9%.
Natri chlorua 0,9%. Normosol M và Dextrose 5%.
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,2%. Normosol R.
Nước cất.
Toàn bộ số lượng đã pha khởi đầu tiếp tục được pha loãng hơn nữa bằng một trong những dung dịch truyền tĩnh mạch sau đây:
Bảng 3. Dung dịch để truyền tĩnh mạch: Dextrose 5%.
Dextrose 10%.
Dextrose 5% và Lactated Ringer. Lactated Ringer.
Natri Chlorua 0,9%.
Dextrose 5% và Natri Chlorua 0,9%. Normosol M và Dextrose 5%.
Normosol R 5%.
Dextrose và 0,2% Natri Chlorua.
Khi truyền tĩnh mạch không liên tục, pha từ 20 ml tới 100 ml dung dịch thích hợp vào lọ 1 g hoặc 2 g Cefobis và truyền từ 15 phút tới 1 giờ. Nếu dùng với nước cất, không pha quá 20 ml cho một lọ.
Khi truyền tĩnh mạch liên tục, pha loãng mỗi gam Cefobis trong 5 ml nước cất, sau đó thêm dung dịch thích hợp để truyền tĩnh mạch.
Khi tiêm tĩnh mạch trực tiếp, mỗi lần tiêm Cefobis tối đa là 2 g ở người lớn và 50 mg/kg ở trẻ em, tiêm chậm tối thiểu từ 3 tới 5 phút.
Tiêm bắp:
Pha thuốc với nước cất để tiêm bắp. Khi nồng độ pha từ 250 mg/ml trở lên, có thể dùng dung dịch lidocain. Pha với nước cất và lidocaine hydrochloride 2% để thành dung dịch lidocaine hydrochloride 0,5%. Nên pha thuốc theo hai bước: đầu tiên pha thuốc với nước cất, rồi lắc đều để bột thuốc tan hết. Sau đó, thêm lidocaine 2% và lắc đều.
Hàm lượng thuốc
Bước1
Bước2
Thể tích rút ra*
Hàm lượng đóng gói
Nồng độ lidocaine
Thể tích nước cất
Thể tích lidocaine 2%
lọ 1,0 g
250 mg/ml
2,6 ml
0,9 ml
4,0 ml
333 mg/ml
1,8 ml
0,6 ml
3,0 ml
* Thể tích đủ để rút và tiêm
Tiêm bắp sâu ở những khối cơ lớn như cơ mông to hoặc vùng đùi trước.
Tính ổn định:
Dưới đây liệt kê một số dung dịch pha loãng và nồng độ pha trong điều kiện nhất định và khoảng thời gian cho phép bảo đảm tính ổn định của thuốc (sau thời gian cho phép, những thuốc đã pha mà không dùng phải hủy bỏ):
Nhiệt độ trong phòng có kiểm soát (15-25oC)
Nồng độ pha
24 giờ
Nước tiệt khuẩn
300 mg/ml
Dextrose 5%
2 mg tới 50 mg/ml
Dextrose 5% và Lactated Ringer’s
2 mg tới 50 mg/ml
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,9%
2 mg tới 50 mg/ml
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,2%
2 mg tới 50 mg/ml
Dextrose 10%
2 mg tới 50 mg/ml
Lactate Ringer’s
2 mg/ml
Lidocaine hydrochlorua 0,5%
300 mg/ml
Natri chlorua 0,9%
2 mg tới 300 mg/ml
Normosol M và Dextrose 5%
2 mg tới 50 mg/ml
Normosol M
2 mg tới 50 mg/ml
Nước cất
300 mg/ml
Có thể giữ thuốc đã pha bằng ống tiêm thủy tinh hoặc nhựa, bằng chai thủy tinh hoặc chai nhựa.
Nhiệtđộ trong tủ lạnh (2-8oC)
Nồng độ pha
5 ngày
Nước cất
300 mg/ml
Dextrose 5%
2 mg tới 50 mg/ml
Dextrose 5% và Natri Chlorua 0,9%
2 mg tới 50 mg/ml
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,2%
2 mg tới 50 mg/ml
Lactate Ringer’s
2 mg/ml
Lidocaine hydrochlorua 0,5%
300 mg/ml
Natri chlorua 0,9%
2 mg tới 300 mg/ml
Normosol M và Dextrose 5%
2 mg tới 50 mg/ml
Normosol R
2 mg tới 50 mg/ml
Nước tiệt khuẩn
300 mg/ml
Có thể giữ thuốc bằng ống tiêm thủy tinh hoặc nhựa, bằng chai thủy tinh hoặc chai nhựa.
Nhiệtđộ đông lạnh (-20 tới -10oC)
Nồng độ pha
3 tuần
Dextrose 5%
50 mg/ml
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,9%
2 mg/ml
Dextrose 5% và Natri chlorua 0,2%
2 mg/ml
5 tuần
Natri chlorua 0,9%
300 mg/ml
Nước cất
300 mg/ml
Giữ thuốc đã pha trong ống tiêm nhựa hoặc chai nhựa.
Thuốc đã đông lạnh phải để cho tan ở nhiệt độ phòng trước khi sử dụng. Sau khi để tan, phần thuốc không dùng phải bỏ, không được để đông lạnh lại.
Thuốc làm giảm những dấu hiệu tâm thần và thần kinh của các rối loạn mạch não khác nhau (sau khi ngập máu não, sau các tình trạng chấn thương hoặc xơ cứng) : rối loạn trí nhớ, mất ngôn ngữ, mất dùng động tác, loạn vận động, choáng váng, nhức đầu và để điều trị những triệu chứng mao mạch sinh dưỡng của hội chứng sau mãn kinh. Bệnh não do tăng huyết áp, suy mạch não gián đoạn, rối loạn co thắt mạch não và viêm nội mạc động mạch não.
Thuốc Cavinton cải thiện chuyển hóa não, làm tăng tiêu thụ oxygen của não, làm tăng sức chịu đựng sự thiếu oxygen của tế bào não. Một mặt, do ức chế sự kết tụ tiểu cầu và làm giảm sự tăng sức kháng của mạch, Thuốc Cavinton cải thiện có chọn lọc vi tuần hoàn ; mặt khác, do làm tăng hàm lượng ATP và cAMP, cũng như làm tăng sự vận chuyển oxygen bởi hồng cầu, nên Thuốc Cavinton tạo ra những điều kiện năng lượng thuận lợi.
CHỈ ĐỊNH
Đường uống : để làm giảm những dấu hiệu tâm thần và thần kinh của các rối loạn mạch não khác nhau (sau khi ngập máu não, sau các tình trạng chấn thương hoặc xơ cứng) : rối loạn trí nhớ, mất ngôn ngữ, mất dùng động tác, loạn vận động, choáng váng, nhức đầu và để điều trị những triệu chứng mao mạch sinh dưỡng của hội chứng sau mãn kinh. Bệnh não do tăng huyết áp, suy mạch não gián đoạn, rối loạn co thắt mạch não và viêm nội mạc động mạch não.
Cải thiện tuần hoàn bên trong chấn thương não cục bộ và trong vữa xơ động mạch não tiến triển.
Trong khoa mắt, thuốc có thể dùng để điều trị rối loạn vữa xơ động mạch tiên phát, rối loạn mao mạch của võng mạc và mạch mạc cũng như để điều trị thoái hóa điểm vàng và glaucome thứ phát do huyết khối nghẽn mạch từng phần hay hoàn toàn.
Trong khoa tai, thuốc dùng để điều trị suy thính giác do nguyên nhân mạch liên quan đến tuổi già hoặc do nhiễm độc (do dùng thuốc), và choáng váng có nguồn gốc ở mê đạo.
Dùng đường tiêm : điều trị các bệnh thần kinh trong các rối loạn mạch do thiếu máu não cục bộ có ổ, cấp tính, nếu giải quyết được nguồn xuất huyết và đặc biệt dùng dưới dạng truyền dịch gián đoạn chậm.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Phụ nữ đang mang
Cấm dùng đường tiêm trong thiếu máu cơ tim cục bộ nặng và loạn nhịp nặng.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Do có thành phần sorbitol trong thuốc tiêm, người bệnh bị tiểu đường phải kiểm tra thường xuyên lượng đường trong máu trong khi điều trị.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Thuốc tiêm tương kỵ với heparin, do đó không nên truyền dịch này cho người bệnh đang dùng heparin.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
Các tác dụng không mong muốn rất hiếm.
Tim mạch : hạ huyết áp tạm thời, hiếm khi nhịp tim nhanh hoặc ngoại tâm thu.
Thần kinh : rối loạn giấc ngủ, choáng váng, nhức đầu và yếu mệt có thể xảy ra, mặc dầu chúng có thể là những dấu hiệu của bệnh cơ bản.
Tiêu hóa : ợ nóng, đau bụng, buồn nôn. Ngoài da : những phản ứng dị ứng ngoài da.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
15-30 mg/24 giờ (1-2 viên nén mỗi lần, uống 3 lần/24 giờ) ; liều duy trì :15 mg/ 24 giờ (mỗi lần uống 1 viên, dùng 3 lần trong 24 giờ), dùng trong thời gian dài.
Khi truyền dịch gián đoạn, liều khởi đầu là 20 mg/24 giờ (pha 2 ống trong 500-1000 ml dịch truyền). Sau đó, liều thông thường là 30 mg/24 giờ (pha 3 ống trong 500-1000 ml dịch truyền). Nếu tình trạng của người bệnh đòi hỏi và nếu chế phẩm này được dung nạp tốt, liều dưới dạng truyền dịch có thể được tăng một cách cẩn thận để đạt đến 1 mg/kg thể trọng/24 giờ cho đến ngày điều trị thứ 10.
Lưu ý : Chế phẩm này không bao giờ được dùng tiêm bắp hoặc tiêm ngay vào tĩnh mạch mà không pha loãng.
viên nén: vỉ thuốc có lịch hướng dẫn ghi trực tiếp ở mặt sau, gồm 21 viên nén, trong đó 11 viên, mỗi viên chứa 2 mg estradiol valerate và 10 viên, mỗi viên chứa hỗn hợp: 2 mg estradiol valerate và 0,5 mg norgestrel.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên (trong 11 viên đầu)
Estradiol valerate
2 mg
cho 1 viên (trong 10 viên sau)
Estradiol valerate
2 mg
Norgestrel
0,5 mg
DƯỢC LỰC
Thành phần và hiệu quả của Progyluton được điều chỉnh theo một cách thức mà nếu uống thuốc đều đặn, sẽ tạo được một chu kỳ kinh nguyệt tương ứng với những điều kiện sinh lý của cơ thể. Hơn nữa, thuốc cũng làm mất những than phiền chủ quan do thiếu hormone, xảy ra lúc bắt đầu của thời kỳ mãn kinh hoặc đôi khi sớm hơn. Những than phiền này gồm có bốc hỏa, hay vã mồ hôi, rối loạn giấc ngủ, trạng thái trầm cảm, dễ cáu giận, nhức đầu, chóng mặt. Progyluton cũng có tác dụng đối với bàng quang dễ kích thích – một triệu chứng thường xảy ra ở hội chứng mãn kinh, những dấu hiệu của thoái triển cơ và thần kinh (đặc biệt ở vùng sinh dục) thường xảy ra ở tuổi già, và những than phiền do loãng xương.
CHỈ ĐỊNH
Triệu chứng tiền mãn kinh và mãn kinh (hội chứng quanh mãn kinh) ; vô kinh nguyên phát, thứ phát ; kinh nguyệt không đều ; triệu chứng sau cắt bỏ buồng trứng hoặc cắt bỏ buồng trứng bằng xạ trị đối với những bệnh nhân không phải ung thư.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Có thai, rối loạn chức năng gan nặng, tiền sử vàng da hoặc ngứa nhiều trong lần có thai trước, hội chứng Dubin-Johnson, hội chứng Rotor, tiền sử hoặc đang có bướu gan, tiền sử hoặc đang bị bệnh huyết khối tắc mạch (như đột quỵ, nhồi máu cơ tim), thiếu máu hồng cầu hình liềm, đã có hoặc nghi ngờ có bướu phụ thuộc nội tiết tố ở tử cung hoặc tuyến vú, lạc nội mạc tử cung, đái tháo đường nặng kèm những biến đổi ở mạch máu, rối loạn chuyển hóa lipid, tiền sử Herpes khi có thai, chứng xơ cứng tai nặng khi có thai.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Lưu ýđặc biệt:
Progyluton không phải là thuốc ngừa thai.
Khi dùng thuốc, nên ngừa thai bằng các phương pháp không dùng nội tiết (ngoại lệ: không dùng phương pháp tính theo chu kỳ Ogino-Knauss và theo dõi thân nhiệt). Nếu xuất huyết không xảy ra theo chu kỳ 28 ngày, nên nghĩ đến khả năng có thai dù đang áp dụng các phương pháp ngừa thai. Trường hợp này, phải ngưng điều trị cho đến khi có chẩn đoán rõ ràng. Nếu xuất huyết “không theo lịch” xảy ra trong vòng 3 tuần từ khi uống thuốc, phải hỏi ý kiến bác sĩ nhưng lúc này không được ngưng thuốc.
Trước khi điều trị vô kinh thứ phát bằng Progyluton phải chắc chắn rằng không có thai. Nên kiểm tra loại trừ bướu tuyến yên sản xuất prolactin, vì ngày nay người ta vẫn chưa loại trừ khả năng các macroadenoma gia tăng kích thước khi estrogen liều cao được sử dụng trong một thời gian dài.
Lợi ích của việc sử dụng các chế phẩm có chứa estrogen đã được công nhận và đã được chứng minh một cách khoa học. Tuy vậy, gần đây có ý kiến cho rằng sử dụng lâu dài estrogen đơn thuần trong giai đoạn mãn kinh có thể làm gia tăng tần xuất ung thư nội mạc tử cung. Vì không thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ này, nên phải ngăn sự tăng sản nội mạc tử cung khi điều trị bằng estrogen đơn thuần. Điều này có thể đạt được tốt nhất bằng cách dùng thêm progestogen, như trong trường hợp điều trị bằng Progyluton. Ở pha thứ hai của chu kỳ kinh nguyệt, progestogen làm biến đổi nội mạc tử cung ở giai đoạn chế tiết và sau đó là sự xuất huyết khi ngưng thuốc – như trong chu kỳ kinh nguyệt tự nhiên.
Phải báo cho bác sĩ biết nếu bệnh nhân đang có các bệnh sau đây: đái tháo đường, cao huyết áp, dãn tĩnh mạch, xơ cứng tai, xơ cứng rải rác, động kinh, rối loạn chuyển hóa porphyrin, co cứng cơ, múa vờn nhẹ. Những trường hợp này, và cũng như khi có tiền sử viêm tĩnh mạch cần phải được theo dõi chặt chẽ.
Trong một số hiếm trường hợp đã có bướu gan lành tính và hiếm hơn nữa ngay cả khi có bướu gan ác tính, trong một vài trường hợp có thể xảy ra xuất huyết nặng trong ổ bụng đe dọa tính mạng bệnh nhân sau khi dùng các hormone như những chất có trong Progyluton. Do đó phải báo cho bác sĩ nếu có than phiền đau bất thường phần bụng trên không tự biến mất sau một thời gian ngắn.
do ngưng thuốc ngay:
Cơn đau đầu Migrain xảy ra lần đầu hoặc những cơn đau đầu dữ dội xảy ra thường xuyên hơn, rối loạn đột ngột về giác quan (thị giác hoặc thính giác), những triệu chứng đầu tiên của viêm tĩnh mạch huyết khối hoặc bệnh huyết khối tắc mạch (thí dụ, đau bất thường ở chân hoặc sưng chân, cơn đau nhói lúc thở hoặc ho không có nguyên nhân rõ ràng), cảm giác căng đau ở ngực, chờ phẫu thuật (ngưng thuốc trước 6 tuần), bất động (như sau tai nạn), khởi phát vàng da, đợt viêm gan, ngứa toàn thân, tăng cơn động kinh, tăng huyết áp, có thai.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Phải báo cho bác sĩ biết những loại thuốc đang dùng hàng ngày (như barbiturates, phenylbutazone, hydantoins, rifampicin, ampicillin) vì có thể làm giảm tác dụng của Progyluton. Nhu cầu thuốc uống chống đái tháo đường và insulin có thể thay đổi.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
Trong những trường hợp hiếm, có thể có cảm giác căng vú, khó chịu ở dạ dày, buồn nôn, nhức đầu, ảnh hưởng đối với thể trọng và ham muốn tình dục, và xuất huyết “không theo lịch”.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Trước khi bắt đầu điều trị bằng Progyluton, nên khám tổng quát và khám phụ khoa (gồm cả khám vú và phết tế bào tử cung) và phải chắc chắn rằng không có thai.
Thận trọng: nên khám định kỳ mỗi 6 tháng khi điều trị lâu dài bằng Progyluton.
Vỉ thuốc có kèm một miếng dán có ghi các ngày trong tuần. Sau khi bóc nhãn bảo vệ, phải dán miếng này lên mặt trắng của vỉ thuốc sao cho ngày (trong tuần) bắt đầu dùng thuốc phải ở ngay dưới phần màu đỏ có chữ “Bắt đầu” ; thí dụ, nếu viên thuốc đầu tiên được uống vào ngày Thứ tư, phần “Bắt đầu” phải được đặt khớp với ngày có ghi “Thứ tư”. Vì vậy mỗi viên thuốc tương ứng với một ngày trong tuần và chỉ cần nhìn thoáng qua ta có thể thấy viên thuốc của ngày đó có được uống hay chưa.
Luôn luôn bắt đầu uống thuốc từ chỗ vỉ thuốc có đánh dấu “Bắt đầu” và uống thuốc hàng ngày theo mũi tên hướng dẫn cho đến hết 21 viên. Nên nuốt nguyên viên thuốc với một ít nước.
Bắt đầu uống Progyluton từ ngày thứ 5 của chu kỳ kinh nguyệt (ngày đầu tiên của đợt kinh vừa qua = ngày đầu tiên của chu kỳ)
Bệnh nhân vô kinh hoặc có kinh không đều có thể bắt đầu dùng Progyluton ngay sau khi được bác sĩ ghi toa.
Sau 21 ngày uống thuốc sẽ có một thời gian không uống thuốc 7 ngày mà trong khoảng thời gian này – khoảng 2-4 ngày sau khi uống viên thuốc cuối cùng. – xuất huyết giống như có kinh sẽ xảy ra. Nếu không được bác sĩ thay đổi liều, hãy bắt đầu vỉ thuốc Progyluton kế tiếp sau 7 ngày ngưng thuốc, cũng bắt đầu vào ngày trong tuần giống như ngày đầu tiên uống thuốc của vỉ thuốc trước. Uống thuốc vào giờ nào trong ngày không phải là vấn đề quan trọng, nhưng khi đã chọn được thời điểm thích hợp – tốt hơn nên uống thuốc sau ăn sáng hay sau ăn tối – thì nên giữ luôn giờ giấc đó. Nếu quên uống thuốc vào giờ giấc thông thường, nên uống viên thuốc này trong vòng 12 giờ sau đó.
BẢO QUẢN
Bảo quản thuốc đúng cách và để thuốc ngoài tầm tay trẻ em.
Thu nhập nước và các chất điện giải (natri, kali, calci, magnesi, phospho) được bàn ở trong chương “Cân bằng các dịch và chất điện giải”. Tuy nhiên, dưới đây chúng tôi cũng trình bày một số bổ sung về phương diện tiết chế.
CÁC LOẠI NƯỚC UỐNG
Nước của các mạng phân phối được lấy từ các suối, giếng đào, sống hoặc hồ. Nước này được lọc, rồi khử khuẩn bằng cách cho thêm clo (0,1- 1mg/l) hoặc ozon.
Các nguồn nước ngọt, nghèo calci, thì có thể sử dụng ngay để nấu ăn và rửa, giặt, nhưng nước này cũng có thể chứa thêm chì hoặc kẽm do chảy trong các ống dẫn. Những nguồn nước cứng thì giầu calci nên dùng để nấu ăn và rửa giặt thì không tốt lắm. Những chất làm mềm nước nói chung là những chất có tác dụng lọc nước có chứa thêm nhựa trao đổi ion, nhựa này trao đổi ion calci với ion natri. Nước từ các nơi lọc này chảy ra có thể chứa một lượng natri đáng kể. Những nước khoáng chính của Pháp có những tính chất dưới đây:
Rất giầu natri (120-190 mg/100 ml): nước suối Vichy.
Rất nghèo natri (dưới lmg/100ml): nước Charrier, Evian, Vittel Grande-Source, Volvic.
Trong chế độ ăn ở những nước công nghiệp, mỗi người tiêu thụ từ 6 đến 8 g clorua natri (NaCl: muối ăn) hoặc 100-300 mmol mỗi ngày, trong khi chế độ ăn được coi là cân bằng chỉ chấp nhận lượng muối ăn dưới 3,5g, hoặc 60 mmol/ngày. Người ta cho rằng một nửa số muối nạp vào cơ thể là nằm trong thành phần cấu tạo của thực phẩm (do chính các thức ăn đem lại), còn nửa kia là được cho thêm vào và nằm trong thành phần các đồ gia vị khác nhau. Về chi tiết, xem: chế độ ăn giảm natri
KALI
Nhu cầu hàng ngày về kali của người bình thường được ước lượng vào khoảng 2,5 g hoặc 64 mmol mỗi ngày. Chế độ ăn cân bằng cung cấp cho cơ thể từ 2g đến 4 g một ngày. Sữa mẹ chứa đủ lượng kali để thoả mãn nhu cầu của trẻ còn bú. Tuy nhiên cần nhó rằng đa số các muối thay thế và những chế phẩm tiết chế khác, nghèo muối ăn (nghèo NaCl) lại thường chứa nhiều kali. (Về chế độ ăn nghèo hoặc giầu kali, xem: tương đương giữa các thực phẩm về kali).
CALCI
Viện Dinh dưỡng Pháp đề nghị lượng calci hàng ngày như sau:
Trẻ em từ 3 tuổi trở xuống: 600 mg Trẻ em từ 4 đến 9 tuổi: 700 mg Trẻ em trai từ 10 đến 19 tuổi 900mg Trẻ em gái từ 10 đến 19 tuổi: 1000mg Người lớn: 800 mg Phụ nữ có thai: 1000 mg Phữ nữ nuôi con bú: 1200 mg
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Lương thực và Dinh dưỡng (Hoa Kỳ) thì đề nghị mức 1500 mg mỗi ngày cho phụ nữ có thai, và 2000- 3000 mg mỗi ngày cho phụ nữ nuôi con bú. Những chế độ ăn giầu calci sẽ được bàn luận ở phần dưới, trong mục về suy thận mạn tính và ỉa chảy mạn tính. Những chế độ ăn nghèo calci được bàn luận trong phần bệnh sỏi thận.
MAGNESI
Nhu cầu hàng ngày về magnesi được ước lượng là 200-700 mg mỗi ngày. Chế độ ăn cân bằng mang lại cho cơ thể từ 110 đến 140 mg trong mỗi 1000 kilo calo.
Những thực phẩm giầu magnesi là trái cây khô, trái cây có mỡ (quả hồ đào, hạt dẻ, hạnh nhân), những loại rau, ngũ cốc, và cacao.
PHOSPHO
Nhu cầu về phbspho được ước lượng là 800 mg (26 mmol) mỗi ngày đối với người lớn. Đối với trẻ vị thành niên, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con bú, và những bệnh nhân phải nuôi bằng đường ngoài tiêu hoá kéo dài, thì nhu cầu hàng ngày về phospho tăng lên tới 1200 mg (39 mmol).
Sữa, sản phẩm từ sữa, thịt và cá, rau và trái cây khô là nhũng nguồn thức ăn giầu phospho.
SẮT
Vai trò của sắt: sắt chủ yếu được sử dụng để tổng hợp hemoglobin. Có một lượng cực nhỏ sắt tham gia vào quá trình tổng hợp một số enzym. Thu nhập không đủ sắt sẽ sinh ra bệnh thiếu máu thiếu sắt.
Nguồn cung cấp: sắt nằm trong thành phần của phần lớn các thực phẩm với lượng rất nhỏ. Những thức ăn giầu sắt nhất là:
Gan, hầu và vẹm.
Một số rau xanh (mồng tơi, mùi tây).
Rau khô
Trái cây có dầu (hồ đào, hạt dẻ, hạnh nhân).
Nhu cầu về sắt: chế độ ăn cân bằng cung cấp cho cơ thể khoảng 6 mg sắt nguyên tố trong mỗi 1000 kilocalo. Lượng sắt này có thể không đủ đối với phụ nữ hành kinh ra nhiều máu và trong ba tháng cuối của thời kỳ thai nghén, trong những hoàn cảnh này nhu cầu về sắt có thể tăng lên tới 35 mg mỗi ngày.
Trẻ sơ sinh có nguồn dự trữ sắt đủ sử dụng trong vòng 6 tháng, và trẻ đẻ non chỉ có dự trữ sắt đủ cho 2 tháng, là thời kỳ mà sau đó chế độ nuôi dưỡng sẽ phải bao gồm nhiều nguồn thức ăn khác nhau (chế độ ăn sam), sữa mẹ tương đối nghèo sắt.
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae), là tác nhân gây bệnh trong 90% số trường hợp viêm phổi thuỳ, đây là một vi khuẩn Gram dương, hình lưỡi mác, có một vỏ bao bọc xung quanh. Phế cầu khuẩn có thể thấy trong quần thể vi sinh cư trú trong đường hô hấp của 25% số người bình thường (tức là “người lành màng mầm bệnh”). Vi khuẩn có tới khoảng 80 typ huyết thanh khác nhau: ở trẻ em những typ 6, 14, 19, và 23 là những typ gây bệnh hay gặp nhất, còn ở người lớn là các typ từ 1-9 và 12. Nói chung, phế cầu khuẩn lây truyền theo đường hô hấp (do hít phải hạt nước bọt của người mang mầm bệnh). Phế cầu khuẩn cũng có thể gây ra các bệnh viêm xoang, viêm tai, viêm màng não, viêm nội tâm mạc (viêm màng trong tim), viêm phúc mạc (viêm màng bụng).
Viêm phổi thường xẩy ra ở những đôi tượng mà khả năng miễn dịch toàn thân hoặc tại chỗ bị suy giảm tạm thời: ví dụ bị nhiễm virus đường hô hấp; thở hít phải không khí ô nhiễm, bị lạnh, suy tim, bị các bệnh gây suy mòn, hít phải dịch nhầy ở họng vào trong đường hô hấp. Viêm phổi đặc biệt nặng ở người già, bệnh nhân đái tháo đường, ở đối tượng đã bị cắt lách, hoặc bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm.
Dịch tễ học
Ở nước Pháp tần suất mắc bệnh viêm phổi do phế cầu khuẩn vào khoảng 2 trường hợp trong 1.000 dân mỗi năm. Ở quần thể người già thì tỷ lệ này tăng lên tới 45 trường hợp trong 1.000 người. Phế cầu khuẩn là nguyên nhân gây ra một nửa số trường hợp viêm phổi cấp do vi khuẩn. Tỷ lệ tử vong nổi trội ở những bệnh nhân trên 50 tuổi.
Giải phẫu bệnh
Viêm phổi do phế cầu khuẩn thường hay xẩy ra ở vùng đáy phổi hơn những vùng khác. Thường là viêm phổi thuỳ hoặc phân thuỳ, đôi khi cả hai bên.
Giai đoạn sung huyết: sung huyết (cường huyết) rõ rệt, các mao mạch giãn rộng, trong các phế nang chứa đầy dịch rỉ viêm.
Giai đoạn gan hoá màu đỏ: quan sát đại thể phổi thấy vẻ bề ngoài giống như mặt gan. Quan sát vi thể thấy những phế nang chứa đầy sợi huyết, trong mắt lưới sợi huyết có nhiều bạch cầu hạt và hồng cầu. Trong phế nang chứa nhiều phế cầu khuẩn.
Giai đoạn gan hoá màu xám: phổi có màu xám nhạt, cắt ngang phổi thấy ở mặt cắt rỉ ra một chất dịch mủ. Quan sát vi thể thấy các đại thực bào xâm nhập vào các phế nang, những bạch cầu và hồng cầu ở đây có dấu hiệu thoái hoá.
Giai đoạn thoái triển: phổi trở thành dạng keo. Các phế nang chỉ còn chứa những mảnh vụn tế bào.
Triệu chứng
DẤU HIỆU CHỨC NÂNG: Trước khi viêm phổi bắt đầu, thường hay có một nhiễm khuẩn không quan trọng ở đường hô hấp trên xẩy ra trước. Sau đó, viêm phổi khởi đầu theo kiểu cấp tính bởi một cơn rét run (không nhất thiết), bệnh nhân sốt cao 39-40°C, đau ngực, mạch tăng, khó thở, đôi khi tím tái và ra mồ hôi nhiều! Trong một nửa số trường hợp còn thấy mụn rộp môi và mặt. Những rối loạn tiêu hóa (chướng bụng, buồn nôn) hay xẩy ra. Viêm phổi thuỳ dưới đôi khi có thể nhầm với trường hợp bụng cấp tính. Bệnh nhân già hoặc nghiện rượu đôi khi rơi vào tình trạng lú lẫn và trẻ em thì có thể bị co giật. Tuy nhiên ở người già và người thể tạng yếu, viêm phổi có thể khởi phát không điển hình như trên mà âm thầm. Đau ngực là triệu chứng hầu như bao giờ cũng có, thường ở bên phổi bị viêm. Ho mới đầu là ho khan, sau 1-2 ngày thì ho có đờm màu vàng rỉ sắt, đặc quánh, dính vào ống nhổ.
DẤU HIỆU THỰC THỂ: trong những giờ đầu, bệnh nhân thở nhanh và ở bên phổi bị viêm, mức giãn nở của lồng ngực kém hơn trong động tác thở.
Gõ ngực thấy có vùng đục hoặc hơi đục ở vị trí phổi bị viêm, ở đó rung thanh tăng, nghe ngực thấy có ran nổ nhỏ hạt, tiếng thổi ống, tiếng vang ngực. Có thể nghe thấy tiếng cọ màng phổi trong vài giờ. Trong giai đoạn thoái triển ran giảm bót và là ran hai thì. Tiếng gõ đục và tiếng thổi ống biến mất.
X quang: ngay từ lúc khởi đầu, hình ảnh X quang có thể vẫn bình thường hoặc chỉ có một vùng mờ không rõ nét và ít đậm, tiến từ rốn phổi ra vùng ngoại vi. về sau thì xuất hiện hình ảnh đặc phổi trong một thuỳ hoặc phân thuỳ; nếu thấy đặc phổi nhiều thuỳ thì đó là dấu hiệu bệnh nặng. Thường có hình ảnh có dịch ở góc sườn-hoành của màng phổi. Những hình ảnh phổi không bình thường này có thể tồn tại lâu trong 10-18 tuần.
Xét nghiệm cận lâm sàng
Xét nghiệm tếbào-vi khuẩn: trong đờm thường thấy có nhiều mầm bệnh hỗn hợp, kèm theo bạch cầu và hồng cầu. Tuy nhiên kết quả xét nghiệm chỉ có giá trị nếu tìm thấy số lượng phế cầu khuẩn trội hẳn (nhiều các song cầu khuẩn Gram dương, hình lưỡi mác, xếp thành những chuỗi ngắn).
Tìm những kháng nguyên hoà tan của phế cầu khuẩn bằng miễn dịch-điện di khuếch tán: là một phương pháp nhanh và đáng tin cậy trong trường hợp cấp cứu, cho phép xác định typ huyết thanh của phế cầu khuẩn trong đòm và trong các dịch khác của cơ thể.
Tăng bạch cầu trong máu: là thông thường (15.000- 25.000 bạch cầu/µl). Ngược lại, giảm bạch cầu là một dấu hiệu bệnh nặng (dấu hiệu phản ứng phòng vệ xấu).
Viêm phổi lan tràn ra nhiều thuỳ, có thể dẫn tới sốc nhiễm độc và suy hô hấp cấp tính.
Xẹp phổi: xẹp thuỳ hoặc phân thuỳ có thể xẩy ra trong quá trình viêm phổi. Nếu xẹp phổi rộng thì có thể gây ra cơn khó thở kèm theo tím tái, nhịp tim nhanh và bệnh nhân hoảng hốt. Xẹp phổi là do những nút dịch nhầy-mủ, nút này có thể rờ’ ra dưới tác dụng của liệu pháp vận động hô hấp. Có thể phải hút dịch trong phế quản.
Áp xe phổi: là biến chứng hiếm xẩy ra của viêm phổi do phế cầu khuẩn.
Viêm phổi mạn tính: viêm phổi thoái triển rất chậm chạp. Đôi khi thuỳ phổi bị viêm đột ngột chuyển thành xơ và mất đi tất cả chức năng (gọi là hoá thịt)
BIẾN CHỨNG TRONG LỒNG NGỰC
Viêm màng phổi (tràn dịch cận viêm phổi): thường hay có tràn dịch với lượng dịch nhỏ, vô khuẩn và được tái hấp thụ nhanh chóng, tuy nhiên trong một số trường hợp lại cần phải dẫn lưu bằng mở lồng ngực.
Tích mủ màng phổi: nói chung xẩy ra trong thời kỳ lui bệnh của viêm phổi, ngay cả ở những bệnh nhân được điều trị đúng cách bằng thuốc kháng sinh. Phải nghĩ tới khả năng này nếu thấy sốt, đau ngực và tràn dịch màng phổi kéo dài. Chẩn đoán xác định nhờ chọc màng phổi và hút ra được dịch mủ.
Viêm ngoại tâm mạc mủ (viêm mủ màng ngoài tim): là biến chứng hiếm xẩy ra, thường đi kèm với tích mủ màng phổi. Viêm ngoại tâm mạc mủ biểu hiện bcd đau vùng trước tim, tiếng cọ màng ngoài tim, với các dấu hiệu đặc biệt của điện tâm đồ và siêu âm.
NHIỄM KHUẨN LAN TỚI NƠI KHÁC (di căn): hay thấy ở trẻ em, có thể có những biến chứng viêm tai giữa, viêm xương chũm, viêm một khớp, viêm màng não, và viêm phúc mạc (viêm màng bụng). Hiếm thấy biến chứng viêm nội tâm mạc.
Diễn biến và tiên lượng
Nếu được điều trị sớm, thì trong đại đa số trường hợp khỏi bệnh sau một tuần hoặc 10 ngày. Tuy nhiên, hình ảnh X quang mất đi chậm hơn so với triệu chứng lâm sàng, và phải mất vài tuần mới hết hẳn. Mặc dù có sẵn rất nhiều loại kháng sinh, nhưng tỷ lệ tử vong cũng vẫn giữ nguyên ở quanh 5% mà không thể giải thích được.
Một số tiêu chuẩn đê đánh giá tình trạng nặng của bệnh:
Bệnh nhân là trẻ em < 1 tuổi, hoặc là người già > 65 tuổi.
Có các bệnh kết hợp (ví dụ: bệnh phế quản-phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh đái tháo đường).
Nhịp thở nhanh >30 lần/phút.
Thân nhiệt cao > 38,5°c.
Số lượng bạch cầu trong máu < 4000/pl, hoặc > 30.000/pl.
Hematocrit < 30%. Hemoglobin < 9 g/dl.
Creatinin-huyết > 25 mg/1.
Huyết áp tâm thu < 90 mmHg.
X quang: nhiều thuỳ bị viêm.
Chẩn đoán
Dựa vào: sốt cao có rét run, đau ngực, ho, khạc đờm màu rỉ sắt chứa phế cầu khuẩn, phổi đặc cả thuỳ hoặc phân thuỳ (hình ảnh X quang).
Chẩn đoán phân biệt: với nghẽn mạch phổi, suy tim (bệnh nhân già).
Phòng bệnh
Tiêm vaccin chống phế cầu khuẩn cho những đối tượng có nguy cơ cao nhất là trẻ em > 2 tuổi đã bị cắt lách hoặc bị bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, cho những bệnh nhân suy thận mạn tính, hoặc đối tượng bị suy giảm miễn dịch.
Điều trị
LIỆU PHÁP KHÁNG SINH
Penicillin:tiêm bắp thịt procain- benzylpenicillin (1 triệu đơn vị, 2 lần mỗi ngày) đôi với những thể nặng trung bình. Đối với những thể nặng hơn, tiêm penicillin G theo đường tĩnh mạch (1 triệu đơn vị, 4-6 lần mỗi ngày). Cũng có thể sử dụng amoxicillin + acid clavulanic uống (1,5 g mỗi ngày) hoặc tiêm tĩnh mạch đối với những thể nặng (1-2 g, tiêm 2-4 lần mỗi ngày). Có khoảng 10% số chủng vi khuẩn kháng thuốc.
Những thuốc kháng sinh khác\ trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc kháng penicillin, có thể cho erythromycin (0,5 mg uống, 4 lần mỗi ngày) hoặc clindamycin (300 mg uống, 4 lần mỗi ngày). Cephalosporin (ví dụ cefalotin 500 mg tiêm tĩnh mạch, 4 lần mỗi ngày) kém hiệu quả hơn so với penicillin (và cũng bị dị ứng chéo với penicilin). Có khoảng 25% số chủng phế cầu khuẩn kháng macrolid, khoảng 20% kháng tetracyclin, 30% kháng sulfamid, và 12% kháng Tần suất các chủng kháng đa thuốc thay đổi tuỳ theo từng nước.
Tích mủ màng phổi:penicilin G cho theo đường tĩnh mạch với liều hàng ngày 10 triệu đơn vị và có thể tiêm cả vào khoang màng phổi với liều 100.000 tối 500.000 đơn vị pha loãng trong 50 ml dung dịch muối sinh lý. Có thể cần phải dẫn lưu bằng mở lồng ngực (đưa một ống dẫn lưu vào khoang màng phổi qua một đường rạch nhỏ ở thành ngực). Trong trường hợp tích mủ tồn tại lâu thì chỉ định mở lồng ngực hạn chế.
ĐIỀU TRỊ TRIỆU CHỨNG
Kiểm soát cân bằng nước và chất điện giải:bệnh nhân phải uông đủ nước để duy trì bài niệu, trên một lít mỗi ngày. Nếu thấy cần thì truyền dịch tĩnh mạch.
Ho:cho codein 20-30 mg 3-4 lần mỗi ngày, nếu. ho gây ảnh hưởng nhiều làm bệnh nhân mệt và mất ngủ. Trong trường hợp ho gây đau thì cho aspirin phối hợp. Sử dụng những dẫn xuất thuốc phiện phải rất thận trọng vì có nguy cơ ức chế hô hấp.
Suy tim: ởngười già hoặc ở những bệnh nhân tim, viêm phổi có thể làm khởi phát một đợt suy tim cấp tính. Có thể điều trị suy tim này bằng digitalis tiêm tĩnh mạch nhanh và cho thuốc lợi niệu (xem: suy tim).
Oxy:cho thở oxy nếu bệnh nhân bị suy hô hấp với tím tái, giảm oxy-huyết và khó thở nặng, đặt ống nội khí quản nếu thấy cần thiết.
Liệt ruột:hút dạ dày và đặt ống thông (xông) trực tràng.
Bệnh không do chủ ý mà tự mình cắn vào đầu lưỡi gọi là Xỉ thiệt.
Xỉ thiệt với “Lộng thiệt” khác nhau. Lộng thiệt là chỉ lưỡi ở trong miệng luôn luôn thè ra và chém mép, khi phát bệnh thần chí vẫn tỉnh táo phần nhiều phát sinh ở trẻ em. Còn Xỉ thiệt là chỉ tự mình cắn vào đầu lưỡi, khi phát bệnh thì tinh thần lơ mơ vô luận là người lớn hay trẻ em, nếu bị co giật, động phong đều có thể phát sinh chứng này.
Người bình thường ngẫu nhiên cũng có lúc cắn vào lưỡi không thuộc bệnh thái không thảo luận ở mục này.
Phân biệt
Chứng hậu thường gặp
Nhay lưỡi do nhiệt thịnh động phong : Có chứng tự mình cắn vào đầu lưỡi, hàm răng cắn chặt, sốt cao co giật, chân tay vật vã, thậm chí uốn ván, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi đen khô nổi gai, mạch Huyền Sác.
Nhay lưỡi do phong đàm quấy rối lên trên: Có chứng ngã lăn đột ngột, hôn mê bất tỉnh, hai mắt trợn ngược, co giật cắn vào lưỡi thậm chí chẩy máu tươi, tiểu tiện không tự chủ, chốc lát lại tỉnh, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Huyền Hoạt.
Phân tích
Chứng Nhay lưỡi do nhiệt thịnh động phong với chứng Nhay liiỡi do phong đờm quấy rối lên trên: Cả hai đều do phong tà gây bệnh đều có thể xuất hiện chứng co giật động phong. Nhưng Nhay lưỡi do nhiệt thịnh động phong phần nhiều gặp ở Ôn bệnh giai đoạn cùng cực, nhiệt cực sinh phong quấy rối thanh không, len lỏi vào kinh lạc, kinh quyết liên tục kèm theo chứng nhay lưỡi. Chứng Nhay lưỡi do phong đàm quấy rối lên trên phần nhiều gặp ở khi có cơn điên giản vì là Can phong kết hợp với đờm theo khí mà nghịch lên, đờm vít lấp thanh khiếu, phong dương quấy động khi co giật thường phát sinh cắn lưỡi. Chẩn đoán phân biệt hai chứng cũng không khó khăn: loại cắn lưỡi ở trên thường kèm theo sốt cao, tinh thần hôn mê phát cuồng thuộc chứng Can kinh nhiệt thịnh động phong. Chứng cắn lưỡi loại sau thường không có hiện tượng nhiệt và co giật, vả lại phát từng cơn sau khi tỉnh lại như người bình thường. Chứng Nhay lưỡi do nhiệt thịnh động phong điều trị nên thanh nhiệt mát Can dẹp phong, chọn dùng phương Linh dương câu đằng thang, Chứng Nhay lưỡi do phong đàm quấy rối ở trên điều trị nên khư phong hóa đàm định Giản, có thể dùng Định giản trấn thống hợp tễ hợp với Yết ngô phiến hiệu quả rất tốt.
Trích dẫn y văn
Tự cắn vào đầu lưỡi là một chứng trạng của “ Nội phong”. Sách Nội kinh viết: “Người ta tự cắn vào lưỡi là do quyết nghịch chạy lên trên, mạch khí đều đến. Thiếu âm khí đến thì cắn vào lưỡi. Thiếu dương khí đến thì cắn vào má, Dương minh khí đến thì cắn vào môi”. Cho uống Thần thánh phục nguyên thang gia giảm (Trung y lâm chứng bị yếu).
Chất nát màu đen do cắn vào lưỡi là do tạng phủ nhiệt cực kiêm cả uế độc, người bị mụn lở giang mai hay bị bệnh này, các thứ khác ít gặp, nên dùng các phương như Tam hoàng, Ngân kiều, Thừa khí… dùng Thổ phục linh sắc uống thay nước chè nếu không hiệu quả thì giống như lời người xưa nói: Loét nát mầu đen mà luôn luôn muốn cắn vào lưỡi thì cái nát ây sẽ lan vào tận gốc mà chết (Thiệt giám biện chứng).
Chứng mỏi bắp chân thấy ghi chép rất sớm trong Linh khu kinh cho là do “tủy hải bất túc” gây nên. Thích nhiệt thiên sách Tố vấn có chứng “ Hĩnh toan”. Các y gia đời sau phần nhiều xếp chứng này vào loại Hư lao, Nuy tý để thảo luận chung.
Phân biệt
Chứng hậu thường gặp
Mỏi mắt bắp chân do Thận khí hư: Có chứng mỏi hai bắp chân, cục bộ có cảm giác như có gió thổi, lưng gối mềm yếu vô lực, kiêm chứng sắc mặt đen sạm, đoản hơi, tiểu tiện vặt nhiều lần, tiểu tiện không gọn bãi hoặc có chứng dương nuy, mạch Trầm Nhược, chất lười đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng.
Mỗi bắp chân do Thận âm hư: Có chứng mỏi hai bắp chân và có cảm giác nóng, ngũ Tâm phiền nhiệt, đầu choáng ù tai kiêm chứng sắc mặt đỏ bừng, miệng và họng khô, ban đêm bị di tinh, mạch Tế Sác, lưỡi đỏ ít rêu.
Mỏi bắp chân do thấp nhiệt dồn xuống: Có chứng mỏi hai bắp chân và có cảm giác tức nén đau trướng, sờ vào thấy nóng, kiêm chứng sắc mậi vàng bủng có nhiều cáu nhờn như dầu, tiểu tiện sẻn đỏ, mạch Nhu Sác, rêu lưỡi vàng nhớt.
Phân tích
– Chứng Mỏi bắp chân do Thận khí hư với chứng Mỏi bắp chân do Thận âm hư: cả hai đều mỏi bắp chân do thận hư, phần nhiều do phòng lao quá độ hoặc tuổi cao tinh huyết suy kiệt, hoặc ốm lâu thể trạng yếu, hao thương khí âm của Thận tạng gây nên bệnh. Bởi vì Thận chủ xương, xương sinh tủy, tinh tủy không nuôi dưỡng đầy đủ xương ông chân cho nên bắp chân mỏi ê ẩm. Yếu điểm biện chứng của hai loại là: Chứng bắp chân mỏi do Thận khí hư thì có cảm giác mát, sợ gió, sắc mặt đen sạm, tiểu tiện không gọn bãi, mạch Nhược không Sác. Chứng Bắp chân mỏi do Thận âm hư thì có cảm giác nóng ở trong, ngũ Tâm phiền nhiệt, đầu choáng tai ù, sắc mặt đỏ bừng, mạch Tế Sác. Nói gọn lại, bắp chân mỏi kiêm hiện tượng hư nhiệt là chứng Thận âm hư, Bắp chân mỏi kiêm hiện tượng hư hàn là chứng Thận khí hư. Điều trị Thận khí hư nên ích khí bổ Thận, cho uống Đại Thỏ ty tử hoàn. Điều trị Thận âm hư nên dục âm bổ Thận kiêm thuốc tiết bỏ tướng hỏa nhẹ nhàng, cho uống Tri Bá địa hoàng hoàn.
– Chứng mỏi bắp chân do thấp nhiệt dồn xuống: Chứng này phần nhiều do cảm nhiễm tà khí thủy thấp gây nên “ Tổn thương do thấp, bên dưới bị trước” (Tố vấn, Thái dương Dương minh luận). Thấp trọc ngấm vào trong da thịt không được dồn ra ngoài, hóa nhiệt hại khí hao âm khiến cho tinh tủy khó mà đầy đủ cho nên thấy mỏi bắp chân. Yếu điểm biện chứng là bắp chân mỏi kiêm cảm giác nén ép trướng đau, sờ vào thấy nóng, mặt vàng như cáu nhờn có dầu, mạch Nhu Sác, rêu lưỡi vàng nhớt. Điều trị nên thanh lợi thấp nhiệt kèm theo thuốc lý khí hoạt huyết, cho uống Đương quy niêm thống thang.
Mỏi bắp chân là một chứng nội thương, phần nhiều là hư chứng, vả lại lâm sàng phần nhiều cùng xuất hiện với các chứng hậu hư tổn khác. Điều trị chỉ có thể dùng biện pháp dịu dàng, cẩn thận dùng các loại công phạt.
Trích dẫn y văn
Chứng dịch thoát, xương co duỗi kém, sắc yểu. Não tủy tiêu thì mỏi bắp chân, tai ù (Linh khu – Quyết khí thiên).
Tủy hải bất túc thì đầu choáng tai ù, hoa mắt, mỏi bắp chân, mắt không nhìn thấy gì, mệt mỏi muốn nằm yên ( Linh khu – Hải luận thiên).
Thận mắc nhiệt bệnh, trước tiên đạu lưng mỏi bắp chân, khát nước uống nhiều, mình nóng… (Tố vấn – Thích nhiên thiên).
Như người mắc bệnh tinh trọc lại kiêm mỏi bắp chân và lưng co cứng, biết là bệnh ở Thận (Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc – Hư tổn lao sái nguyên lưu).
Giải phẫu bệnh: triệu chứng ứ mật, các ống mật bị giãn, các tế bào gan bình thường, không có phản ứng viêm, không nhiễm xơ.
Triệu chứng: bệnh hiếm, chủ yếu gặp ở nam giới. Bắt đầu ở tuổi nhỏ hoặc vị thành niên bởi các đợt vàng da có ngứa, phosphatase kiềm tăng rõ rệt, đôi khi các transaminase tăng vừa phải. Các đường mật ngoài gan không bị tắc. Vàng da kéo dài từ vài tuần đến vài tháng và khỏi sau vài năm. Giữa các đợt vàng da, bilirubin và phosphatase kiềm bình thường.
Điều trị: colestyramin (4 g, ngày 3 lần) nếu bị ngứa nhiều.
Tên chung: acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine Tên thương hiệu và tên khác: Tylenol Allergy Multi-Symptom, Dristan Cold, Children’s Tylenol Plus Cold, Tylenol Sinus Congestion & Pain Nighttime, Robitussin Peak Cold Nighttime Nasal Relief Phân loại thuốc: Kết hợp giữa kháng histamine/giảm sung huyết/giảm đau
Acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine là gì và được sử dụng cho mục đích gì?
Acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine là một loại thuốc kết hợp được sử dụng để giảm tạm thời các triệu chứng cảm lạnh và cúm thông thường, bao gồm: chảy nước mũi, ngứa mũi và họng, ngứa và chảy nước mắt, sốt, đau đầu, đau nhức cơ thể, ho, đau họng, và nghẹt mũi, xoang. Ba loại thuốc này được kết hợp theo liều lượng cụ thể và có sẵn dưới dạng thuốc không kê đơn (OTC).
Mỗi loại thuốc trong sự kết hợp hoạt động theo cách khác nhau và khi kết hợp, chúng mang lại hiệu quả giảm triệu chứng tốt hơn so với việc sử dụng riêng lẻ từng thuốc.
Acetaminophen là một loại thuốc giảm đau và hạ sốt. Acetaminophen giảm đau bằng cách ngăn chặn sự phát sinh các xung động đau và ức chế sự tổng hợp prostaglandin trong hệ thống thần kinh trung ương (CNS). Prostaglandin là một chất tự nhiên trong cơ thể gây ra viêm. Acetaminophen giảm sốt bằng cách tác động lên vùng đồi dưới của não, nơi kiểm soát nhiệt độ cơ thể.
Chlorpheniramine hoạt động bằng cách chặn hoạt động của histamine, một hợp chất tự nhiên trong cơ thể gây ra các triệu chứng dị ứng. Histamine được giải phóng bởi các tế bào mast và basophil, loại tế bào miễn dịch, khi tiếp xúc với dị nguyên. Chlorpheniramine gắn vào các thụ thể histamine H1 trong cơ trơn của mạch máu và đường hô hấp, ngăn chặn sự kích hoạt của histamine, giúp giảm các phản ứng dị ứng như ho, ngứa và các triệu chứng khác.
Phenylephrine thuộc nhóm thuốc kích thích alpha1. Phenylephrine kích thích các thụ thể alpha1 adrenergic, các phân tử protein nằm trong các mô cơ trơn quanh mạch máu, khiến các cơ này co lại. Điều này giúp thu hẹp mạch máu trong mũi và xoang, giảm nghẹt mũi.
Cảnh báo
Không sử dụng cho những người có mẫn cảm với acetaminophen, chlorpheniramine, phenylephrine, hoặc bất kỳ thành phần nào trong công thức.
Hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine nếu bạn có bất kỳ tình trạng nào sau đây:
Bệnh gan
Bệnh tim hoặc huyết áp cao (tăng huyết áp)
Tiểu đường
Bệnh tuyến giáp
Hen suyễn, viêm phế quản mãn tính, hoặc khí phế thũng
Bệnh tăng nhãn áp góc hẹp
Phì đại tuyến tiền liệt gây tắc nghẽn tiểu
Hẹp dạ dày tá tràng
Thiếu hụt enzyme G6PD, một rối loạn di truyền
Không sử dụng acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine đồng thời hoặc trong vòng 14 ngày sau khi điều trị bằng thuốc chống trầm cảm loại chất ức chế monoamine oxidase (MAOI).
Không dùng đồng thời với bất kỳ loại thuốc nào có chứa acetaminophen.
Acetaminophen có thể gây tổn thương gan, đặc biệt khi sử dụng lâu dài hoặc với liều cao. Các yếu tố nguy cơ gây tổn thương gan nghiêm trọng bao gồm:
Dùng quá 4,000 mg acetaminophen trong 24 giờ
Uống đồng thời các thuốc chứa acetaminophen khác
Uống 3 ly rượu trở lên trong khi dùng acetaminophen
Chlorpheniramine có thể gây buồn ngủ, và việc dùng đồng thời với thuốc an thần, thuốc an thần kinh hoặc rượu có thể làm tăng cảm giác buồn ngủ.
Không sử dụng cho trẻ dưới 2 tuổi, vì chlorpheniramine có thể gây kích thích và nhầm lẫn nghiêm trọng ở trẻ em. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ nhi khoa trước khi sử dụng cho trẻ từ 12 tuổi trở xuống.
Đã có các báo cáo hiếm về các phản ứng da nghiêm trọng đe dọa tính mạng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson (SJS), hoại tử biểu bì độc hại (TEN), và viêm da cấp tính (AGEP), với các triệu chứng như phồng rộp, phát ban, và đỏ da. Ngừng điều trị ngay lập tức nếu xuất hiện các triệu chứng này.
Tác dụng phụ của acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine là gì?
Các tác dụng phụ phổ biến của acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine bao gồm:
Hồi hộp
Nhịp tim nhanh (nhịp tim nhanh)
Nhịp tim nhanh phản xạ
Huyết áp cao (tăng huyết áp)
Huyết áp thấp (hạ huyết áp)
Co thắt nghiêm trọng các mạch máu ngoại vi và bụng (tạng)
Dịch tiết phế quản dày lên
Thở khò khè
Mệt mỏi
Đau đầu
Chóng mặt
Run
Mất ngủ
Buồn ngủ
Cáu kỉnh
Nhầm lẫn
Kích thích
Bồn chồn
Lo lắng
Trầm cảm
Hưng phấn
Mất cảm giác thèm ăn (chán ăn)
Phát ban da
Các rối loạn về máu bao gồm:
Số lượng hồng cầu thấp do sự phá hủy nhanh chóng (thiếu máu tan máu)
Số lượng bạch cầu hạt thấp nghiêm trọng (giảm bạch cầu hạt)
Số lượng bạch cầu trung tính thấp (giảm bạch cầu trung tính)
Số lượng bạch cầu thấp (giảm bạch cầu)
Số lượng tiểu cầu thấp (giảm tiểu cầu)
Số lượng tất cả các loại tế bào máu thấp (giảm toàn bộ tế bào máu)
Tăng nồng độ bilirubin
Tăng nồng độ enzyme phosphatase kiềm
Hãy gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu bạn gặp bất kỳ triệu chứng hoặc tác dụng phụ nghiêm trọng nào sau đây khi sử dụng thuốc này:
Các triệu chứng tim nghiêm trọng bao gồm nhịp tim nhanh hoặc đập thình thịch, rung động trong lồng ngực, khó thở, và chóng mặt đột ngột;
Đau đầu dữ dội, nhầm lẫn, nói lắp, yếu nghiêm trọng, nôn mửa, mất phối hợp, cảm giác không vững;
Phản ứng nghiêm trọng của hệ thần kinh bao gồm cơ bắp rất cứng, sốt cao, đổ mồ hôi, nhầm lẫn, nhịp tim nhanh hoặc không đều, run rẩy, và cảm giác như bạn sắp ngất;
Các triệu chứng nghiêm trọng về mắt bao gồm nhìn mờ, tầm nhìn hình đường hầm, đau hoặc sưng mắt, hoặc nhìn thấy hào quang xung quanh các nguồn sáng.
Đây không phải là danh sách đầy đủ tất cả các tác dụng phụ hoặc phản ứng có hại có thể xảy ra khi sử dụng thuốc này. Hãy gọi cho bác sĩ của bạn để được tư vấn y tế về các tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc các phản ứng có hại.
Liều dùng của acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine là gì?
Acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine
Dạng viên nén
325 mg/2 mg/5 mg
Giảm triệu chứng cảm lạnh và cảm cúm
Người lớn và trẻ em:
Trẻ em dưới 12 tuổi
Tham khảo ý kiến bác sĩ nhi khoa
Người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên
2 viên uống mỗi 4 giờ
Không dùng quá 12 viên/ngày
Quá liều
Quá liều acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine có thể gây tổn thương gan do acetaminophen với các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, mất cảm giác thèm ăn, đổ mồ hôi, đau bụng, mệt mỏi nghiêm trọng, vàng mắt và da, nước tiểu sẫm màu, kích động, nhầm lẫn, ảo giác, và co giật.
Ở trẻ em, quá liều có thể gây kích động ban đầu, sau đó là mất phối hợp, buồn ngủ, mất ý thức, và co giật.
Quá liều có thể được điều trị bằng các biện pháp hỗ trợ và điều trị triệu chứng theo yêu cầu.
Tương tác thuốc với acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine
Hãy thông báo cho bác sĩ của bạn về tất cả các loại thuốc bạn đang dùng để được tư vấn về các tương tác thuốc có thể xảy ra. Không bao giờ bắt đầu dùng, đột ngột ngưng dùng, hoặc thay đổi liều lượng của bất kỳ loại thuốc nào mà không có khuyến nghị từ bác sĩ của bạn.
Tương tác nghiêm trọng của acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine bao gồm:
iobenguane I 123
isocarboxazid
linezolid
phenelzine
procarbazine
selegiline qua da
tranylcypromine
Acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine có tương tác nghiêm trọng với ít nhất 34 loại thuốc khác.
Acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine có tương tác vừa phải với ít nhất 291 loại thuốc khác.
Acetaminophen/chlorpheniramine/phenylephrine có tương tác nhẹ với ít nhất 68 loại thuốc khác.
Danh sách tương tác thuốc trên không phải là toàn bộ các tương tác hoặc tác dụng phụ có thể xảy ra. Để biết thêm thông tin về các tương tác thuốc, bạn có thể truy cập công cụ kiểm tra tương tác thuốc trên RxList.
Điều quan trọng là luôn thông báo cho bác sĩ, dược sĩ hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về tất cả các loại thuốc kê đơn và không kê đơn mà bạn đang sử dụng, cũng như liều lượng của từng loại, và giữ một danh sách thông tin này. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào về thuốc.
Có rất nhiều người cho rằng những người bị bệnh cao huyết áp và bị bệnh tim do xơ cứng động mạch vành (vẫn gọi là bệnh mạch vành) không nên uống sữa bò. Nguyên do là trong sữa bò có chứa rất nhiều chất béo (khoảng 3,5%), hơn nữa phần lớn lại là acid béo bão hòa, đồng thời còn có chứa cả lượng cholesterol nhất định, vì thế sẽ gây nên tình trạng mỡ trong máu, nhất là cholesterol trong máu tăng cao, như vậy rất bất lợi đối với những người bị cao huyết áp và bị bệnh mạch vành của tim. Vì thế rất nhiều người bệnh cũng như những người già không dám ăn sữa bò.
Sữa bò
Nhưng nhận thức này thực ra rất sai lầm, phiến diện:
Các chuyên gia y học mách bảo chúng ta chất cholesterol trong cơ thể có khoảng 30% là hấp thu được từ trong các thức ăn, tuyệt đại bộ phận cholesterol là do gan tổng hợp được. Còn trong sữa bò có chứa một chất gọi là orotic acid và một chất khác chịu được nhiệt là low molecula weight compound. cả hai chất này đều có công năng ức chế sự tổng hợp chất cholesterol trong gan người. Trong sữa bò còn có nhiều chất canxi, chất canxi này có tác dụng giảm thiểu sự hấp thu chất cholesterol trong thức ăn. Trong một số amino acid có trong sữa bò còn có công năng bảo vệ tính đàn hồi của huyết quản, ngăn chặn xơ cứng huyết quản và thanh lọc muối natri quá lượng trong cơ thể. Vì vậy, tuy trong sữa bò có chứa chất béo và chất cholesterol, những tác dụng đặc biệt của các chất như orotic acid và chất canxi thì lại đủ để bù đắp lại cái nó không đủ và dư thừa ra.
Sữa và sản phẩm từ sữa
Việc hấp thu được nhiều chất canxi trong thức ăn có thể giúp hạ thấp huyết áp, về điểm này đã được nhiều người trong giới y học trên thế giới thừa nhận. Còn về hấp thu nhiều canxi vì sao lại hạ thấp được huyết áp thì cho đến nay vẫn chưa có một kết luận chính xác; nhưng qua thí nghiệm tiến hành trên chuột đã chứng tỏ nếu cho chuột ăn càng nhiều chất canxi thì chất natri được thải ra theo nước tiểu càng nhiều. Điều này chứng tỏ bổ sung canxi có thể có tác dụng giảm thiểu hàm lượng của chất muối natri trong cơ thể, mà muối natri quá nhiều trong cơ thể lại có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời được với bệnh cao huyết áp. Trong mỗi 100 ml sữa bò có chứa 0,12 gam canxi. Công trình nghiên cứu thực nghiệm của ngài Heitianzhongehen, chủ nhiệm khoa Tim mạch Bệnh viện quốc lập Dachang Nhật Bản đã chứng tỏ những người huyết áp cao mỗi ngày uống 3 chai sữa bò (khoảng 600 mỉ) có thể làm cho huyết áp hạ xuống được khoảng 4%.
Do đó có thể thấy những người bị cao huyết áp và bị bệnh mạch vành của tim uống sữa bò không những không có hại gì mà ngược lại còn có lợi nữa.
Ngoài ra, gần đây các nhà y học nước ngoài lại đã phát hiện sữa bò có công hiệu đề phòng được bệnh ung thư kết tràng và trực tràng mà nguyên nhân chủ yếu có quan hệ với chất canxi chứa trong sữa bò. Chất canxi có thể có tác dụng chống lại và trung hòa độc tính của cholic acid trong đường ruột, mà chất cholic acid là chất gây ung thư ở kết tràng và trực tràng mà hiện nay các nhà khoa học đều đã công nhận. Chất canxi trong sữa bò còn có tác dụng sinh lí thay thế chuyển hóa cạnh tranh đối kháng với nguyên tố kim loại chì, do đó mà điều tiết và giảm nhẹ được tác dụng độc tính của chì đối với cơ thể. Nhiễm độc chì do xe hơi xả khói ra là một nhân tố quan trọng uy hiếp sức khỏe con người ngày càng nghiêm trọng. Khi đã về già, trong cơ thể thường thiếu canxi, nên rất dễ gãy xương và nếu đã gãy thì rất khó lành vết thương, đó cũng là do thiếu canxi gây nên. Với những phân tích khoa học trên, sữa bò là loại thực phẩm lí tưởng bổ sung canxi cho người già. Cho nên sữa bò là một loại thức ăn bổ dưỡng có rất nhiều tác dụng bảo kiện đôi với con người ở mọi lứa tuổi.