Phiền táo (Tâm phiền nhiệt không yên) – Triệu chứng bệnh Đông y

Chứng trạng Đông y

Khái niệm

Phiền táo là chỉ chứng trạng Tâm phiền nhiệt không yên, chân tay vật vã không yên.

Chứng này xuất xứ từ sách Nội kinh. Tố vấn – Chí chân yếu đại luận gọi là “Táo phiền”. Các sách Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược và các y thư đời sau như Thiên kim phương, Hà Gian lục thư, Đông Viên thập thư, Chứng trị chuẩn thằng… đều ghi chép chứng này, có thể thấy chứng này trong các bệnh nội thương, ngoại cảm thường do hỏa nhiệt gây nên và phần nhiều là Thực chứng.

  • Phiền và Táo thực là hai chứng: như Phiền mãn, Tâm phiền, Hỏa phiền, Bạo phiền, Hư phiền, Vi phiền… đều là chứng Phiền, thuộc chứng trạng tự giác. Táo nhiễu, Táo động, Táo cuồng… đều thuộc về Táo là những chứng trạng ngoài lề tự phát. Loại chứng trị tàiviết: “Nội nhiệt là Phiền, ngoại nhiệt là Táo. Phiền sinh ra từ Phế, Táo sinh ra từ Thận. Nhiệt truyền vào Phế và Thận thì đều xuất hiện Phiền Táo”. Lại nói “Phiền là dương”, “Táo là âm”. Mục này thảo luận chứng vừa táo vừa phiền. Nếu chỉ có Phiền mà không Táo thì tham khảo mục “Ngũ Tâm phiền nhiệt” và các chứng hữu quan.Phiền táo do Dương minh thực nhiệt: Có chứng sốt cao phiền táo, ra mồ hôi, thở thô, đại tiện không thông hoặc nhiệt kết bàng lưu, bụng đầy rắn đau hoặc đau quanh rốn cự án, hoặc có các chứng nói sảng, rêu lưỡi vàng khô, thậm chí khô đen và nổi gai, mạch.Hồng Đại hoặc Trầm Thực.
  • Phiền Táo do nhiệt vào Doanh huyết: Có chứng nhiệt nặng về đêm, phiền táo không ngủ được, thậm chí phát cuồng, nổi ban chẩn, thổ huyết, nục huyết hoặc nỉệu huyết, tiện huyết, chất lưỡi đỏ tía, mạch Tế Sác.
  • Phiền táo do biểu hàn uất nhiệt: Có chứng ố hàn phát nhiệt, không mồ hôi, phiền táo, đau đầu đau mình, rêu lưỡi trắng mỏng, hơi vàng, mạch Phù Khẩn.
  • Phiền táo do Thiếu dương uất nhiệt: Có chứng ngực sườn đầy tức, phiền táo nói sảng, sợ sệt không yên, tiểu tiện không lợi, toàn thân nặng nề không xoay chuyển được, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Huyền Sác.
  • Phiền táo do đơm hỏa quấy rối ở trong: Có chứng phát nhiệt mặt đỏ, thở gấp phiền muộn, vật vã không yên, đờm vàng dính, đại tiện bí kết, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt SácPhiền táo do ứ huyết xông lên Tâm: Có chứng Tâm phiền, vật vã, mặt môi tím tái, mắt trũng thâm quầng, nhói đau vùng Tâm hung, hoặc bụng dưới rắn đầy đau, tiểu tiện tự lợi, đại tiện phân đen dễ đi, chất lưỡi tía tối, có nốt ứ huyết, mạch Trầm sắc hoặc Kết Đại.
  • Phiền táo do âm hư hỏa vượng: Có chứng hư phiền mất ngủ, vật vã không yên, hồi hộp sợ sệt, hay quên hay mê, lưng đùi yếu mỏi, gò má hồng hơi đỏ, lòng bàn chân tay nóng, triều nhiệt mồ hôi trộm, họng khô miệng ráo, tiểu tiện vàng, đại tiện khô, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Tế Sác.

Phân tích

  • Chứng Phiền táo do Dương minh thực nhiệt với chứng Phiền táo do nhiệt vào Doanh huyết: cả hai đều là chứng Thực nhiệt. Phần nhiều gặp ở ngoại cảm nhiệt bệnh. Phiền táo do Dương minh Thực nhiệt phần nhiều do táo nhiệt xung đột cả trong và ngoài, hoặc nhiệt với phân táo câu kết với nhau, phủ khí không thông gây nên. về biện chứng nên coi các chứng trạng sốt cao, khát nước vã mồ hôi, mạch Hồng hoặc đại tiện bí kết, vùng bụng rắn đầy, đau và cự án, rêu lưỡi vàng già hoặc nổi gai, mạch Trầm Thực có lực coi là yếu điểm. Còn chứng Phiền táo do nhiệt vào Doanh huyết phần nhiều do bệnh tà ở khí phận không giải, tà nhiệt nhân chỗ hư hãm vào Tâm doanh cho nên nhiệt len lỏi vào huyết lạc phát sinh chứng phát chẩn, phát ban, bức huyết đi bừa phát sinh các chứng thổ huyết nục huyết, niệu huyết, tiện huyết, Can phong nội động có chứng chân tay co giật. Nhiệt thịnh thương âm có chứng miệng khô họng ráo… Khi biện chứng phải coi các chứng trạng phiền táo không yên, nổi rõ ban chẩn, mất huyết thương âm, sắc lưỡi tía sẫm làm yếu điểm. Chứng Phiền táo do Dương minh thực nhiệt điều trị nên thanh nhiệt sinh tân, hạ mạnh nhiệt kết, tùy chứng mà chọn dùng các phương Bạch hổ thang, Đại Thừa khí thang, Chứng Phiền táo do nhiệt vào Doanh huyết điều trị nên thấu doanh chuyển khí, thanh nhiệt lương huyết chọn dùng các phương Thanh doanh thang, hoặc Tê giác địa hoàng thang.

– Chứng Phiền táo do biểu hàn uất nhiệt với chứng Phiền táo do Thiếu dương uất nhiệt: Cả hai đều là ngoại tà xâm phạm, nhiệt uất ở trong gây nên. Nhưng Phiền táo do biểu hàn uất nhiệt là do bên ngoài có phong hàn vít tắc, bên trong có dương nhiệt không phát tiết, cho nên vừa có chứng biểu hàn như: phát nhiệt ố hàn, đau minh không mồ hôi, mạch Phù Khẩn lại vừa có hiện tượng uất nhiệt quấy rối ở trong như phiền táo, rêu lưỡi trắng xen vàng. Còn chứng Phiền táo do Thiếu dương uất nhiệt là chứng thuộc bán biểu bán lý vừa phiền táo lại kiêm các chứng ngực sườn đầy tức, tiểu tiện không lợi, sợ sệt không yên, chân tay mình mẩy nặng nề không xoay chuyển được.

Phiền táo do biểu hàn uất nhiệt điều trị nên giải phong hàn ở ngoài, thanh uất nhiệt ở trong dùng phương Đại thanh long thang. Phiền táo do Thiếu dương uâ^t nhiệt điều trị nên hòa giải Thiếu dương, thanh nhiệt chấn kinh dùng phương Sài hồ gia Long cốt mẫu lệ thang.

– Chứng Phiền táo do đờm hỏa quấy rối ở trong với chứng Phiền táo do ứ huyết xông lên Tâm: Cùng thuộc Thực chứng nhưng biểu hiện lâm sàng khác nhau. Phiền táo do đờm hỏa quây rối ở trong biểu hiện là trong Tâm phiền nhiệt, vật vã không yên, đờm vàng dính, thở gấp suyễn đầy, mình nóng mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác. Phiền táo do ứ huyết xông lên Tâm thì kiêm các chứng sắc mặt tối sạm, môi miệng có sắc xanh, vùng bụng có hòn khối rắn đầy đau da dẻ tím tái hoặc có ứ ban, chất lưỡi tía sạm… Phiền táo do đờm hỏa quấy rối ở trong phần nhiều do đờm lưu đọng lâu ngày uất lại hóa nhiệt hoặc tình chí không toại nguyện, khí uất hóa hỏa hoặc ngoại cảm theo mùa, hóa nhiệt hóa hỏa hun đốt tân dịch, tụ lại sinh ra đờm trọc, đờm và hỏa câu kết với nhau quây rổì thần minh. Phiền táo do ứ huyết xông lên Tâm thì do nhiệt tà dằng dai vào sâu huyết lạc, huyết bị nhiệt hun đốt trở ngại, lưu thông ứ nghẽn lên Tâm khiếu, hoặc ứ huyết lâu ngày uất lại hóa nhiệt, nhiệt úng tắc huyết ứ quấy rối Tâm thần ở trên. Loại trên điều trị theo phép thanh hóa nhiệt đờm dùng Ôn Đởm thang gia các vị như Hoàng liên, Hoàng cầm. Loại sau điều trị theo phép hoạt huyết khư ứ dùng phương Huyết phủ trục ứ thang gia giảm.

  • Chứng Phiền táo do âm hư hỏa vượng: Là do ốm lâu thương âm hoặc thất tình nội thương hoặc tuổi già thể trạng yếu, Thận âm bất túc, thủy khuy hỏa trôi nổi quấy rối Tâm thần ở trên gây nên. Khi biện chứng, chứng trạng đặc trưng là âm hư nội nhiệt rất rõ ràng như các chứng: triều nhiệt, xương nóng âm ỉ, gò má hồng, môi đỏ, miệng khô họng ráo, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Tế Sác. Điều trị nên tư âm giáng hỏa dùng phương Tri bá địa hoàng hoàn.

Tóm lại, chứng Phiền táo không ngoài hai thể Hư và Thực. Thuộc Thực phần nhiều do tà nhiệt, đờm hỏa, ứ huyết gây nên. Thuộc Hư phần nhiều do âm hư hỏa vượng. Nhưng bất luận là chứng Hư hay chứng Thực phần nhiều có liên quan đến hỏa của Tâm kinh. Tâm chứa thần chủ về thần minh, thần minh bị Tâm hỏa quấy rối, thì phiền táo không yên. Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc có viết: “Phiền táo là bệnh Tâm kinh hỏa nhiệt”. Điều trị chủ yếu nên thanh nhiệt tả hỏa, hỏa được dẹp yên thì Tâm thần yên tĩnh, phiền táo cũng khỏi ngay.

Trích dẫn y văn

  • Nếu Thiếu âm ở thắng dưới, Tâm nhiệt, hay đói, dưới rốn lại động, khí dồn đến Tam tiêu, gặp mùa viêm thử mộc bị úng, cỏ bị úa, ẩu nghịch táo phiền, bụng đầy đau, ỉa nhão chuyển thành chứng đại tiện ra sắc đỏ (Tố vấn – Chí chân yếu đại luận).
  • Tâm bị chứng thủy thì mình nặng mà hụt hơi không nằm được. Phiền mà Táo người bệnh thũng ở bộ phận sinh dục (Kim quỹ yếu lược – Thủy khí bệnh mạch chứng tính trị).
  • Kinh nói: Khí loạn ở Tâm thì phiền bởi vị nhiệt ẩn náu ở Phế thì phiền, vào đến Thận thì táo. Đại để là Tâm hỏa vượng thì thủy khuy, kim bị hun đốt, chỉ riêng một hỏa bốc cháy cho nên Phế Thận bị lây mà sinh phiền táo (Trương thị y thông – Phiền táo).
  • Nội nhiệt Tâm phiền gọi là Phiền, cho nên chứng Phiền là chỉ riêng trong Tâm bị uất phiền. Ngoại nhiệt mình táo gọi là Táo, cho nên Táo là cả phía ngoài thân thể bị nhiệt táo. Nội nhiệt thuộc cái hỏa có gốc (Căn). Nguồn gốc vốn là nhiệt. Những trường hợp chỉ Phiền không Táo và trước Phiền sau Táo đều dễ chữa. Ngoại nhiệt thuộc cái hỏa vô căn, nguồn gốc là do hàn, những trường hợp chỉ Táo không Phiền và trước Táo sau Phiền đều khó chữa (Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc – Phiền táo kiện vong nguyên lưu).
  • Lại có trường hợp Phiền táo do trong âm ẩn náu ở dương, đau đầu mình nóng, đầu ngón tay lạnh, ngực đầy buồn nôn, mạch Trầm phục, ấn vào tận xương nếu thấy có lực nên dùng phép đánh tan âm khí để khơi thông chân hỏa. Sách Bản sự dùng Phá âm đan. Đôi với chứng Phục dương ở trong âm dùng thuôc nhiệt để trợ dương thì là cách tuyệt cái âm không thể đạo dẫn chân dương nữa; dùng thuốc lạnh thì lại làm khuất phục cái chân hỏa, lập tức tiêu vong, dùng Phá âm đan khiến cho hỏa thông thủy giáng ra được mồ hôi thì tốt (Loại chứng trị tài – Phiền táo).
Chứng trạng Đông y
Tìm kiếm điều bạn cần
Bài viết nổi bật
  1. Cảm thấy Mệt mỏi thường xuyên – Triệu chứng bệnh gì, phải làm sao
  2. Bị bệnh thủy đậu có nên tắm không?
  3. Tác hại của uống nhiều rượu bia đối với sức khỏe
  4. Dị ứng thuốc – biểu hiện, điều trị
  5. Thuốc chống dị ứng và cách dùng
  6. Sốt phát ban
  7. Thuốc chống say xe hiệu quả nhất hiện nay
  8. Cách chữa đau răng nhanh nhất, hiệu quả không dùng thuốc
  9. Cây Cà gai leo và tác dụng chữa bệnh gan thần kỳ
  10. Bệnh Zona (Giời leo) - Hình ảnh, triệu chứng và thuốc chữa bệnh Zona

Hỏi đáp - bình luận