Tinh thần hỗn loạn (bất tỉnh nhân sự) – Triệu chứng bệnh Đông y

0

Khái niệm

Tinh thần hỗn loạn gọi tắt là Thần hôn là triệu chứng bất tỉnh nhân sự, thậm chí kích thích bên ngoài cũng không phản ứng gì.

Chứng này trong các y thư cổ điển có rất nhiều tên gọi khác nhau. Tố vấn gọi là “Bạo bất chi nhân”, “Bất tri dữ nhân ngôn”. Thương hàn luận thì gọi là “Bất thức nhân”. Các sách Chư bệnh nguyên hậu luận, Trương thị y thông lại gọi là “Hôn hội”. Đan khê tâm pháp gọi là “Hôn bất chi nhân”, “Hôn mê”. Các sách Y tông tất độc, Chứng trị chuẩn thằng, Chứng nhân mạch trị đều gọi là “Hôn mê”.

Chứng Thần hôn không giống chứng “Thị thụy” (hay ngủ). Thị thụy là bệnh luôn luôn muốn ngủ, gọi thì tỉnh ngay, sau khi tĩnh lại ngủ tiếp. Chứng Thần hôn cũng không giống chứng “Vâng quyết” vì chứng trên thì bất tỉnh nhân sự thời gian khá dài không tỉnh nhanh, còn chứng sau thì đột nhiên ngã lăn, hôn mê thần thức hôn mê thời gian khá ngắn, chốc lát lại tỉnh dần. Các chứng “Thi quyết”, “Đại quyết” và “Tiễn quyết” cũng có chứng thần thức không tỉnh thường là đột nhiên ngã lăn, hôn mê bất tỉnh nhân sự giống như chết lâm sàng, qua thời gian không lâu lại tỉnh cho nên cũng thuộc phạm vi chứng Thần hôn. Các trường hợp biến đổi thần chí như “Khí quyết”, “Huyết quyết”, “Đàm quyết”, “Thực quyết” phần nhiều nhất thời cũng có chứng thần thức không tỉnh táo, cho nên đều xếp vào thảo luận với chứng “Vâng quyết”. Thần hôn với “Uât mạo” có chỗ khác nhau, uất mạo là chỉ choáng váng uât nén thậm chí phát sinh hôn quyết nhất thời, có thể do huyết hư tổn thương tân dịch, Can khí uất kết và ngoại tà lấn át gây nên. Kim quỹ yếu lược – Phụ nhân nhâm thần bệnh mạch chứng tính trị viết: “Phụ nữ bị uất mạo… sở dĩ như vậy là do huyết hư mà Quyết, đã Quyết tất phải mạo”.

Các chứng “Nhiệt vào huyết thất”, “Tử giản” của phụ nữ cho đến “Tiểu nhi kinh phong” gây nên thần hôn sẽ giới thiệu ở các mục hữu quan, không thảo luận ở mục này.

Phân biệt

Chứng hậu thường gặp

  • Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào: Có chứng sốt cao phiền táo, tinh thần hôn mê nói sảng, mặt đỏ môi se, lưỡi cứng ít nói, nổi ban chẩn, chân tay quyết lạnh, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ tía, mạch Hồng mà Sác.
  • Thần hôn do phủ nhiệt hun đốt: Có chứng thần thức không tỉnh táo, nói lảm nhảm, lần áo sờ giường, sốt cao hoặc về chiều triều nhiệt, mặt hồng mắt đỏ, bụng trướng đầy, ấn vào cứng rắn, đại tiện không thông hoặc nhịêt kết bàng lưu, tiểu tiện vàng đỏ, rêu lưỡi vàng già, khô ráo nổi gai, mạch Hồng Đại hoặc Trầm Phục có lực.
  • Thần hôn do nhiệt kết độc xông lên Tăm: Co chứng sốt cao, hôn mê nói sảng, đầu mặt sưng đỏ, họng sưng loét, đổ máu mũi, đại tiện ra máu, ban chẩn có sắc tía đen, mụn nhọt hoặc đan độc tràn lan, lưu trú 4 phía, lưỡi tía, rêu lưỡi khô hoặc nổi gai, mạch Hoạt mà Sác hoặc 6 bộ mạch Trầm Tê mà Sác.
  • Thần hôn do thử tà xâm lấn ở trên: Có chứng hôn mê ngã lăn đột ngột, mình nóng chân tay quyết, sắc mặt đỏ bừng hoặc mặt nhờm bẩn thở thô như suyễn, mồ hôi lạnh vã ra không dứt, tiểu tiện sẻn đỏ, mạch Hư Sác mà Đại.
  • Thần hôn do thấp nhiệt che lấp: Có chứng mình nóng khó chịu, miệng đắng dính nhớt, khát nhưng không muốn uống, mặt mắt phát mầu vàng, chân tay nặng nề, ngực bụng bĩ đầy, hạ lỵ ra trắng đỏ, dần dà đến thần thức hôn trầm, từng lúc mê man hoặc hôn mê không tỉnh, lưỡi đỏ rêu vàng cáu nhớt, mạch Nhu Tế hoặc Hoạt Sác.
  • Thần hôn do nhiệt thịnh động phong: Có chứng sốt cao co giật, thần thức hôn mê, nhiệt hun đốt, chân tay quyết, uốn ván, cổ gáy cứng đơ, hai mắt nhìn ngược, mặt đỏ mắt đỏ, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện bí kết, chất lưỡi đỏ, mạch Huyền Sác.
  • Thần hôn do âm hư phong động: Có chứng từng lúc đầu choáng mắt hoa, chân tay tê dại hoặc run rẩy, tiên tới ngã lăn đột ngột, nói khó, bán thân bất toại, miệng mắt méo xệch, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế mà Sác.
  • Thần hôn do phong đàm vít lấp ở trong: Có chứng ngã lăn đột ngột, bất tỉnh nhân sự, run rẩy co giật, khóe miệng chầy nước dãi, trong họng có tiếng đờm, miệng mắt méo xếch, bán thân bất toại, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch Huyền Hoạt.
  • Thần hôn do ứ huyết lấn Tâm: Có chứng thần thức không tỉnh, nói sảng, cuồng táo không yên, lưỡi nhịu rụt ngắn, thân thể nóng như đốt, bụng dưới rắn đầy, mặt môi và móng tay chân tím tái, đại tiện phân đen dỗ đi, tiểu tiện còn trong, chất lưỡi tía tối, mạch Trầm sắc.
  • Thần hôn do âm kiệt dương thoát: Có chứng lơ mơ khống tỉnh, nhiều mồ hôi, chân tay ấm, thở đoản gấp dần dà chuyển thành sắc mặt tái xanh, đoản hơi, thở khẽ, ra mồ hôi lạnh và dính, tứ chi quyết nghịch, nhị tiện không tự chủ, lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch Vi muốn tuyệt, hoặc Hư Tế vô căn.
  • Thần hôn do nội bế ngoại thoát: Có chứng thần chí hôn loạn, mình nóng rét, thở thô khò khè dồn dập, mắt nhắm miệng há, xoè tay són đái, vã mồ hôi, mặt nhợt, tứ chi quyêt lạnh, lưỡi hồng hoặc đỏ nhạt, mạch Trầm Phục Hư Sác vô lực.

Phân tích

  • Chứng Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào: Chứng này chủ yếu do tà khí ôn nhiệt hun đốt doanh huyết truyền vào Tâm bào gây nên. Xu thế phát bệnh gấp gáp, tình trạng hiểm ác, bệnh tình nguy nan, tựu trưng biểu hiện “Nghịch truyền Tâm bào rất rõ”. Căn cứ vào sở tại của bộ vị bệnh tà, triệu chứng Thần hôn còn chia ra “Nhiệt ở doanh phần” và “Nhiệt ở huyết phần” khác nhau. Chỗ khác nhau của hai loại này là:
  1. Nhiệt vào doanh phần khiến cho doanh âm tổn thương cho nên xuất hiện các chứng trạng mình nóng nặng về đêm, ban chẩn lờ mờ, lưỡi tía không có rêu, mạch Tế Sác, Ôn nhiệt luậnviết: “Doanh phận bị nhiệt thì huyết dịch bị cướp đoạt, Tâm thần không yên nặng về ban đêm và mất ngủ”. “Nhiệt tà truyền vào doanh, sắc lưỡi tất phải tía … Môi có sắc đỏ tía là Bào lạc mắc bệnh”. Thần hôn do nhiệt vào huyết phận ngoài những chứng trạng tà ở doanh phần còn có những biểu hiện như thổ huyết, nục huyết, niệu huyết, xúc huyết và phát chẩn phát ban. sắc ban tía từng nốt như chấm điểm.
  2. Lưỡi là mầm của Tâm, nhiệt vào huyết phần, hỏa nhiệt quá thịnh, nhiệt hun đốt tân dịch tụ lại sinh đờm trọc, đờm hỏa làm nghẽn Tâm khiếu thì lưỡi cứng, khó nói; tà nhiệt vít lấp ở trong, dương khí không đạt ra ngoài thì tay chân quyết lạnh, mà nhiệt ở doanh phần, phần nhiều không biểu hiện triệu chứng này.
  1. Mức độ thần hôn của hai bệnh chứng này khác nhau; Nhiệt ở doanh phần chỉ là doanh nhiệt quấy rối ở trên cho nên thần hôn không nặng lắm, hoặc là có lúc thần chí còn tỉnh. Nhiệt ở huyết phần thần hôn nặng hơn. Nhiệt ở doanh phần điều trị theo phép thanh doanh tiêt nhiệt, tỉnh thần khai khiếu dùng phương Thanh doanh thang sắc lấy nước chiêu với Tử tuyết đan. Nhiệt ở huyết phần điều trị theo phép lương huyết giải độc thanh Tâm tỉnh thần, chọn dùng phương Tê giác địa hoàng giả thang sắc lấy nước chiêu với An cung Ngưu hoàng hoàn hoặc Chí bảo đan
  • Chứng Thần hôn do phủ nhiệt hun đốt với chứng Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào: cả hai đều thuộc thực chứng, nhiệt chứng cho nên đều biểu hiện một loạt chứng thực nhiệt như mình nóng mặt đỏ, phiền táo lắm lời, môi xe họng khô, tiểu tiện sẻn đỏ đại tiện bí kết, nhưng nguyên nhân và cơ chế bệnh khác nhau.

Thần hôn do phủ nhiệt hun đốt là do nhiệt tà vào lý đã sâu, cùng kết hợp với tích trệ biến thành Dương minh phủ thực, khí táo nhiệt kèm với trọc khí xông lên hun đốt phần trên quấy rối thần minh. Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào là do tà hãm vào trong thần minh bị che lấp. Thần hôn do phủ nhiệt hun đốt phần nhiều phát sinh về buổi chiều hoặc về chiều thì nặng hơn. Còn Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào thường là sáng nhẹ tổi nặng. Thần hôn do phủ nhiệt xông lên có liên quan chặt chẽ với chứng táo bón, khi bị táo bón Vị trường bị táo thực nghẽn trệ, phủ khí không thông, khí trọc độc bôc lên quấy rối thần minh, cho nên táo bón càng nặng thì thần hôn càng nặng. Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào tuy nhiên cũng có thể xuất hiện táo bón nhưng không phải là nguyên nhân chủ yếu để cấu thành Thần hôn (nguyên nhân chủ yếu là do tà khí ôn nhiệt). Ngoài ra Thần hôn do nhiệt hãm Tâm bào thường thấy phát ban phát chẩn, còn Thần hôn do phủ nhiệt hun đốt thì thấy Dương minh thực nhiệt, rêu lưỡi phải vàng già, nhiệt hãm Tâm bào, chất lưỡi đỏ tía hoặc tía sẫm.

Thần hôn do phủ nhiệt hun đốt điều trị dùng thuốc khổ hàn để hạ mạnh, tả nhiệt và thông tiện có thể chọn dùng các phương Đại, Tiểu Thừa khí thang. Chỉ cần thanh được phủ nhiệt, táo ở ruột đã rứt, tà khí không xông lên thì thần được yên tĩnh.

  • Chứng Thần hôn do nhiệt độc xông lên Tâm với chứng thần hôn do thử tà xâm lân lên trên: cả hai chứng về nguyên nhân, cơ chế bệnh và biểu hiện lâm sàng đều không giống nhau. Chứng Thần hôn do nhiệt độc xông lên Tam là nhiễm phải tà khí thời dịch hỏa độc hãm vào trong thành Tẩu hoàng quấy rối doanh làm bại huyết truyền vào Tâm bào, cơ chuyển tinh thần không hoạt động nên mức độ Thần hôn khá sâu, lại kiêm cả xuất hiện hàng loạt triệu chứng như độc tà úng tắc Thượng tiêu, độc tà hun đốt khí huyết dồn ra tứ chi, dư độc làm thương âm… phần nhiều xuất hiện ở các chứng Đại đầu ôn, Phát di, Đinh sương và Tẩu hoàng… còn chứng Thần hôn do thử tà xâm lấn ở trên thì chỉ xuất hiện ở mùa hè nóng nực do thử tà xâm nhập hao khí hại tân làm cho khí tân thoát ra đột ngột làm rối loạn thần minh. Ngoài triệu chứng Thần hôn ra còn kiêm các triệu chứng như mình nóng, mặt nhờm bẩn, thở thô như suyễn, mồ hôi lạnh chầy ra không dứt, tứ chi quyết nghịch, mạch Hư Đại mà Sác.

Chứng Thần hôn do nhiệt độc xông lên Tâm điều trị theo phép thanh giải nhiệt độc ở khí phận, tỉnh thần khai khiếu có thể dùng loại thuốc thanh nhiệt giải độc liều cao, chọn dùng phương Tê giác địa hoàng thang hoặc Thanh ôn bại độc ẩm chiêu với An cung ngưu hoàng hoàn. Nếu dư độc thương âm, Thận tinh bị hao tán, nguyên thần không được nuôi dưỡng thì nên tư dưỡng âm dịch, sử dụng Gia giảm Phục mạch thang tùy chứng mà thêm bớt. Thần hôn do thử tà lấn lên trên điều trị theo phép tân lương khai khiếu dùng các phương Tử tuyết đan hoặc An cung ngưu hoàng hoàn.

  • Chứng Thần hôn do thấp nhiệt che lấp với chứng Thần hôn do phong đàm bế ở trong: Cả hai đều thuộc thực chứng, đều do thực tà vít lấp không khiếu dẫn đến Thần hôn, nhưng nguyên nhân bệnh khác nhau. Loại trên là tà khí thấp nhiệt uât nghẽn khí phận không giải, nung nấu đờm trọc che lấp Tâm khiếu gây nên bệnh. Loại sau do phong đàm gây bệnh lại do thể trạng vốn đờm thịnh cảm nhiễm phong tà hoặc Can Đởm vượng một phía mà sinh ra nội phong, phong dương kiêm đờm bên trong quấy rối Tâm khiếu xuất hiện chứng Thần hôn. Thần hôn do thấp nhiệt che lấp thường là lúc tỉnh lúc mê có trạng thái lơ mơ khó tả còn kiêm chứng mình nóng khó chịu, chân tay khốn đôn, tiểu tiện đỏ, mắt vàng như mầu quýt chín hoặc xích bạch hạ lỵ, lý cấp hậu trọng, rêu lưỡi vàng nhớt là những chứng hậu do thấp nhiệt gây nên. Thần hôn do phong đàm bế ở trong kiêm chứng chân tay thân thể run rẩy co giật hoặc bán thân bất toại, miệng mửa ra bọt trắng là những chứng trạng do phong khí nội động. Vì thế qua đặc điểm cơ chế bệnh của hai chứng này biểu hiện lâm sàng rất dễ chẩn đoán phân biệt. Thần hôn do thấp nhiệt che lấp, điều trị nên thanh nhiệt hóa thấp, quét đơm khai khiếu, dùng các phương Xương bồ uất kim thang, Tô hợp hương hoàn. Thần hôn do phong đờm bế ở trong điều trị nên bình Can dẹp phong, quét đờm khai khiếu, dùng các phương Địch đàm thang, Thiên ma câu đằng ẩm.
  • Chứng Thần hôn do nhiệt thịnh động phong với chứng Thần hôn do âm hư phong động: Đều thuộc nội phong, nhưng một là chứng thực nhiệt, một là chứng bản hư tiêu thực. Thần hôn do nhiệt thịnh động phong thường có chứng sốt cao rõ rệt, kinh quyết, uốn ván mặt hồng, mắt đỏ; cơ chế bệnh là: nhiệt tà thái quá hun đốt Can kinh, quấy rối thần minh. Còn chứng Thần hôn do âm hư phong động thì có các chứng trạng chủ yếu là miệng mắt méo xếch, bán thân bất toại, nói khó do khí huyết nghịch loạn, kinh lạc bị nghẽn trệ. Cơ chế bệnh là: Can Thận âm hư, hư dương vọng động xông lên đỉnh đầu làm rối loạn thần thức. Thần hôn do nhiệt thịnh động phong điều trị nên thanh nhiệt dẹp phong, tỉnh thần khai khiếu, chọn dùng phương Tê giác câu đằng thang phối hợp với Tử tuyết đan. Thần hôn do âm hư phong động điều trị nên dục âm tiềm dương, bình Can dẹp phong, chọn dùng phương Đại định phong châu thang hoặc Thiên ma câu đằng âm.
  • Chứng Thần hôn do ứ huyết lấn Tâm: Yếu điểm biện chứng là: ngoài chứng Thần hôn phải lộ rõ triệu chứng ứ huyết như các chứng trạng môi miệng, móng chân tay tím tái, bụng dưới rắn đầy, đại tiện phân đen, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi tía tối và có nốt ứ huyết. Sách Ôn nhiệt luận nói: “Mùa hạ bị nhiệt lâu ngày phạm vào huyết phần nhiều là Xúc huyết, nói sảng hôn cuồng, cách nhìn nhận là tiểu tiện trong dài, đại tiện phải đen là đúng bệnh ấy”. Có một số người bị bệnh ở giai đoạn Thần hôn rất khó đoán định là do ứ huyết gây nên, nhưng do đại tiện phân đen sau khi đại tiện được thì thần chí tạm tỉnh táo, bấy giờ mới chứng thực là Thần hôn do huyết kết ứ nghẽn gây nên. Chứng này phần nhiều là nhiệt vào doanh huyết, huyết và nhiệt câu kết ứ tắc ở Tâm, hoặc sau khi đẻ bị nhiễm tà độc, tà huyết tranh giành nhau, ứ huyết không giải, huyết ứ khí nghịch làm rối loạn thần minh hoặc huyết chết đọng ở Tâm khổng, thần chí mất linh hoạt, ứ nhiệt nghẽn các khiếu, nhiệt vào huyết thất, Thần hôn do chân Tâm thông đều thuộc loại này. ứ nhiệt nghẽn lấp các khiếu thì xuất hiện chứng nói sằng nói bậy, thân thể nóng rát. Nhiệt vào huyết thất thì thường thấy hàn nhiệt như Ngược, kinh huyết ra màu đen tía có hòn cục; chứng Chân Tâm thông thì thấy vùng tim đau đột ngột mặt xanh phả hơi lạnh. Hàng loạt triệu chứng như thế khi lâm sàng cần phân biệt chẩn đoán, về phương diện điều trị chủ yếu nên dùng phép thông ứ khai khiếu, linh hoạt lựa chọn các phương Tê địa thanh lạc ẩm, Huyết phủ trục ứ thang. Sau khi đẻ mà ứ huyết xông lên Tâm có thể dùng Đào nhân Thừa khí thang gia giảm.
  • Chứng Thần hôn do âm kiệt dương thoát với chứng Thần hôn do nội bế ngoại thoát: Một là hư chứng, một là chứng hư thực lẫn lộn Thần hôn do âm kiệt dương thoát phần nhiều do mất huyết quá nhiều đến nỗi khí theo huyết thoát, hoặc tả hạ dồn dập, Tỳ khí suy bại, kiệt quệ; hoặc sau khi ra nhiều mồ hôi, tân khí kiệt ở trong. Thần hôn do nội bế ngoại thoát thì do tà khí quá thịnh vít lấp thanh khiếu ở trong đồng thời chính khí bị hao tán, thần mất nơi ẩn náu.

Thần hôn do âm kiệt dương thoát lúc đầu phần nhiều có các dấu hiệu vong âm như chân tay ấm, ra mồ hôi ấm và mặn, khát muốn uống nước lạnh, thở thô, lưỡi đỏ mà khô, mạch Sác vô lực; tiếp theo xuất hiện chứng vong dương có các chứng trạng: sắc mặt tái xanh, mồ hôi ra đầm đìa, đoản hơi thở khẽ, mạch Vi muốn tuyệt. Còn như vong dương dẫn đến vong âm nói chung hiếm gặp. Thần hôn do nội bế ngoại thoát thường là vừa thoát vừa bế đồng thời xuất hiện. Ngoài những hiện tượng tà nhiệt, đờm trọc và ứ huyết gây bệnh như mình nóng, đờm khò khè, đại tiện phân đen còn thêm cả các chứng vong âm, vong dương làm cơ sở để chẩn đoán phân biệt.

Thần hôn do âm kiệt dương thoát điều trị nên hồi dương cố thoát, ích khí liễm âm tùy chứng mà chọn dùng các phương Sâm phụ thang, Tứ nghịch thang, Sinh mạch tán. Thần hôn do nội bế ngoại thoát nên sử dụng phép chữa cả thoát và bế; nếu bế chứng là chủ yếu thì phải khai bế trước tiên và kiêm phù chính. Nếu thoát chứng nặng hơn thì phải cần kíp cố thoát và cũng cần chú ý đến khư tà; khi lâm sàng nên nhận thức chủ thứ mà biện chứng thi trị.

Chứng Thần hôn tuy bệnh cơ phức tạp biểu hiện đa đoan nhưng sau khi đã bị hôn mê thì không ngoài việc phân biệt thuộc “Bế chứng” hoặc “Thoát chứng”. Bế chứng thì có những đặc điểm là khi hôn mê thì hàm răng cắn chặt, chân tay cứng đơ và nắm chặt, mặt đỏ, thở thô, đờm dãi nhiều. Loại chứng trị tài viết: “Như hàm răng cắn chặt, hai tay nắm chặt đó là Bế chứng”. Còn Thoát chứng thì biểu hiện chủ yếu là mắt nhắm miệng há tay xòe, vãi đái, mũi khò khè, thở nhẹ, ra mồ hôi, chân tay lạnh. Tạp hênh nguyên lưu tê chúc viết: “Triệu chứng thoát tuyệt như thế nào? Kinh nói: miệng há là Tam tuyệt, tay xòe là Tỳ tuyệt, mắt nhắm là Can tuyệt, vãi đái là Thận tuyệt, mũi phì phò là Phế tuyệt… đều là do quá hư dẫn đến dương thoát”. Bế chứng cần phải khai bế thông quan. Thoát chứng cần phải hồi dương cố thoát. Hai loại này khác nhau một trời một vực không nên lẫn lỗn.

Trích dẫn y văn

Tà khí ẩn náu ở đường lạc Thủ Túc Thiếu âm Thái âm và Túc Dương minh. Năm đường lạc này đều hội ở trong tai lạc với góc trán bên trái, cả năm lạc đều kiệt khiến cho mạch của thân mình bị động hình thể vô tri giống như thấy chết nên gọi là Thi quyết (Tố vấn – Mậu thích luận).

Phong hàn thử thấp đều có thể trúng vào người chỉ có thấp khí tích luỹ lâu ngày lưu trệ ở khớp xương cho nên mới có thể trúng, chứ không như phong hàn thử thấp có khi trúng đột ngột, chứng Trúng thấp, khớp xương vừa đau vừa nặng, phù thũng trướng đầy, bụng trướng phiền muộn hôn mê bất tỉnh nên dùng Bạch Truật tửu. Nếu có chỗ bị tổn thương (Như mụn nhọt, vết thương) lại do tắm rửa thấp khí qua miệng mụn nhọt lọt vào khiến người ta hôn mê nặng nề giống như trúng thấp tên là Chứng Phá thương nên dùng Bạch Truật tửu (Chứng trị yếu quyết – Thấp biện trúng thương).

Chứng Chướng ngược phát cơn có giờ giấc, thần thức hôn mê lắm lời quàng xiên hoặc thanh âm ấm ớ đó là chứng Chướng độc ngược tật. Nguyên nhân của Chướng Ngược là do nhiễm sơn lam trướng khí, thấp độc có chỗ nung nấu ấp ủ, trướng khí lọt vào tạng phủ, huyết tụ ở thượng tiêu bại huyết nhồi vào Tâm khiếu, độc lan tỏa tụ vào Can Tỳ tức là dã phát sinh chứng Chướng độc Ngược tật (Chứng nhân mạch trị – Chướng ngược).

Chứng Hàn quyết bạo vong cũng là một bệnh tích hàn khác với Trúng hàn. Bởi vì cái hàn của Trúng hàn không phải tất cả là tích luỹ đã lâu. Còn cái hàn tuỳ trúng, tùy phát thành Hàn quyết là do hàn tà ẩn náu đã lâu ở trong mà lạ bị dụ phát cả hàn tà mới liền quyết mà bạo vong. Cho nên xét về chứng trạng tuy có cấm khẩu, chân tay cứng đờ hôn mê bất tỉnh, nhưng về nguyên nhân thực ra là một loại bệnh phát ngay và một loại bệnh tích đã lâu mà dụ phát (Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc – Hàn bệnh nguyên lưu).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here