Bệnh hô hấp

Nội soi phế quản (soi phế quản)

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Soi phế quản bằng Ống nội soi mềm (hoặc ống soi mềm, ống mềm) cho phép thăm khám sâu rộng cây phế quản, tới tận các phế quản dưới phân thuỳ. Soi phế quản được tiến hành sau khi gây tê tại chỗ. Kỹ thuật này có những chống chỉ định sau đây: hen phế quản cấp tính, giảm oxy-huyết nặng, nhồi máu cơ tim mới xẩy ra (dưới 6 tháng), cơn đau thắt ngực không ổn định, rối loạn nhịp tim nặng, bệnh nhân giãy giụa hoặc không thể cộng tác.

Soi phế quản bằng ống nội soi cứng (hoặc ống soi cứng, ống cứng) được sử dụng trong những trường hợp ho ra máu với khối lượng lớn và trong một số thủ thuật can thiệp.

Soi phế quản ống mềm để chẩn đoán

Soi phế quản ống mềm cho phép đánh giá tình trạng viêm và chế tiết của niêm mạc phế quản, để xem xét những chỗ hẹp phế quản từ nguyên nhân bên ngoài và những tổn thương bên trong phế quản, để xác định nguồn gốc của những trường hợp chảy máu hoặc ho ra máu, để lấy dịch tiết trong phế quản cho xét nghiệm vi khuẩn và tế bào (tìm những tế bào ung thư hoặc tìm Pneumocystis carinii), và để hoặc làm sinh thiết trực tiếp một tổn thương ở bên trong phế quản, hoặc sinh thiết gián tiếp một tổn thương phế nang qua thành phế quản (xem phần dưới).

– Chỉ định từ lâm sàng: khám lâm sàng thấy: ho ra máu, tiếng rít thở vào khu trú và cố định, ho lâu ngày (chụp X quang không phát hiện được nguyên nhân), khàn tiếng mạn tính, liệt dây thần kinh quặt
ngược (thần kinh thanh quản dưới), kết quả xét nghiệm đờm về tế bào học không bình thường.

  • Chỉ định từ X quang: chụp X quang thấy hình ảnh: phổi có bóng mờ nghi vấn, viêm phổi dai dẳng (lâu hơn 4 tuần), xẹp phổi, bệnh phổi mô kẽ lan toả, tràn dịch màng phổi không rõ nguyên nhân, liệt dây thần kinh hoành, khối u trung thất.
  • Những chỉ định khác:những trường hợp bệnh phổi nhiễm khuẩn ở đối tượng suy giảm miễn dịch (tìm pneumocystis carinii),tìm tổn thương lao ở phế quản, nghi ngờ lỗ rò phế quản.

Rửa phế quản-phế nang

Trong lúc soi phế quản ống mềm, người ta chuẩn bị 100-300 ml dung dịch muối sinh lý vô khuẩn, ở nhiệt độ 37°c, chia thành từng phần nhỏ 50 ml để bơm vào trong ống nội soi mềm đã được đặt chắc chắn ở trong một phế quản ở sâu. Ngay sau khi bơm vào, dung dịch sinh lý lại được hút ra ngay và chứa vào một ống nghiệm vô khuẩn. Dịch này sẽ được xét nghiệm về các mặt hoá sinh, và tế bào học để tìm những mầm bệnh và những chất xuất hiện ở trong các phế nang kể cả những dấu ấn của các khối u (các phân tử đặc hiệu chỉ xuất hiện khi có khối u).

NHỮNG KẾT QUẢ BÌNH THƯỜNG CỦA PHÂN TÍCH DỊCH RỬA PHẾ QUẢN – PHẾ NANG

QUAN SÁT BẰNG MẮT:                       dịch trong

XÉT NGHIỆM HOÁ SINH:

  • Protein toàn phần:       <100mg/l
  • Albumin:                       <50mg/l
  • Immunoglobulin G:       <20mg/l

XÉT NGHIỆM TẾ BÀO:

  • Bạch cầu hạt trung tính: 0-3%
  • Bạch cầu hạt ưa acid:    0-2%
  • Bạch cầu đơn nhân đại thực bào:       80-90%
  • Tế bào lympho:              5-15%

Xét nghiệm dịch rửa phế quản-phế nang có ích trong chẩn đoán: bệnh phổi mô kẽ, viêm phế nang dị ứng (có nhiều tế bào lympho CD8), các khối u (ung thư phế quản-phế nang), nhiễm khuẩn ở những đối tượng suy giảm miễn dịch (nhất là nhiễm pneumocystis carinii, mycobacterium, và nấm), bệnh sarcoid (nhiều tế bào lympho CD4), bệnh mô bào X (có những tế bào chứa những thể vùi), bệnh tích tụ protein phế nang. Tuy nhiên rửa phế quản-phế nang có chống chỉ định trong trường hợp suy hô hấp và suy tim.

Nội soi để điều trị

Người ta có thể dùng hoặc ống nội soi mềm hoặc ống cứng để hút dịch chế tiết gây nghẽn trong các phế quản, để lấy ra những nút niêm dịch hoặc những dị vật, để đặt bộ phận giả bên trong phế quản trong trường hợp hẹp phế quản, và để điều trị khối u bằng tia Laser.

Hỏi đáp - bình luận