Tâm hạ quý (dưới tâm hồi hộp)

0

Khái niệm

Tâm hạ quý là chỉ chứng trạng Tâm (Vị) sợ sệt tim đập nhanh. Sách Nội kinh không thấy ghi tên Tâm hạ quý. Nhưng Tý luận – Tố vấn có câu “Chứng Tâm tý, mạch không thông, phiền thì dưới Tâm thình thịch”. Sách Hoàng đế Tố vấn trực giải có viết : “Cổ, tiếng động thình thịch” có thể thấy, “Tâm hạ cổ” có ngụ ý nghĩa dưới Tâm hồi hộp rung động. Ghi chép về Tâm hạ quý, trước tiên thấy từ Thương hàn luận, và đặt ra chuyên mục “Kinh quý”. Trong sách Chư bệnh nguyên hậu luận thì có Thương hàn quý hậu chú trọng giới thiệu chứng Tâm hạ quý ghi trong Thương hàn luận. Trong Thương hàn minh lý luận của Thành Vô Kỷ có xếp “Quý” vào chuyên mục để giới thiệu. Sách Chứng trị chuẩn thằng viết: “Quý tức là Chinh xung”. Từ đó về sau, y gia nhiều đời đem “Quý” (bao gồm Tâm hạ quý) xếp vào hai mục “Kinh quý”, “Chinh xung” để thảo luận; nhưng trình bầy về tâm hạ quý cũng chưa vượt khỏi phạm trù của Thương hàn luận.

Tâm hạ quý, Tâm quý, Tề hạ quý, bộ vị phát bệnh khác nhau. Mục này giới thiệu Tâm hạ quý, Tâm hạ là chỉ bộ phận Vị quản, còn các bộ vị rung động hồi hộp khác tham khảo ở các mục hữu quan.

Phân biệt

Chứng hậu thường gặp

Tâm hạ quỷ do thủy khí lăng Tâm:Có chứng dưới Tâm nhộn nhạo nhẹ, uống nhiều thì bệnh tăng, đầu choáng, nôn mửa, tiểu tiện không lợi, mạch Huyền Hoạt, thể lưỡi to mập, rêu trơn trắng nhuận.

Tâm hạ quý do Tâm dương không mạnh: Có chứng dưới Tâm rung động không yên, ấn vào thì dịu, kiêm chứng đoản hơi, ngực khó chịu, sợ lạnh, tay chân không ấm, chất lưỡi đỏ nhạt, mạch Tiểu nhược.

Tâm hạ quỷ do âm hư hỏa vượng: Có chứng dưới Tâm rung động, lúc phát lúc ngừng, kiêm chứng ngũ Tâm phiền nhiệt, hai gò má đỏ bừng, đầu choáng ù tai, mạch Tế Sác, chất lưỡi đỏ, ít rêu lưỡi.

Tâm hạ quý do đờm với hỏa chống nhau: Có chứng dưới Tâm rung động phiền loạn, dễ sợ sệt, đắng miệng, mất ngủ hay mê hoặc nôn mửa ra đờm dãi, mạch Hoạt Sác, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt.

Phân tích

  • Chứng Tăm hạ quý do thủy khí lăng Tâm với chứng Tâm hạ quý do Tâm dương không mạnh: Cả hai có quan hệ chặt chẽ, tức là thủy khí lăng Tâm là trên cơ sở Tâm dương suy yếu phát sinh. So sánh hai loại, loại trên thiên về tà khí thịnh, loại sau thiên về chính khí hư, vả lại có sự chuyển hóa lẫn nhau.

Chứng Tâm hạ quý do thủy khí lăng Tâm là trong Vị có đình ẩm không phân bố đi các nơi, lân lên Tâm gây nên “Tâm là hỏa mà ghét thủy, thủy ứ đọng ở trong thì Tâm không yên” (Thương hàn minh lý luận). Chứng Tâm hạ quý do Tâm dương không mạnh là “do dương khí yếu ở trong, dưới Tâm trống không, chính khí động ở trong gây nên Quý” (Thương hàn minh lý luận). Yếu điểm biện chứng hai loại này là: Chứng Tâm hạ quý do thủy khí lăng Tâm thì uống nước vào càng hồi hộp nặng, tiểu tiện không lợi, kiêm chứng đầu choáng, mạch Huyền Hoạt, lưỡi to bệu. Chứng Tâm hạ quý do Tâm dương không mạnh có đặc điểm là người bệnh “lây tay chặn lên ngực” và “muốn được xoa ấn” kiêm chứng đoản hơi, sợ lạnh, mạch Tiểu Nhược.

Tâm hạ quý do thủy khí lăng Tâm, điều trị nên quyên ẩm thông dương, dùng các phương, Phục linh cam thảo thang hoặc Bán hạ Ma hoàng hoàn.

Tâm hạ quý do Tâm dương không mạch, điều trị nên ôn thông Tâm dương, chọn dung các phương Quế chi cam thảo thang hoặc Phục linh quế chi bạch truật cam thảo thang.

– Chứng Tâm hạ quỷ do âm hư hỏa vượng với chứng Tâm hạ quỷ do đờm hỏa cùng chọi nhau: Cả hai có quan hệ tới tà nhiệt quây rối ở trong, mạch đều xuất hiện mạch tượng Sác. Nhưng loại Tâm hạ quý do âm hư hỏa vượng lấy âm hư làm “Bản” hỏa vượng là “Tiêu”, Hỏa là dương, dương chủ động, âm tinh thiếu khả năng dâng lên, tướng hỏa động sằng mà xuất hiện Quí, loại Tâm hạ quý này với chứng ngũ Tâm phiền nhiệt mạch Tế Sác đồng thời xuất hiện lại thêm đặc điểm là gò má đỏ bừng, ít rêu lưỡi… điều trị nên tư âm giáng hỏa chống trọi nhau lấy đờm làm “ Bản” hỏa làm “ Tiêu”, đờm ẩm ứ đọng ở Trung tiêu, trở ngại kinh lạc không được thông sướng, nên uất hỏa với đờm xung đột ở Tâm hạ” (Chứng trị chuẩn thằng) cho nên thấy Tâm hạ quý, có đặc điểm chứng trạng dưới Tâm hồi hộp rung động phiền loạn dễ hãi sợ, đắng miệng, mạch Hoạt Sác, rêu lưỡi vàng nhớt. Điều trị nên thanh nhiệt quét đàm, dùng Đạo đàm thang.

Tâm hạ quý là chứng trạng người bệnh tự cảm thấy, lúc nhẹ lúc nặng, thường tùy theo thần chí ức uất hoặc cáu giận mà nặng thêm. Thực tiễn lâm sàng chứng minh đối với điều trị chứng Tâm hạ quý ngoài việc chữa bằng dược vật hay châm cứu, làm cho tinh thần sảng khoái, Tâm tình thoải mái, cũng là những nhân tố không thể thiếu đối với người bệnh.

Trích dẫn y văn

Người bệnh uống nước nhiều tất suyễn đầy đột ngột. Ăn ít uống nhiều, nước ứ đọng dưới Tâm, nặng hơn thì thành Quý, nhẹ hơn thì đoản hơi: (Đàm ẩm khái thấu bệnh mạch chứng tính trị – Kim quỹ yếu lược).

Quý là động. Nói hồi hộp động ở dưới Tâm. Đây là do Thương hàn bệnh sau khi đã phát hãn rồi lại dùng phép hạ, bên trong có hư nhiệt thì khát, khát thì uống nước, thủy khí lấn Tâm, sẽ rét run rẩy mà dưới Tâm hồi hộp (Thương hàn quý hậu – Chư bệnh nguyên hậu luận).

Dưới Tâm hồi hộp có khí hư, huyết hư khác nhau, thuộc ẩm thuộc hỏa khác nhau. Nghĩ như Khí hư do dương khí ở trong ít ỏi, dưới Tâm chống chếch, động ở bên trông thành Quý. Tâm khí ổn định, năm tạng bất túc, nặng hơn là ưu sầu buồn thương không vui, hay quên, hãi sợ quay cuồng, dùng Thiên kim định chí hoàn, Thiên kim phục thần thang hoặc Lục quân tử thang gia Xương bồ, Viễn trí. Do huyết hư là âm khí bị hư ở bên trong, hư hỏa động sằng, dùng Quy Tỳ thang gia Đan sâm, Mạch đông, Thuộc Đình ẩm thì nước ứ đọng dưới tâm, vũ cái thắng mình: Tâm vốn sợ Thủy, không chịu ở yên, cho nên sợ sệt mà động, dùng Bán hạ phục linh thang, Phục linh cam thảo thang, hoặc Nhị trần thang gia Bạch truật, Trư linh, Trạch tả. Có trường hợp Biểu tà kiêm ẩm tà, dùng Bán hạ ma hoàng hoàn, Tiểu Thanh long thang. Nếu là Hỏa vượng, vì thủy không chế được hỏa, cho nên có lúc hồi hộp mà phiền, rung động không yên, dùng Thiên vương bổ Tâm đan, nếu không đỡ thì dùng Lục vị hoàn gia Ngũ vị. Mạch đông, Viễn trí. Nếu có tà khí xung đột gây nên hồi hộp, nên xem xét loại tà khí nào mà sau đó điều trị.Có khi doanh vệ khô cạn, mạch thấy Kết Đại, tất phải bổ khí ích huyết sinh tinh, dùng Trích Cam thảo thang. Vì Đàm ẩm mà hồi hộp, dùng Đạo đàm thang gia Táo nhân. Bệnh lúc phát lúc ngừng là do đàm nhân hỏa mà động, uống Ôn Đởm thang gia Xuyên liên (Thần chí môn – Trương thị y thông).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here