Chẩn đoán và điều trị MIGRAINE và các chứng đau đầu khác

0

ĐẠI CƯƠNG

Đau đầu là chứng bệnh hay gặp nhất của nhân loại, là cái đau hay gặp nhất trong các loại đau của cơ thể con người. Bản thân đau đầu có thể là một căn bệnh, nhưng cũng có thể là triệu chứng của nhiều bệnh nội khoa cũng như bệnh thần kinh khác nhau, nó liên quan tới công tác chẩn đoán và điều trị của hầu hết các bác sĩ. Tuy nhiên, chứng đau đầu luôn luôn ẩn chứa nguy cơ tồn tại của các bệnh lý nội sọ. Chính vì vậy, để chẩn đoán và điều trị đau đầu tốt người thầy thuốc không thể thiếu kiến thức về chuyên ngành thần kinh.

Lịch sử

Cho tới nay những mô tả lâm sàng đầu tiên về các bệnh thần kinh có niên giám vào những năm 1590 – 1340 trước công nguỵên (vào khoảng thời đại thứ XVII của Ai Cập cổ đại) do Elber phát hiện được coi là cổ xưa nhất. Đó là những bảng lâm sàng về 3 chứng bệnh chính: đau đầu, chóng mặt và động kinh. Như vậy, ta có thể nói rằng đau đầu là một trong những chứng bệnh thần kinh mà loài người sớm biết tới nhất.

Sau sự kiện trên, hơn 2 thế kỷ (từ năm 1125 -1110 TCN) người ta đã phân biệt được bệnh đau nửa đầu với các chứng đau đầu khác một cách rõ ràng. Mặc dù đã đựợc biết đến từ hàng ngàn năm, nhưng phải tới thê kỷ thứ II sau công nguyên bệnh đau nửa đầu mới được Arétée de Capodoce đặt cho một tên riêng là “đau đầu dị thường” (heterocrania). Sau đó, danh từ riêng này còn được thay đổi nhiều lần qua các thời kỳ như “đau nửa đầu” (hemicrạnia; hemigrania) hoặc Migranea. Tên gọi Migraine (Migraine) được các tác giả Pháp đặt từ thế kỷ thứ XIV và được sử dụng cho tới nay. Cùng thời gian trên loài người cũng đã tìm thấy nhiều bài thuốc chữa trị các chứng đau đầu khác nhau.

Cho tới nay nền khoa học tiên tiến trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chứng bệnh này, tuy nhiên, đau đầu vẫn luôn là sự thách thức với nền y học hiện đại, là nỗi đau đớn và trăn trở của mọi người.

Phân loại đau đầu

Cho tới nay Hội Đau đầu qụốc tế (international Headache Society) đã công bố 3 bảng phân loại đau đầu, Bảng phân loại lần 1 năm 1988; lần 2 năm 2004 và lần 3 với phiên bản 3 beta năm 2013 thay cho các bảng phân loại trước đó.

Bảng phân loại lần thứ 2 và 3 chia đaụ đầu thành 14 nhóm khác nhau với hàng trăm loại đau đầu. Trong phần phụ lục các loại đau đầu được tiêu chuẩn hoá về phương diện chẩn đoán.

Các bảng tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể này đã giúp ích cho các nhà lâm sàng và các nhà nghiên cứu một phương tiện thống nhất trên toàn thế giới.

Chúng tôi xin trích dẫn ở dạng ngắn gọn Bảng phân loại đau đầu lần thứ 3 (phiên bản 3 beta) của IHS (xem phần phụ lục).

TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN MIGRAINE

Migraine không có triệu chứng thoáng báo

Các thuật ngữ sử dụng trước đây: Migraine (MG) thường, đau nửa đầu giản đơn.

Mô tả

Bệnh lý đau đầu tái diễn thành cơn kéo dài 4 – 72 giờ. Các triệu chứng điển hình là: đau một bên đầu, có tính chất mạch đập, cường độ đau từ vừa đến nặng, đau tăng lên bởi các hoạt động thể chất thường nhật và đi kèm với buồn nôn và/hoặc sợ ánh sáng và tiếng động.

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Ít nhất có năm cơn đáp ứng tiêu chuẩn B – D

Cơn kéo dài 4 – 72 giờ (không được điều trị hoặc điều trị thất bại),

Đau đầu cỏ ít nhất hai trong số bốn đặc điểm sau:

  • Đau một bên.
  • Tính chất mạch đập.
  • Cường độ đau vừa hoặc nặng.
  • Đau tăng do/hoặc cản trở hoạt động cơ thể hàng ngày (đi bộ, leo cầu thang).

Trong cơn có ít nhất một trong các triệu chứng:

  • Buồn nôn và/hoặc nôn.
  • Sợ ánh sáng và sợ tiếng động.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bằng một chẩn đoán khác trong ICHD – 3.

Ghi chú

Một hoặc vài cơn MG có thể khó để phân biệt với các cơn đau đầu giống MG triệu chứng. Hơn nữa, khó để hiểu rõ bản chất của đau đầu nếu chỉ có một hoặc một vài cơn. Vì vậy, cần ít nhất 5 cơn để chẩn đoán. Các bệnh nhân khác đáp ứng tiêu chuẩn 1.1 MG không có aura nhưng có ít hơn năm cơn, phải được mã số là 1.5.1 nghị MG không có triệu chứng thoáng báo.

Khi bệnh nhân ngủ thiếp đi trong cơn MG và thức dậy mà không còn đau đầu, thời gian của cơn được tính từ lúc bị đau đầu cho đến thời điểm bệnh nhân tỉnh dậy.

Ở trẻ em và vị thành niên (dưới 18 tuổi), cơn đau có thể kéo dài 2 – 72 giờ (bằng chứng cho thời gian kéo dài cơn đau ít hơn 2 giờ ở trẻ em không được điều trị chưa được chứng minh).

Migraine có triệu chứng thoáng báo

Các thuật ngữ được sử dụng trước đây: MG cổ điển, MG mắt, Migraine dị cảm nửa người, Migraine liệt nửa người hoặc Migraine rối loạn ngôn ngữ, Migraine kèm theo (accompagne), Migraine phức tạp.

  • Mô tả: các cơn tái diễn, kéo dài trong vòng 1 giờ; có các triệu chứng rối loạn thị giác, cảm giác hoặc các triệu chứng thần kinh trung ương khác ở 1 bên và phục hồi hoàn toàn, thường là tiến triển từ từ và theo sau bởi đau đầu và các triệu chứng của cơn
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất có hai cơn đáp ứng tiêu chuẩn B và c.

Có một hoặc nhiều hơn các triệu chứng thoáng báo hồi phục hoàn toàn sau đây:

  • Thị giác.
  • Cảm giác.
  • Lời nói và/hoặc ngôn ngữ.
  • Vận động.
  • Cuống não.
  • Võng mạc.

Có ít nhất hai trong số bốn đặc điểm sau đây:

  • Ít nhất một triệu chứng thoáng báo tiến triển dần trong thời gian > 5 phút và/hoặc hai hay nhiều triệu chứng xảy ra liên tiếp.
  • Mỗi triệu chứng thoáng báo kéo dài 5 – 60 phút.
  • Ít nhất một triệu chứng thoáng báo là ở một bên.
  • Thoáng báo đi kèm hoặc xuất hiện trong vòng 1 giờ trước khi có đau đầu.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác, và đã loại trừ cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua.

  • Ghi chú
  • Khi (ví dụ như) ba triệu chứng xảy ra trong suốt một thoáng báo, thời gian cho phép tối đa là 3 – 60 phút. Các triệu chứng vận động có thể kéo dài đến 72 giờ.
  • Mất ngôn ngữ luôn luôn được xem là triệu chứng một bên; loạn vận ngôn có thể xem là triệu chứng một bên hoặc không.

Migraine có triệu chứng thoáng báo điển hình

  • Mô tả: Migraine có triệu chứng thoáng báo, trong đó triệu chứng thoáng báo bao gồm các triệu chứng thị giác và/hoặc cảm giác và/hoặc nói/ngôn ngữ, nhưng không có yếu cơ, và được đặc trưng bởi sự tiến triển dần dần, thời gian của mỗi triệu chứng không kéo dài quá 1 giờ, một kết hợp của các triệu chứng dương tính và âm tính, hồi phục hoàn toàn.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất hai cơn đáp ứng các tiêu chuẩn B và c

Triệu chứng thoáng báo bao gồm các triệu chứng thị giác, cảm giác và/hoặc nói/ngôn ngữ, đều phục hồi hoàn toàn. Nhưng không cỏ các triệu chứng vận động, cuống não hoặc võng mạc.

Có ít nhất hai trong số bốn đặc điểm sau đây:

  • Ít nhất một triệu chứng thoáng báo tiến triển dần trong thời gian > 5 phút, và/hoặc hai hay nhiều triệu chứng xuất hiện liên tiếp.
  • Mỗi triệu chứng thoáng báo kéo dài 5-60 phút.
  • Ít nhất có một triệu chứng thoáng báo là ở một bên.
  • Thoáng báo đó đi kèm, hoặc xuất hiện trong vòng 60 phút trước khi có đau đầu.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua và đột qụy não đã được loại trừ.

  • Ghi chú:

+ Khi (ví dụ như) ba triệu chứng xảy ra trong suốt một thoáng báo, thời gian cho phép tối đa

là 3 – 60 phút.

+ Mất ngôn ngữ luôn luôn được xem là triệu chứng một bên; loạn vận ngôn có thể là triệu chứng một bên hoặc không.

Triệu chứng thoáng báo điển hình đi kèm với đau đầu

  • Mô tả: Migraine có triệu chứng thoáng báo điển hình trong đó triệu chứng thoáng báo xuất hiện cùng với đau đầu hoặc trong vòng 60 phút trước khi xuất hiện đau đầu có hoặc không kèm theo các tính chất của Migraine.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn của Migraine có triệu chứng thoáng báo điển hình.

Đau đầu, có hoặc không kèm theo các tính chất của Migraine, xuất hiện cùng hoặc theo sau triệu chứng thoáng báo trong vòng 60 phút.

  • Triệu chứng thoáng báo điển hình không đi kèm với đau đầu
  • Mô tả: Migraine với triệu chứng thoáng báo điển hình, trong đó triệu chứng thoáng báo không đi kèm cũng như không được theo sau bởi bất kỳ loại đau đầu nào.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng tiêu chuẩn của Migraine có triệu chứng thoáng báo điển hình

Không có đau đầu đi kèm hoặc theo sau triệu chứng thoáng báo trong vòng 60 phút.

Migraine có triệu chứng thoáng báo cuống não

Các thuật ngữ thường dùng trước đây: Migraine động mạch nền, Migraine nền, Migraine typ nền.

  • Mô tả: Migrạine có các triệu chứng thoáng báo có nguồn gốc từ cuống não rõ ràng, nhưng không cỏ yếu vận động.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Có ít nhất hai cơn đáp ứng các tiêu chuẩn B – D.

Triệu chứng thoáng báo bao gồm các triệu chứng thị giác, cảm giác và/hoặc nói/ngôn ngữ, mỗi triệu chứng đều phục hồi hoàn toàn, nhưng không có triệu chứng vận động hoặc võng mạc.

Có ít nhất hai trong số các triệu chứng thuộc cuống não sau đây:

  • Loạn vận ngôn.
  • Chóng mặt.
  • Ù tai.
  • Giảm thính lực.
  • Song thị.
  • Thất điều.
  • Giảm mức độ nhận thức.

Có ít nhất hai trong số bốn đặc điểm sau đây:

  • Ít nhất một triệu chứng thoáng báo tiến triển dần trong thời gian > 5 phút và/hoặc hai hay nhiều triệu chứng hơn xuất hiện liên tiếp.
  • Mỗi triệu chứng thoáng báo kéo dài 5-60 phút.
  • ít nhất một triệu chứng thoáng báo là ở một bên.
  • Triệu chứng thoáng báo đi kèm, hoặc có trước đau đầu trong vòng 60 phút.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác và cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua đã được loại trừ.

Ghi chú

  • Khi các triệu chứng vận động có mặt, mã số như 2.2 Migraine liệt nửa người.
  • Khi ví dụ như ba triệu chứng xuất hiện khi có thoáng báo, thời gian tối đa có thể chấp nhận là 3 – 60 phút.
  • Mất ngôn ngữ luôn được xem như một triệu chứng một bên; loạn vận ngôn có thể được xem là triệu chứng một bên hoặc không.

Migraine liệt nửa người

  • Mô tả: Migraine có triệu chứng thoáng báo, bao gồm cả yếu vận động.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Có ít nhất hai cơn đáp ứng các tiêu chuẩn B và

Triệu chứng thoáng báo bao gồm cả hai tiêu chuẩn sau đây:

  • Yếu vận động phục hồi hoàn toàn.
  • Các triệu chứng thị giác, cảm giác và/hoặc nói/triệu chứng ngôn ngữ phục hồi hoàn toàn, c. Có ít nhất hai trong số bốn đặc điểm sau đây:
  • ít nhất một triệu chứng thoáng báo tiến triển dần trong vòng > 5 phút và/hoặc hai hay nhiều triệu chứng hơn xảy ra liên tiếp .
  • Mỗi triệu chứng thoáng báo riêng không có vận động kéo dài 5 – 60 phút, và các triệu chứng vận động kéo dài < 72 giờ.
  • Ít nhất một triệu chứng thoáng báo là ở một bên.
  • Triệu chứng thoáng báo đi kèm, hoặc có trước đau đầu trong vòng 60 phút.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua và đột qụy não đã được loại trừ.

  • Ghi chú:
  • Thuật ngữ “plegic” có nghĩa là liệt trong hầu hết các ngôn ngữ, nhưng hầu hết các cơn được đặc trưng bởi yếu cơ.
  • Ở một số bệnh nhân, yếu cơ có thể kéo dài vài tuần.
  • Mất ngôn ngữ luôn luôn được xem như triệu chứng một bên, loạn vận ngôn có thể là triệu chứng một bên hoặc không.

Migraine bán liệt gia đình (FHM)

  • Mô tả: Migraine có triệu chứng thoáng báo bao gồm yếu cơ và có ít nhất một người nhà quan hệ huyết thống cấp 1 hoặc 2 có Migraine có triệu chứng thoáng báo bao gồm yếu cơ.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn 2.2 Migraine liệt nửa người.

Có ít nhất một người nhà quan hệ huyết thống cấp 1 hoặc 2 có các cơn đáp ứng các tiêu chuẩn 2.2 Migraine liệt nửa người.

Migraine bán liệt gia đình typ 1 (FHM1)

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn 2.3 Migraine bán liệt gia đình.

Đột biến gây bệnh trên gien CACNA1A đã được chứng minh.

Migraine bán liệt gia đình typ 2 (FHM2)

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn 2.3. Migraine bán liệt gia đình.

Đột biến gây bệnh trên gien ATP1A2 đã được chứng minh.

Migraine bán liệt gia đình typ 3 (FHM3)

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn 2.3. Migraine bán liệt gia đình.

Đột biến gây bệnh trên gien SCN1A đã được chứng minh.

Migraine bán liệt gia đình, các locus khác Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn 2.3. Migraine bán liệt gia đình.

Thử nghiệm di truyền đã chửng minh không có đột biến trên các gien CACNA1A, ATP1A2 hoặc SCN1A.

Migraine liệt nửa người tản phát

  • Mô tả: Migraine có triệu chứng thoáng báo bao gồm yếu cơ và không có người nhà quan hệ huyết thống cấp 1 hoặc 2 có Migraine có triệu chứng thoáng báo có yếu cơ.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đáp ứng các tiêu chuẩn 2.2. Migraine liệt nửa người.

Không có người nhà quan hệ huyết thống cấp 1 hoặc 2 đáp ứng các tiêu chuẩn Migraine liệt nửa người.

Migraine võng mạc

  • Mô tả: các cơn lặp đi lặp lại của rối loạn thị giác một bên mắt, bao gồm sự phát sáng (cảm giác như thấy tia sáng), ám điểm (điểm tối) hoặc mù, đi kèm với đau đầu Migraine.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất hai cơn đáp ứng các tiêu chuẩn B và c.

Triệu chứng thoáng báo bao gồm các hiện tượng thị giác dương tính và/hoặc âm tính ở một bên mắt phục hồi hoàn toàn (ví dụ nhấp nháy, ám điểm hoặc mù) được xác định trong một cơn bởi một hoặc cả hai điều sau đây:

  • Khám lâm sàng thị trường.
  • Bản vẽ của bệnh nhân (được thực hiện sau khi hướng dẫn rõ ràng) về một khiếm khuyết thị trường ở một bên mắt.

Có ít nhất hai trong ba đặc điểm sau đây..

  • Triệu chứng thoáng báo tiến triển dần trong vòng > 5 phút.
  • Các triệu chứng thoáng báo kéo dài 5-60 phút.
  • Các triệu chứng thoáng báo đi kèm, hoặc có trước đau đầu trong vòng 60 phút.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác và các nguyên nhân khác của mù thoáng qua đã được loại trừ.

Migraine mạn tính

  • Mô tả: đau đầu xảy ra > 15 ngày mỗi tháng và kéo dài hơn 3 tháng, trong đó có bệnh cảnh của đau đầu Migraine ít nhất 8 ngày trong một tháng.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Đau đầu (giống đau đầu typ căng thẳng và/hoặc giống đau đầu Migraine ) xảy ra 2 15 ngày môi tháng, kéo dài hơn 3 tháng và đáp ứng các tiêu chuẩn B và

Xảy ra trên một bệnh nhân đã có ít nhất năm cơn đáp ứng các tiêu chuẩn B – D cho 1. Migraine không có triệu chứng thoáng báo và/hoặc các tiêu chuẩn B và c cho 2 Migraine có triệu chửng thoáng báo.

Trong 8 ngày mỗi tháng kéo dài > 3 tháng, đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào sau đây:

  • Tiêu chuẩn c và D cho 1. Migraine không có triệu chứng thoáng báo.
  • Tiêu chuẩn B và c cho 2. Migraine có triệu chứng thoáng báo.
  • Tin tưởng rằng khởi phát của bệnh nhân là đau đầu Migraine và được thuyên giảm bởi triptan hoặc các dẫn xuất của ergotamin.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác.

Biến chứng của Migraine

  • Trạng thái Migraine
  • Mô tả: một cơn Migraine gây suy nhược kéo dài hơn 72 giờ.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Một cơn đau đầu đáp ứng các tiêu chuẩn B và

Xảy ra ở bệnh nhân có 1. Migraine không có triệu chứng thoáng báo và/hoặc 2. Migraine có triệu chứng thoáng báo, có các đặc điểm điển hình của các cơn trước đó, ngoại trừ thời gian kéo dài cơn và mức độ nặng của nó.

Có cả hai đặc điểm sau đây:

  • Không thuyên giảm trong khoảng thời gian > 72 giờ.
  • Đau và/hoặc các triệu chứng kèm theo làm bệnh nhân suy nhược.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác.

Ghi chú:

  • Thuyên giảm sau 12 giờ do thuốc hoặc ngủ được chấp nhận.
  • Trường hợp nhẹ, không đáp ứng tiêu chuẩn C2, được mã là nghi ngờ Migraine không có triệu chứng thoáng báo.

Triệu chứng thoáng báo dai dăng không có nhồi máu

  • Mô tả: các triệu chứng thoáng báo tồn tại 21 tuần mà không có bằng chứng của nhồi máu trên chẩn đoán hình ảnh thần kinh.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Triệu chứng thoáng báo đáp ứng tiêu chuẩn B.

Xảy ra ở một bệnh nhân có 2. Migraine có triệu chứng thoáng báo, điển hình nhự các triệu chứng thoáng báo trước đây, ngoại trừ đặc điểm là có >1 triệu chứng thoáng báo tôn tại >1 tuần.

Chẩn đoán hình ảnh não không cho thấy bằng chứng nhồi máu não.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác.

Nhồi máu Migraine

  • Định nghĩa: một hoặc nhiều triệu chứng thoáng báo đi kèm với một tổn thương não định khu phù hợp được chứng minh bằng chẩn đoán hình ảnh thần kinh.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Một cơn Migraine đáp ứng tiêu chuẩn B và

Xảy ra ở một bệnh nhân có 2.1 Migraine có triệu chứng thoáng báo điển hình như các triệu chứng thoáng báo trước đây, ngoại trừ đặc điểm là có >1 triệu chứng thoáng báo tồn tại > 60 phút.

Chẩn đoán hình ảnh não cho thấy có tổn thương nhồi máu não ở một vùng tương ứng. D. Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán khác.

Co giật do Migraine

  • Mô tả: một cơn co giật gây ra bởi một cơn Migraine có triệu chứng thoáng báo.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Một cơn co giật đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của một loại cơn động kinh và tiêu chuẩn B dưới đây:

Xảy ra ở một bệnh nhân có 2 Migraine có triệu chứng thoáng báo, xảy ra trong khi có thoáng báo hoặc trong vòng 1 giờ sau khi có thoáng báo.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán khác.

Theo dõi Migraỉne

Thuật ngữ được dùng trước đây: rối loạn Mlgraine.

  • Mô tả: các cơn Migraine like không có một trong các triệu chứng để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một dưới typ của Migraine được mã số ở trên và không đáp ứng tiêu chuẩn của bệnh lý đau đầu khác.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:
  1. Các cơn đáp ứng đầy đủ tất cả những thiếu một trong các tiêu chuẩn A – D của 1. Migraine không có triệu chứng thoáng báo hoặc đáp ứng đầy đủ nhưng thiếu một trong các tiêu chuẩn A – c cua 2. Migraine có triệu chứng thoáng báo.
  2. Không đáp ứng các tiêu chuẩn ICHD – 3 của bất kỳ bệnh lý đau đầu nào khác, Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác.

Theo dõi Migraine không có triệu chứng thoáng báo

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Các cơn đáp ứng đầy đủ tất cả nhưng thiếu một trong các tiêu chuẩn A – D của 1. Migraine không có triệu chứng thoáng báo.

Không đáp ứng các tiêu chuẩn ICHD – 3 của bất kỳ bệnh lý đau đầu nào khác.

Không được giải thích thỏa đáng hơn bởi một chẩn đoán ICHD – 3 khác.

Theo dõi Migraine không có triệu chứng thoáng báo

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Các cơn đáp ứng đầy đủ tất cả những thiếu một trong các tiêu chuẩn A – c của 1. Migraine không có triệu chứng thoáng báo.

Không đáp ứng các tiêu chuẩn ICHD – 3 của bất kỳ bệnh lý đau đầu nào khác, Không được giải thích thỏa đáng hơn bời một chẩn đoán ICHD – 3 khác.

Các hội chứng chu kỳ khác có thể liên quan đến Migraine

Thuật ngữ dùng trước đây: các hội chứng chu kỳ thời thơ ấu.

Rối loạn dạ dày – ruột tái diễn

  • Thuật ngữ dùng trước đây: đau bụng mạn tính, đau bụng chức năng, đầy bụng chức năng, hội chứng kích thích ruột, hội chứng đau bụng chức năng.
  • Mô tả: các cơn đau bụng và/hoặc khó chịu, buồn nôn và/hoặc nôn, xảy ra không thường xuyên, mạn tính hoặc ở những khoảng thời gian định kỳ, mà có thể là kết hợp với
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất 5 cơn với chu kỳ rõ rệt của đau bụng và/hoặc khó chịu, buồn nôn và/hoặc nôn.

Tình trạng dạ dày ruột qua khám xét và đánh giá là bình thường, Không do bệnh lý khác.

Hội chứng nôn chu kỳ

  • Mô tả: các cơn có chu kỳ tái diễn của buồn nôn và nôn dữ dội, thường là giống nhau như đúc ở mỗi bệnh nhân và có thể dự đoán được thời gian của chu kỳ. Các cơn có thể đi kèm với vẻ xanh xao và ngủ lịm. Giữa các cơn triệu chứng mất hoàn toàn.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất 5 cơn buồn nôn và nôn dữ dội đáp ứng các tiêu chuẩn B và

Giống hệt nhau ở mỗi cá thể và tái diễn với tính chu kỳ có thể dự đoán, Đáp ứng tất cả các đặc điểm sau:

(1 ) Buồn nôn và nôn xảy ra ít nhất 4 lần trong 1 giờ.

  • Các cơn kéo dài từ 1 giờ đến 10 ngày.
  • Các cơn xảy ra cách nhau 1 tuần.

Giữa các cơn bệnh nhân hoàn toàn bình thường.

Không do các bệnh lý khác.

  • Ghi chú: cụ thể, bệnh sử và thăm khám lâm sàng không cho thấy biểu hiện của bệnh lý dạ dày – ruột.

Migraine thể bụng

  • Mô tả: một rối loạn vô căn ghi nhận được chủ yếu ở trẻ em là các cơn tái diễn của đau bụng mức độ vừa đến nặng, kèm theo các triệu chứng vận mạch, buồn nôn và nôn, kéo dài 2 – 72 giờ và bình thường giữa các chu kỳ. Đau đầu không xảy ra trong những giai đoạn này.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất 5 cơn đau bụng đáp ứng tiêu chuẩn B – D.

Đau bụng có ít nhất 2 trong 3 đặc điểm sau:

  • Khu trú, đường giữa, quanh rốn hoặc không rõ.
  • Đau âm ỉ hoặc chỉ có cảm giác rát (just sore).
  • Cường độ vừa hoặc nặng.

Cơn đau bụng có ít nhất hai trong số các biểu hiện sau:

  • Biếng ăn.
  • Buồn nôn.
  • Nôn.
  • Da tái.

Cơn kéo dài 2-72 giờ nếu không được điều trị hoặc điều trị thất bại

Giữa các cơn triệu chứng mất hoàn toàn

Không do bệnh lý khác

  • Ghi chú: cụ thể, bệnh sử và thăm khám lâm sàng không chỉ ra dấu hiệu của bệnh lý dạ dày – ruột và thận hoặc bệnh lý đó đã được loại trừ bằng các khám xét thỏa đáng.

Chóng mặt lành tính kịch phát

  • Mô tả: một bệnh lý có đặc điểm là những cơn chóng mặt ngắn tái diễn, xảy ra không báo trước và tự hết, ờ những trẻ khỏe mạnh khác.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Ít nhất năm cơn đáp ứng tiêu chuẩn B và

Chóng mặt xuất hiện không báo trước, đạt mức độ tối đa ngay từ đầu và tự hết sau vài phút đến vài giờ mà không kèm theo mất ý thức.

Ít nhất một trong số các triệu chứng hoặc dấu hiệu kết hợp sau:

  • Rung giật nhãn cầu (nystagmus).
  • Thất điều.
  • Nôn.
  • Xanh tái.
  • Sợ hãi.

Thăm khám thần kinh và các chức năng thính lực, tiền đình bình thường giữa các cơn.

Không do bệnh lý khác.

  • Ghi chú: trẻ nhỏ có thể không tự mô tả được triệu chứng chóng mặt. Quan sát của bố mẹ thấy các giai đoạn có chu kỳ trẻ đi loạng choạng có thể được xem là chóng mặt ở trẻ nhỏ.

Cơn vẹo cổ kịch phát lành tính

  • Mô tả: các giai đoạn tái diễn của đầu nghiêng sang một bên, có lẽ kèm theo quay nhẹ và tự hết. Tình trạng này thường xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, với khởi phát trong năm đầu đời đầu tiên.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Cơn tái diễn ờ trẻ nhỏ, đáp ứng tiêu chuẩn B và

Vẹo đầu về một bên, kèm theo hoặc không kèm theo quay đầu nhẹ, tự hết sau vài phút đến vài ngày.

Ít nhất một trong các triệu chứng hoặc dấu hiệu kết hợp sau:

  • Xanh tái.
  • Cáu kỉnh.
  • Khó ờ, suy nhược? (malaise).
  • Nôn.
  • Thất điều.

Khám xét thần kinh thấy bình thường giữa các cơn.

Không do bệnh lý khác.

  • Ghi chú:
  • Cơn có xu hướng tái diễn hàng tháng.
  • Thất điều hay gặp hơn ở trẻ lớn hơn trong số các trẻ ở độ tuổi mắc bệnh.

Dịch tễ

Đau đầu là một trong những triệu chứng có tỷ lệ cao nhất của nhiều loại bệnh khác nhau. Người ta ước tính, trên thế giới, cứ 3 người thì có một người bị đau đầu dữ dội vào một lúc nào đó trong cuộc đời. Theo Ramusen và cs (1991) các công dân Đan Mạch trong lứa tuổi từ 25 – 64 có 93% nam và 99% nữ mắc ít nhất một chứng đau đầu.

Theo thống kê của Phòng Khám bệnh (Bệnh viện 103), thì có tới 50% bệnh nhân tới khám có triệu chứng đau đầu.

Trong các chứng đau đầu thường gặp hàng ngày thì Migraine có tỷ lệ cao nhất. Đa số tác giả cho rằng khoảng 5 -10% dân số thế giới, 10-11% nam giới và khoảng 12 -19% phụ nữ mắc bệnh MG, tỷ lệ giới tính nam/nữ « 1/3, lứa tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là 15 – 30 tuổi.

BỆNH CĂN, BỆNH SINH

Đối với đau đầu triệu chứng

Tất cả các cấu trúc cảm giác của hệ thần kinh trong hoặc ngoài sọ đều có thể sinh đau khi bị kích thích. Nguyên nhân các kích thích có thể là những quá trình viêm nhiễm, sự xâm lấn của khối u, thiếu máu, các quá trình bệnh lý gây xoắn vặn, dãn căng hoặc phù nề quanh các mạch máu v.v… Cơ chế sinh đau của các thương tổn thực thể nêu trên thường qua 2 con đường: hoặc là chúng kích thích cơ học lên các thụ cảm thể đau (như làm căng dãn hoặc xoắn vặn các mạch máu cũng như các tổ chức mang thụ cảm thể đau khác), hoặc chúng sinh ra các chất trung gian hoá học (chất p, serotonin, kinin, prostaglandin…), các chất này tác động lên các thụ cảm thể đau và gây diễn biến đau trên lâm sàng.

Đối với bệnh Migraine

Bệnh căn: ngay từ những năm 60 (thế kỷ XX) thông qua những quan sát thực tế, nhiều tác giả đã cho rằng bệnh MG có tính chất gia đình. Dần dần nguồn gốc di truyền của Migraine ngày càng được khẳng định. Ngày nay người ta đã chửng minh được rằng 1 trong các thể Migraine (Migraine liệt nửa người) có gien di truyền nằm ở tay ngắn của cặp nhiễm sắc thể thứ 19. Gần đây nhiều tác giả nhận xét rằng Migraine nằm trong phổ lâm sàng của nhóm bệnh có tên “bệnh động mạch não di truyền trội theo nhiễm sắc thể thường với nhồi máu dưới vỏ và bệnh não chất trẩng” (cerebral autosomal dominant arteriopathy with subcortlcal infarcts and leucoencephalopathy = CADASIL). Qua đó ta thấy, đa số tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh Migraine là thay đổi bộ gien di truyền của các bệnh nhân.

  • Bệnh sinh: ngày nay có 3 thuyết về bệnh sinh của Migraine

+ Thuyết mạch máu – thể dịch (vascular hypothese) do Wolff để xướng năm 1963.

+ Thuyết neuron thần kinh (neuronal hypothese) của Lauritzen năm 1986.

+ Thuyết dây V – mạch (trigémino – vascular patho – genese) của Moskowitz năm 1988 (kết hợp 2 thuyết trên).

Thuyết mạch máu – thế dịch

Thuyết này được Graham và Wolff (1937), sau đó là Wolff và cộng sự khái quát như sau: “Cơn Migraine do cả 2 quá trình co và dãn mạch gây nên, đó là 2 pha nối tiếp nhau”.

  • Pha co mạch: xảy ra ở đầu cơn. Trong giai đoạn này serotonin được giải phóng ồ ạt từ các tiểu cầu gây co mạch của vỏ não và các tổ chức ngoài sọ. Hiện tượng này không gây đau đầu mà gây các triệu chứng khu trú thoảng qua trên lâm sàng; đồng thời serotonin làm tăng tính thấm thành mạch, tạo điều kiện cho các plasmakinin thoát ra ngoài gây mẫn cảm các thụ cảm thể đau quanh mạch. Tổ chức quanh mạch bị phù nề, viêm vô khuẩn, sau đó serotonin bị phân huỷ bởi các men monoaminooxydase. Sự phân huỷ serotonin kể trên làm cho nồng độ serotonin trong máu giảm đột ngột dẫn tới mất trương lực thành mạch và gây nên pha thứ 2.
  • Pha dãn mạch: trong pha này các động mạch, tiểu động mạch, tĩnh mạch, tiểu tĩnh mạch (đặc biệt ở vùng động mạch thái dương, động mạch chẩm và động mạch màng não giữa) bị dãn, biên độ mạch của các động mạch đó tăng, dẫn đến triệu chứng đau đầu trên lâm sàng.

Hiện tượng này còn liên quan đến quá trình mở bất thường các shunt động – tĩnh mạch trong tuần hoàn sọ não.

Thuyết neuron thần kinh

Các tác giả đại diện cho thuyết này (Jackson và Gowers ở Anh quốc) cho rằng giả thuyết mạch máu – thể dịch không phản ánh thoả mãn sự phát triển tuần tự của các triệu chứng aura trong cơn Migraine. Các tác giả cho rằng chỉ có những rối loạn đầu tiên và trước hết của bản thân tổ chức não mới phản ánh hợp lý quá trình đó. Thuyết này có căn cứ khoá học sau:

  • Thứ nhất là quan sát của Lashley (1941): tác giả đã đo được tốc độ lan rộng của bờ ám điểm thị giác trong cơn Migraine của chính mình và giả thiết rằng: “ở vùng vỏ não thị giác tương ứng với vùng ngoại vi của ám điểm có một kích thích thần kinh lan rộng với tốc độ 3mm/phút và theo sau nó là một quá trình ức chế”.

Sau đó, Laẽo (người Braxin) đã nghiên cứu trên thực nghiệm và mô tả cái gọi là “ức chế vỏ não lan rộng” (cortical spreading depression = CSD).

  • Thứ 2 là những kết quả nghiên cứu của Olsen và cộng sự ở Koppenhagen (1988): bằng phương pháp SPECT (single photon emission tomography) các tác giả đã đo dòng máu vỏ não khu vực (regional cerebral blood flow = rCBF) ờ các bệnh nhân Migraine cổ điển và thấy ở giai đoạn ngoài cơn dòng máu vỏ não khu vực không thay đổi. Trong cơn, rCBF giảm khu trú ở một vùng nhỏ của vỏ não (thường là não sau). Từ đây hiện tượng giảm dòng máu vỏ não khu vực này lan rộng ra trước với tốc độ hằng định 2 – 3mm/phút theo kiểu đồng tâm và không phụ thuộc vào các vùng phân bố của các động mạch não. Hiện tượng này không xảy ra ờ cơn Migraine thông thường.
  • Từ các cứ liệu trên Lauritzen cho rằng cơn Migraine cổ điển được khởi đầu bằng CSD xuất phát từ khu vực sau của vỏ não, sau đó lan tới rãnh trung tâm và rãnh Sylvius. Khi đạt tới hồi sau trung tâm, trên lâm sàng sẽ thấy các triệu chứng về cảm giác, ở mặt bụng của não CSD ảnh hưởng tới các sợi cảm giác đau và gây nên đau đầu.

Thuyết dây V- mạch máu (trigémino – vascularpatho – genese)

Cơ sở của thuyết này là dựa vào sự phát hiện sự xuất chiếu của dây V cảm giác lên các động mạch vòng Willis cũng như các động mạch màng cứng bởi Mạyberg. Khi hạch Gasser bị thương tổn thì thành mạch mất đi một lựợng nhất p đáng kể. Chất này làm tăng tính thấm thành mạch, gây dãn mạch… Theo thuyết này cơn Migraine xuất hiện là do những sự kiện chuyển hoá hoặc sinh lý thần kinh ở vỏ não hoặc ở các khu vực gần dây V.

Trong thực tế, cơ chế bệnh sinh của cơn Migraine vẫn còn đang được bàn luận nhưng thiên hướng chung là đa số các tác giả ủng hộ thuyết dây V – mạch máu của Moskowitz.

LÂM SÀNG

Khai thác bệnh sử

Sahs nói: “ Nếu anh có 30 phút dành cho 1 bệnh nhân đau đầu thì hãy dành 29 phút để hỏi bệnh và 1 phút để khám bệnh”.

Thật vậy, việc khại thác bệnh sử của bệnh nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chẩn đoán các chứng đau đầu. Trong phần khai thác bệnh sử cần tập trung làm rõ các điểm sau:

  • Các loại đau đầu của một bệnh nhân: cùng một lúc 1 bệnh nhân có thể có nhiều loại đau đầu khác nhau (nhự đau đầu do viêm xoang, do tăng huyết áp, do các dây thần kinh ngoại vi vùng sọ mặt, đau đâu Migraine…). Cân lưu ý rằng những bệnh nhân có đau đầu mạn tính có thể tự phân biệt được các loại đau đầu khác nhau của họ. Người thầy thuốc cần khai thác để xác định chứng đau đầu nào của bệnh nhân đang chiếm ưu thế và cần được ưu tiên điều trị trước.
  • Cách khởi phát: thông thường mỗi loại đau đầu có một cách khởi phát tương đối đặc trưng. Ví dụ:

+ Kịch phát, đột ngột: có thể do chảy máu nội sọ.

+ Đột ngột, dữ dội, phụ thuộc vào tư thế: thường do u não thất.

+ Cường độ tiến triển tăng dần trong một thời gian dài: thường do khối phát triển nội sọ.

+ Đau đầu tái diễn, thành cơn, khởi phát ở tuổi thiếu niên và người trẻ thường do MG.

+ Những loại đau đầu tái diễn và kéo dài trong nhiều năm thường là lành tính.

+ Đau đầu typ Tensión thường là mạn tính v.v…

  • Vị trí đau: vị trí đau đầu của bệnh nhân cần được xác định rõ ràng. Nó có vai trò tương đối quan trọng trong việc xác định nguyên nhân. Ví dụ:

+ Đau 1 bên thay đổi thường là Migraine. Migralne có thể khu trú mọi vị trí trên sọ mặt nhưng thường ở vùng thái dương.

+ Đau 1 bên hốc mắt cố định, thời gian của cơn ngắn thường là đau đầu Cluster.

+ Đau đầu do răng – mắt – xoang: thường khu trú ở vùng trán, cũng có thể đau vùng chẩm – gáy.

+ Adenom tuyến yên thường đau 2 bên thái dương.

+ u hố sau giai đoạn sớm thường đau ở vùng chẩm.

+ u trên lều: đau ở trán – đỉnh, nếu màng cứng và xương sọ bị thương tổn theo thì đau khu trú trên vùng tổn thương.

+ ổ máu tụ dưới màng cứng: đau tiến triển nặng lên rất nhanh ở ngay trên vị trí hoặc bên cạnh ổ máu tụ.

+ Đau đầu Tension: khu trú 1 hoặc 2 bên, đau nhất vùng cổ vai và chẩm, cũng có khi đau cả vùng trán.

+ Đau đầu do suy nhược thần kinh thường lan toả.

+ Đau các dây thần kinh vùng sọ mặt: thường đau tăng, đau chói khi ấn các điểm xuất chiếu các dây thần kinh tương ứng v.v…

  • Tần số và chu kỳ của đau đầu tái diễn:

+ Cơn Migraine: không đau hàng ngày hoặc tồn tại lâu dài. Tần số thường từ 1 – 2 cơn/tuần, nếu bệnh nhân có hơn 8 cơn/tháng thì nên thận trọng khi chẩn đoán là Migraine vì tần số cơn Migraine không nhiều như vậy.

+ Đau đầu Cluster: xảy ra hàng ngày và kéo dài hàng tuần hoặc vài tháng, sau đó là thời gian ổn định tương đối dài. Tuy nhiên, đau đầu Cluster mạn có thể kéo dài hàng năm.

+ Chứng đau nửa đầu thành cơn mạn tính: thường xảy ra nhiều lần trong ngày và kéo dài hàng năm.

  • Thời gian kéo dài của cơn:

+ Bệnh MG chỉ có cơn kéo dài từ 4 – 72 giờ, thường đạt cường độ đau dữ dội sau khi khởi phát 1 – 2 giờ.

+ Đau đầu Cluster: cơn kéo dài 20 – 60 phút, đặc trưng của chứng đau này là đạt cường độ cực đại ngay lập tức.

+ Đau đầu Tension: cơn đau tăng trong vài giờ, cường độ ít khi dữ dội nhưng cơn thường tồn tại lâu ngày, có khi hàng năm.

+ Cũng có bệnh nhân có đau đầu hỗn hợp (mixed or tension – vascular headache), khi đó thời gian cơn đau sẽ thay đổi.

+ Trong chảy máu nội sọ: đau đầu đạt cực đại ngay lập tức và tồn tại thường xuyên liên tục trong thời gian tương đối dài.

+ Đau dây TK chẩm và dây TK số V: đau thành các cơn ngắn, cũng có khi đau nhẹ nhưng kéo dài.

  • Thời gian xuất hiện:

+ Đau đầu Cluster: thường xuất hiện khi ngủ và có thiên hướng lặp lại đúng thời gian đó.

+ Migraine: xuất hiện bất kỳ nhưng có thiên hướng xuất hiện vào các buổi sáng.

+ Tăng áp lực nội sọ: đau nhiều khi đêm về sáng, làm bệnh nhân tỉnh dậy, cường độ đau tăng khi đi lại.

+ Đau đầu Tension: thường đau ban ngày và đau tăng về cuối ngày.

  • Các yếu tố gây cơn:

+ Migraine: nhiều bệnh nhân có cơn đau khi thay đổi thời tiết, mất ngủ hoặc ngủ dài (hoặc ngắn) hơn bình thường, khi ăn một số thức ăn nhất định, sau khi uống rượu bia, nhìn ánh sáng chói. Các bệnh nhân nữ thường có cơn đau vào chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng…

+ Bệnh lý nội sọ, đặc biệt bệnh lý hố sau: đau tăng khi cúi, khi ho, khi làm nghiệm pháp Valsava.

+ Giảm dịch não tủy: ngồi, đứng đau nhiều; khi nằm đỡ đau nhanh.

  • Tính chất và cường độ:

+ Đa số các tác giả trên thế giới tính cường độ theo phương pháp analog visual scale (VAS) với thang điểm 10.

+ Migraine: đau với tính chất mạch đập, cường độ vừa đến dữ dội.

+ Đau đầu chuỗi: đau nhức, nặng nề, như khoan, ổn định về cường độ.

+ Đau đầu Tenison: cảm giác căng, chặt, đầy, ép.

+ Đau đầu do màng não: cường độ dữ dội, nặng nề, kéo dài liên miên.

+ Đau dây TK số V và dây IX: ngắn, nặng nề, như dao đâm, rát bỏng.

+ Sốt, tăng HA: tính chất mạch đập v.v…

  • Tiền triệu, các triệu chứng thoảng qua và các triệu chứng kèm theo:

+ Muốn chẩn đoán chính xác đau đầu cần phải kết hợp với các triệu chứng kèm theo cơn

đau.

+ Aura: triệu chứng não khu trú thoảng qua (20 – 30 phút), thường xảy ra trước cơn MG dưới 1 giờ; biểu hiện là những rối loạn vận động, cảm giác, ngôn ngữ, hoặc các triệu chứng thân não (chóng mặt, nói ngọng, thất điều, bại tứ chi, nhìn đôi).

+ Co đồng tử, sụp mi, tăng tiết nước mắt, sung huyết kết mạc, ngạt mũi, nề mặt, quanh hốc mắt, đỏ mặt bên đau là các triệu chứng kèm theo trong cơn đau đầu chuỗi.

+ Sốt: phản ánh trường hợp đau đầu do nhiễm khuẩn.

+ Do tổn thương cấu trúc nội sọ: đau đầu dai dẳng, tiến riển tăng dần.

+ Glaucom và bệnh lý nhãn cầu: thường gây đỏ mắt v.v.

  • Yếu tố tăng đau:

+ Đau tăng khi ho: tổn thương nội sọ, tăng áp lực nội sọ.

+ Vận động tăng đau: bệnh cơ, xương, khớp hoặc bệnh chèn ép các dây thần kinh ngoại vi (cảm giác hoặc hỗn hợp).

+ Hoạt động, vận động cơ thể: Migraine, đau đầu typ Tension.

+ Đau tăng khi cúi: đau đầu chuỗi v.v…

  • Yếu tố dịu đau:

+ Cơn đau Mlgraine dịu đi khi: nghỉ ngơi, buồng tối.

+ Đau đầu typ Tension: xoa bóp, chườm nóng.

+ Đau đầu chuỗi: ấn trên chỗ đau, chườm nóng trên chỗ đau, đi lại, vận động… sẽ làm dịu đau.

  • Tiền sử gia đình: Migraine và đau đầu typ Tension có tiền sử gia đình.

Khám bệnh nhân đau đầu

Thăm khám BN đau đầu thường không cho kết quả dương tính, những người thầy thuốc cần tiến hành để đảm bảo yên tâm không bỏ sót triệu chứng của những bệnh thực thể. Blau (1986): “Một người thầy thuốc không khám toàn diện bệnh nhân chỉ cho biết được một nửa quan điểm của mình”.

Khám bệnh phải toàn diện, đầy đủ và kỹ càng.

  • Toàn thân…
  • Tâm thần…
  • Thần kinh: các hệ cơ quan, sọ, cột sống cổ, các đôi dây thần kinh sọ não, điểm xuất chiếu của các dây thần kinh vùng sọ mặt, các động mạch lớn…

CẬN LÂM SÀNG

  • Chụp cắt lớp vi tính (CT.Scan) (ưu thế trong chẩn đoán khối choán chỗ, nhồi máu, chảy máu, áp-xe, não nước…); khó chẩn đoán trong bệnh lý hố sau, khoang sọ gần nền, vùng gần lỗ chẩm lớn vì hay có nhiều xương.

+ Ở bệnh nhân Migraine: hình ảnh CT bình thường, nhưng nếu đau liên tục vài ngày có thể thấy một vùng phù não nhưng không thấy ổ nhồi máu.

+ Đau đầu chuỗi, đau đầu Tenison, đau đầu chức năng cho hình ảnh CT bình thường.

  • X quang sọ thường:

+ Khi đã có CT mở cửa sổ xương thì không cần chụp X quang sọ quy ước nữa.

+ Các tổn thương dễ thấy trên phim X quang sọ quy ước là: dãn yên, tổn thương xương, dị dạng sọ…

  • X quang cột sống cổ: đau vùng chẩm – cổ, vùng C1 – C2 phải kiểm tra bằng phương pháp chụp cắt lớp.
  • MRI: thường không cần thiết chỉ định cho mọi bệnh nhân đau dầu.

-Ưu điểm: có ưu thế trong chẩn đoán các bệnh lý hố sau, biểu hiện lỗ chẩm lớn rất rõ, phát hiện dị dạng chẩm – cổ tốt, chẩn đoán các bệnh lý phần mềm (tuỷ, phần mềm cổ) và cột sống cổ.

MRA (chụp động mạch cộng hưởng từ): dùng điều tra mạch máu trong hoặc ngoài sọ, chẩn đoán dị dạng mạch rất tốt và rất thích hợp trong chẩn đoán huyết khối xoang tĩnh mạch nội sọ.

AG: hiếm dùng để chẩn đoán các chứng đau đầu không kèm theo tổn thương khu trú; có lợi ích trong chẩn đoán tắc, hẹp mạch gây đau đầu. cần tiến hành AG để chẩn đoán thông động – tĩnh mạch, phình mạch; tuy nhiên, theo quan điểm của đa số tác giả nếu chụp AG trong cơn đau đầu có thể gây các tai biến nguy hiểm.

Chẩn đoán phóng xạ: phương pháp này dùng để chẩn đoán rò dịch não – tuỷ.

Xét nghiệm dịch não – tuỷ: dùng để loại trừ các bệnh thực thể của não.

Điện não đồ: hiếm có tác dụng trong chẩn đoán đau đầu, không có thay đổi đặc hiệu trong từng loại đau đầu; tuy nhiên, nó có lợi trong chẩn đoán đau đầu có tổn thương thần kinh khu trú nhưng chẩn đoán hình ảnh cho kết quả bình thường và có lợi trong chẩn đoán các bệnh lý gây biến đổi ý thức.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán lâm sàng

Nếu đau đầu là triệu chứng của một bệnh thì ta cần căn cứ vào nhiều triệu chứng khác nhau cũng như căn cứ vào các chỉ tiêu cận lâm sàng để chẩn đoán bệnh lý gốc. Trong trường hợp các chứng đau đầu nguyên phát, hầu hết các tác giả trên thế giới đều khẳng định rằng vấn đề chẩn đoán chỉ dựa cơ bản vào lâm sàng mà thôi. Sau đây chúng tôi chỉ xin nêu tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của các chứng đau đầu nguyên phát do nguyên nhân mạch máu của IHS năm 1988.

Tiêu chuẩn chẩn đoán Migraine ở người lớn

Migraine có aura

(Tên gọi cũ: MG cổ điển, MG mắt, MG dị cảm 1/2 người, MG liệt nửa người hoặc MG rối loạn ngôn ngữ)

Có ít nhất 2 cơn MG đáp ứng tiêu chuẩn B

Có ít nhất 3 trong số đặc điểm sau:

  • Một hoặc nhiều triệu chứng aura (tự phục hồi hoàn toàn) biểu hiện rối loạn chức năng khu trú vỏ não hoặc thân não.
  • Có ít nhất 1 tiền triệu gần phát triển dần trong hơn 4 phút hoặc 2 triệu chứng aura xuất hiện kế tiếp nhau.
  • Không có triệu chứng aura kéo dài hơn 60 phút, nếu có nhiều hơn là 1 triệu chứng aura thì thời gian kéo dài tăng lên tương ứng.
  • Đau đầu xuất hiện sau aura trước 1 giờ (cũng có thể xuất hiện trước hoặc cùng với triệu chứng aura).

Có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:

  • Bệnh sử, thăm khám chung và khám thần kinh không thấy các nguyên nhân đau đầu khác.
  • Nếu bệnh sử và/hoặc khám cơ thể và/hoặc khám thần kinh thấy có 1 nguyên nhân gây đau đầu khác mà nguyên nhân đó đã được loại trừ bằng xét nghiệm bổ trợ.
  • Nếu có 1 nguyên nhân đau đầu khác nhưng những cơn MG đầu tiên không liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với nguyên nhân đó.

Đau đầu chuỗi (cluster headache)

  • Migraine không có aura

(Tên gọi cũ: Migraine thông thường, đau 1/2 đầu giản đơn)

Có ít nhất 5 cơn đáp ứng tiêu chuẩn (B – c – D) sau

Đau đầu kéo dài 4 – 72 giờ (nếu không được điều trị hoặc điều trị không có kết quả), Đau đầu có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn sau:

  • Đau 1 bên.
  • Đau theo nhịp mạch.
  • Cường độ đau vừa hoặc nặng (bứt rứt khó chịu, hoặc mất khả năng làm các công việc thường ngày).
  • Đau tăng khi leo cầu thang hoặc vận động cơ thể nhẹ nhàng.

Trong khi đau đầu có ít nhất 1 trong 2 dấu hiệu sau:

  • Buồn nôn và/hoặc nôn.
  • Sợ ánh sáng và sợ tiếng động.

Có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:

  • Bệnh sử, thăm khám chung và khám thần kinh không thấy các nguyên nhân đau đầu khác.
  • Nếu bệnh sử và/hoặc khám cơ thể và/hoặc khám thần kinh thấy có 1 nguyên nhân gây đau đầu khác mà nguyên nhân đó đã được loại trừ bằng xét nghiệm bổ trợ thích hợp.
  • Nếu có 1 nguyên nhân đau đầu khác nhưng những cơn MG đầu tiên không liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với nguyên nhân đó.

Tiêu chuẩn chẩn đoán Migraíne trẻ em

Migraine không có aura

(Tên gọi cũ: Migraine thông thường, đau 1/2 đầu giản đơn)

Có ít nhất 5 cơn đáp ứng tiêu chuẩn (B – c – D) sau

Đau đầu kéo dài 4 – 48 giờ (nếu không được điều trị hoặc điều trị không có kết quả), Đau đầu có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn sau:

  • Đau một bên.
  • Đau theo nhịp mạch.
  • Cường độ vừa hoặc nặng (bứt rứt khó chịu, hoặc mất khả năng làm các công việc thường ngày).
  • Đau tăng khi leo cầu thang hoặc vận động cơ thể nhẹ nhàng.

Trong khi đau đầu có ít nhất 1 trong 2 dấu hiệu sau:

  • Buồn nôn và/hoặc nôn.
  • Sợ ánh sáng và/hoặc sợ tiếng động.

Có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:

  • Bệnh sử, thăm khám chung và khám thần kinh không thấy các nguyên nhân đau đầu khác.
  • Nếu bệnh sử và/hoặc khám cơ thể và/hoặc khám thần kinh thấy có 1 nguyên nhân gây đau đầu khác mà nguyên nhân đó đã được loại trừ bằng xét nghiệm bổ trợ thích hợp.
  • Nếu có 1 nguyên nhân đau đầu khác nhưng những cơn Migraine đầu tiên không liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với nguyên nhân đó.

Migraine có aura

(Tên gọi cũ: Migraine cổ điển, Migraine mắt, Migraine dị cảm 1/2 người, Migraine liệt nửa người hoặc Migraine rối loạn ngôn ngữ)

Có ít nhất 5 cơn đáp ứng tiêu chuẩn (B – c – D) sau

Đau đầu kéo dài 2 – 48 giờ (nếu không được điều trị hoặc điều trị không có kết quả), c. Đau đầu có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn sau:

  • Đau hai bên (trán, thái dương)
  • Đau theo nhịp mạch
  • Cường độ vừa hoặc nặng (bứt rứt khó chịu, hoặc mất khả năng làm các công việc thường ngày).
  • Đau tăng khi leo cầu thang hoặc vận động cơ thể nhẹ nhàng.

Trong khi đau đầu có ít nhất 1 trong 2 dấu hiệu sau:

  • Buồn nôn và/hoặc nôn
  • Sợ ánh sáng và/hoặc sợ tiếng động.

Có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:

  • Bệnh sử, thăm khám chung và khám thần kinh không thấy các nguyên nhân đau đầu khác.
  • Nếu bệnh sử và/hoặc khám cơ thể và/hoặc khám thần kinh thấy có 1 nguyên nhân gây đau đầu khác mà nguyên nhân đó đã được loại trừ bằng xét nghiệm bổ trợ thích hợp.
  • Nếu có 1 nguyên nhân đau đầu khác nhưng những cơn Migraine đầu tiên không liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với nguyên nhân đó.

Đau đầu chuỗi (cluster headache)

Có ít nhất 5 cơn đau đầu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn B đến D sau

Đau dữ dội một bên hốc mắt và/hoặc thái dương, kéo dài 15-180 phút nếu không được điều trị.

Đau đầu kèm theo ít nhất 1 trong các dấu hiệu sau ở cùng bên đầu đau:

  • Sung huyết kết mạc.
  • Chảy nước mắt.
  • Chảy nước mũi.
  • Sung huyết niêm mạc mũi.
  • Chảy mồ hôi mặt và trán.
  • Co đồng tử.
  • Sụp mi.
  • Phù nề mi mắt.

Tần số cơn: từ 2 ngày 1 cơn đến 8 cơn 1 ngày.

Có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:

  • Bệnh sử, thăm khám chung và khám thần kinh không thấy các nguyên nhân đau đầu khác.
  • Nếu bệnh sử và/hoặc khám cơ thể và/hoặc khám thần kinh thấy có 1 nguyên nhân gây đau đầu khác mà nguyên nhân đó đã được loại trừ bằng xét nghiệm bổ trợ thích hợp.
  • Nếu có 1 nguyên nhân đau đầu khác nhưng những cơn Migraine đầu tiên không liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với nguyên nhân đó.

Đau đầu do căng thẳng (tension type headache)

Đã có ít nhất 10 chu kỳ đau đầu đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn B đến D dưới đây và có số ngày đau đầu kiểu này là 180 ngày/năm hay 15 ngày/tháng.

Đau đầu kéo dài từ 30 phút đến 7 ngày, c. Có ít nhất 2 trong các đặc điểm sau:

  • Đau như ép như bó (không đau theo mạch đập).
  • Cường độ nhẹ đến vừa.
  • Đau 2 bên
  • Không tăng khi leo cầu thang hoặc vận động cơ thể nhẹ.

Có cả 2 tiêu chuẩn sau:

  • Không buồn nôn hoặc nôn
  • Không sợ ánh sáng, sợ tiếng động hoặc chỉ có 1 trong 2 triệu chứng này.

Mô hình chẩn đoán lâm sàng đau đầu

Đau đầu

ĐIỀU TRỊ

Điều trị bệnh căn

Chủ yếu là tìm nguyên nhân đau đầu và điều trị nguyên nhân đó (ví dụ: tăng huyết áp, viêm màng não, ổ máu tụ nội sọ…).

Trong trường hợp đau đầu sau chọc sống thắt lưng: dự phòng bằng cách dùng kim nhỏ và để bệnh nhân nằm sấp sau khi chọc 1 – 2 giờ sau đó bất động 24 giờ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vai trò của bất động không thể ngăn ngừa sự xuất hiện của loại đau đầu này mà chỉ kéo dài thời gian tiềm của nó.

Điều trị bệnh sinh

  • Chống phù não: hiện nay có nhiều loại thuốc chống phù não khác nhau, nhưng về tác dụng của chúng thì mỗi loại chỉ thích hợp với một số nguyên nhân nhất định của phù não.

+ Synacthen: tốt trong trường hợp u não.

+ Corticoid: có nhiều quan điểm khác nhau về tác dụng chống phù não của nó. Nhưng nói chung corticoid có tác dụng chống phù não trong u não và ít tác dụng trong trường hợp tai biến mạch máu não.

+ Mannitol được khuyến cáo dùng trong tai biến mạch máu não (nhưng không dùng trong các trường hợp chảy máu nội sọ), chấn thương sọ não…

+ Glucose 10 – 30%: không dùng trong trường hợp nhồi máu não.

+ Magiê sultat 25%: hiện nay ít được ưa dùng vì tác dụng của nó không rõ rệt.

  • Thuốc an tĩnh: có tác dụng tốt trong nhiều trường nhức đầu do căn nguyên tâm lý, nhức đầu do căng thẳng. Các thuốc thường dùng là: seduxen, andaxin, meprobamat, librium…

Điều trị đặc hiệu Migraine

Điều trị MG gồm điều trị cơn và điều trị dự phòng (hay điều trị nền).

  • Điều trị cắt cơn:

+ Nhóm ergotamin tartrat, viên 1mg, ngậm dưới lưỡi ngay từ khi có biểu hiện tiền triệu. Sau 30 phút nếu không có kết quả ngậm tiếp viên thứ 2. Lưu ý chống chỉ định của thuốc và không dùng quá 6mg 1 ngày và không quá 10mg 1 tuần.

+ Hiện nay nhóm triptan thường được dùng cắt cơn, đợt điều trị từ 3 – 5 ngày.

+ Ngoài ra có thể dùng các thuốc giảm đau thông thường kết hợp với các thuốc chống nôn để điều trị cơn như aspirin, paracetamon,…

  • Điều trị dự phòng:

+ Dùng dihydroercỊotamin (tamik, dihydroergotamin) viên 3mg, uống mỗi ngày 2 viên trong thời gian 10-12 tuân, cần lưu ý tác dụng phụ của thuốc lên hệ tiêu hoá.

+ Các nhóm thuốc khác như thuốc chẹn p (propranolon), chẹn calci (tlunarián), thuốc chống trầm cảm 3 vòng v.v… cũng có thể sử dụng trong điều trị Migraine.

+ Các nhóm thuốc chống co giật như: topiramat, valproat cũng được khuyến cáo để dự phòng Migraine.

+ Từ năm 1990, Bộ môn Thần kinh Học viện Quân y đã ứng dụng phương pháp áp lạnh động mạch thái dương nông và thắt động mạch thái dương nông trong điều trị bệnh Migraine có tổn thương chọn lọc động mạch thái dương nông. Kết quả điều trị khả quan.

Điều trị triệu chứng

Nghỉ ngơi cơ thể và tinh thần là biện pháp cần thiết trong mọi trường hợp đau đầu.

Thuốc chống đau thông thường có hiệu quả trong nhiều trường hợp đau đầu nhưng không nện dùng liên tục trong thời gian dài. về cách chọn thuốc, nên sử dụng lần lượt các thuốc tuần tự từ bậc 1 đến 2 và 3 trong bậc thang thuốc chống đau.

  • Hay được dùng nhất là nhóm salycilic (aspirin), noramidopyrin (analgin), paracetamon có hoặc không phối hợp với codeln.

Phương pháp điều trị vật lý (chườm đá, bấm huyệt…) thường có thể làm giảm cơn đau.

Châm cứu có thể được sử dụng trong điều trị cơn đau và có tác dụng trong một số trường hợp.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here