Thiếu vitamin B6 và Vitamin E

Bệnh Chuyển hóa

THIẾU VITAMIN E

Vitamin E bao gồm 4 chất tan trong mỡ: alpha, beta, delta và gamma tocopherol; chất có hoạt tính mạnh nhất là alpha tocopherol. Trong tự nhiên, các chất này có trong rau xanh, dầu thực vật và mầm lúa mì. Vai trò chính xác của vitamin E cũng như các triệu chứng do thiếu vitamin E ở người còn chưa được biết rõ. Người ta cho rằng thiếu vitamin E là nguyên nhân gây thiếu máu tan huyết ở trẻ sơ sinh và ít sinh tinh trùng ở người lớn. Được coi là bị thiếu vitamin E khi nồng độ alpha tocopherol huyết thanh ở người lớn < 6 mg/1 và < 4 mg/1 ở trẻ em. Các chỉ định dùng vitamin E chưa thật rõ.

Thiếu vitamin B6

Dạng tự nhiên của vitamin B6 là pyridoxin, pyridoxal và pyridoxamin. Hai chất sau được phosphoryl hoá thành phosphat pyridoxal trong cơ thể. Chất này có vai trò quan trọng trong chuyển hoá các acid amin và các acid béo.

Vitamin B6 có trong các loại men, gan, lòng, cá, mầm lúa mì, khoai tây. Nhu cầu pyridoxin hàng ngày là 1,4 – 2,0 mg. Thiếu vitamin B6 gặp trong trường hợp nghiện rượu, dùng thuốc kháng pyridoxin (isoniazid, penicillamin), người mang thai có rối loạn chuyển hoá tryptophan và người bị bệnh cystathionin niệu (xem bệnh này). Thiếu vitamin B6 không gây ra hội chứng đặc hiệu. Người ta thấy có các rối loạn khác nhau ở da (ví dụ viêm da tiết bã), ở niêm mạc và ở hệ thần kinh, một số trường hợp bị thiếu máu nhược sắc trơ với trị liệu có sắt, co giật hoặc ngừng lớn ở trẻ còn bú.

Điều trị: pyridoxin 50-100 mg/ngày (ở người lớn).

GHI CHÚ – nồng độ pyridoxin trong huyết thanh thường được đo trước và sau khi uống 250 mg pyridoxin. Các giá trị bình thường:

Trước khi uống: 15-35 pg/l (88- 220 nmol/l). Sau khi uống; 70-200 pg/l (400- 1200 nmol/l).

Hỏi đáp - bình luận