Thuốc Fosamprenavir (Telzir™ hoặc Lexiva™) – Indinavir (Crixivan™)

Thuốc Tân dược

Fosamprenavir (Telzir™ hoặc Lexiva), là thuốc dạng ester can xi phosphat, tan và hấp thu tốt hơn amprenavir khiến số viên thuốc bệnh nhân phải uống ít đi rõ rệt. Fosamprenavir được cấp phép từ năm 2004 để điều trị cho cả bệnh nhân đã từng và chưa từng được điều trị ARV. Liều khuyến cáo có thể là: a) 1400 mg uống 2 lần/ngày (2 viên chia 2 lần), b) 700 mg uống 2 lần/ngày cộng thêm với 100 mg ritonavir uống 2 lần/ngày (2 viên chia 2 lần) hoặc c) 1400 mg cộng thêm với 200 mg ritonavir một lần/ ngày (4 viên 1 lần). Liều uống 1 lần mỗi ngày không được khuyến cáo cho các bệnh nhân đã từng được điều trị ARV trước đó và cũng giống như dạng thuốc không được tăng cường, nó không được cấp phép tại châu Âu. Một lợi điểm của thuốc này là nó không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, do vậy thuốc có thể uống cả khi no hay khi đói.

Một số nghiên cứu đã so sánh fosamprenavir với các PI khác. Trong nghiên cứu NEAT, fosamprenavir khi không được tăng cường có hiệu lực cao hơn chút ít so với nelfinavir và dung nạp tốt hơn ở nhóm các bệnh nhân chưa từng được điều trị ARV (Rodriguez-French 2004). Tuy nhiên tỷ lệ bỏ trị khá cao ở cả hai nhóm là hạn chế của nghiên cứu. Ở nghiên cứu SOLO, fosamprenavir được tăng cường uống một lần mỗi ngày có hiệu quả tương đương nelfinavir (Gathe 2004); cũng tương tự như khi so sánh với atazanavir/r trong một nghiên cứu nhỏ ALERT (Smith 2006). Không có hiện tượng kháng thuốc đối với dạng fosamprenavir/r sau 48 tuần điều trị (MacManus 2004). Trong nghiên cứu KLEAN, khi so sánh với lopinavir không thấy có sự khác biệt: ỉa chảy nặng (13% so với 11%), tăng cholesterol (11% so với 9%) không hề ít hơn ở nhóm fosamprenavir (Eron 2006). Trong nghiên cứu CONTEXT, fosamprenavir có hiệu quả không bằng lopinavir/r ở những bệnh nhân đã từng được điều trị PI, tuy vậy sự khác biệt cũng không có ý nghĩa lớn (Elston 2004). Giống như nevirapine, efavirenz có thể kích thích chuyển hóa amprenavir và làm giảm nồng độ thuốc (tới mức độ có ảnh hưởng lâm sàng). Điều này không xảy ra khi fosamprenavir được tăng cường bằng ritonavir. Cần lưu ý khi phối hợp thuốc với lopinavir bởi nồng độ của cả hai thuốc trong  huyết thanh đều bị hạ thấp (AUC, Cmin). Điều này làm mất đi một lựa chọn hay cho phác đồ cứu cánh (xem “Tương tác thuốc”).

Indinavir (Crixivan) là một thuốc PI lâu đời nhất, mà ngay từ ban đầu đã rất thành công ở những mghiên cứu lớn (Gulick 1997, Hammer 1997). Sau đó, sự thành công của indinavir không còn hằng định, ít nhất khi nó không được tăng cường (boosted): trong nghiên cứu Atlantic, nó có hiệu quả tương đương nevirapine (Van Leeuwen 2003), nhưng trong nghiên cứu 006 nó yếu hơn efavirenz rõ ràng (Staszewski 1999). Nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi CNAAB3005 thấy indinavir có hiệu quả hơn abacavir, đặc biệt trên những bệnh nhân có tải lượng virus cao trước điều trị  (Staszewski 2001). Trong nghiên cứu CHEESE và MaxCmin1, hiệu lực của nó tương đương với saquinavir-SGC (Cohen-Stuart 1999, Dragstedt 2003). Việc ít gắn với protein (60 %) có vẻ làm thuốc này thấm vào hệ thần kinh trung ương tốt hơn các loại PI khác (Martin 1999).

Tuy vậy, có một số vấn đề liên quan với indinavir. Trước hết, nó gây sỏi thận ở vào khoảng 5-25 % số bệnh nhân (Meraviglia 2002), và bởi vậy nó đòi hỏi phải bù nước tốt (ít nhất 1.5 lít mỗi ngày). Indinavir không được tăng cường (unboosted) cần được uống 3 lần mỗi ngày khi đói (Haas 2000), bởi vậy dạng tăng cường được khuyến cáo – dữ liệu dược động học tốt đã đạt được với liều dùng 2 x 800/100 mg mỗi ngày (Van Heeswijk 1999) – mặc dù điều này có thể làm tăng tỷ lệ tác dụng phụ (Arnaiz 2004). Trong nghiên cứu MaxCmin1, tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị ở nhóm dùng indinavir/r cao hơn ở nhóm dùng saquinavir/r (Dragstedt 2003). Các tác dụng phụ đặc biệt khi uống indinavir bao gồm tác dụng phụ trên da và niêm mạc gợi ý đến việc điều trị bằng retinoid: rụng tóc, khô da và môi, móng mọc ngược. Nhiều bệnh nhân còn có tình trạng tăng billirubin không triệu chứng. Mặc dù có vẻ rằng liều dùng (và nhờ đó tác dụng phụ) có thể giảm đi ở hầu hết các bệnh nhân bằng cách tăng cường ritonavir và theo dõi nồng độ thuốc trong huyết tương, nhưng hiện nay indinavir vẫn chỉ có vai trò thứ yếu trong điều trị ARV.

Tìm kiếm điều bạn cần
Đừng quên chia sẻ nếu thông tin hữu ích

Hỏi đáp - bình luận