Chứng háo (hen) – Chứng trạng bệnh Đông y

0

Háo là chỉ chứng trạng thường gặp trên lâm sàng có đặc trưng là hô hấp gấp gáp, trong họng có tiếng khò khè như tiếng sáo thổi. Vì Háo tất kiêm cả Suyễn, cho nên gọi chung là Háo Suyễn.

Trong sách vở y học nhiều đời, chứng Háo mang nhiều tên. Trong sách Tố vấn gọi là “Suyễn minh”. Trong mục Phế nuy Phế ung khái thấu thượng khí bệnh mạch chứng tính trị sách Kim quỹ yếu lược có nói “Trong họng có tiếng khò khè như gà”. Sách Chư bệnh nguyên hậu luận thì gọi là “Áp thấu”, mãi đến Chu Đan Khê đời Nguyên mới chính xác gọi là “Háo”, về sau lại có các tên gọi là Háo suyễn, Háo hông, Hông suyễn.v.v…

Tuy nhiên Háo tất kiêm Suyễn, nhưng Suyễn vị tất kiêm Háo, cho nên Háo và Suyễn vẫn cần phân biệt, có thể tham khảo ở chứng Khí suyễn.

Phân biệt

Chứng hậu thường gặp

Háo suyễn do hàn đờm ngăn trở Phế: Thuộc phạm vi lãnh háo, gặp lạnh thì phát cơn, thường biểu hiện là hô hấp gấp gáp, trong họng có tiếng khò khè, hung cách đầy tức, đờm trắng dính hoặc trong loãng nhiều bọt, sắc mặt tái và tối trệ, không khát hoặc khát thích uống nóng, rêu lưỡi trắng trơn, mạch Phù Khẩn, hoặc kiêm biểu chứng như ố hàn, phát nhiệt, không mồ hôi, đau mình mẩy.v.v…

Háo suyễn do nhiệt đờm ngăn trở Phế: Chứng này thuộc phạm vi nhiệt háo, gặp nóng thì phát cơn; biểu hiện lâm sàng chủ yếu là hô hấp gấp gáp, trong họng có tiếng khò khè, tiếng cao thở thô, phiền muộn không yên, đờm vàng keo dính khó ho, mặt đỏ tự ra mồ hôi, khát muốn uống nước, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác hoặc có kiêm biểu chứng như phát nhiệt, hơi ố phong hàn, đau đầu.v.v…

Háo suyễn do hàn nhiệt lẫn lộn: Chứng trạng biểu hiện là hô hấp gấp gáp, trong họng có tiếng khò khè, đờm vàng keo dính hoặc đờm trắng dính khó khạc ra. Tâm phiền ngực khó chịu, kiêm chứng ố hàn phát nhiệt, không mồ hôi,đau đầu đau mình, rêu lưỡi trắng xen vàng, mạch Phù Khẩn mà Sác.

Háo suyễn do dương hư đờm ngăn trở: Cũng thuộc phạm trù lãnh háo, biểu hiện là hô hấp gấp gáp. trong họng có tiếng khò khè, đoản hơi không tiếp nối, động làm bệnh tăng, mặt nhợt vã mồ hôi, cơ thể ớn lạnh tay chân lạnh, chất lưỡi nhợt trắng non bệu hoặc tía nhạt, mạch Trầm Nhược vô lực.

Háo suyễn do Âm hư đàm ngăn trở: Cũng thuộc phạm vi nhiệt háo; biểu hiện chủ yếu là hô hấp gấp gáp, trong họng có tiếng khò khè, đờm dính mà ít, họng khô thể trạng gầy còm, hư phiền mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít tân dịch, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Tế Sác.

Phân tích

  • Chứng Háo suyễn do hàn đầm ngăn trở Phê với chứng Háo suyễn do nhiệt đờm ngăn trở Phế: Đây là hai chứng rất hay gặp trong Háo suyễn. Mục Háo bệnh sách Chứng trị vâng bổ viết: “Háo là đờm suyễn kéo dài mà thường phát cơn, vì bên trong khí bị úng tắc, bên ngoài lại cảm nhiễm thời tiết trái mùa, vùng cách có đờm kéo dính… ba nguyên nhân này câu kết với nhau, vít lấp khí đạo, quẩn lại thành tiếng phát sinh bệnh Háo”, “vùng cách có đờm keo dính” đó là cơ chế bệnh cộng đồng của hai chứng này, nhưng về tính chất đờm, một thuộc hàn một thuộc nhiệt, khác nhau rất xa, Háo suyễn do hàn đờm ngăn trở Phế thì sắc đờm trắng và dính hoặc trong loãng nhiều bọt, Háo suyễn do nhiệt đờm ngăn trở Phế thì sắc đờm vàng keo dính, ho mửa khó khăn.

Tiếp theo là phải căn cứ vào chứng trạng toàn thân mà chuẩn đoán phân biệt. Háo suyễn do hàn đờm ngăn trở phế xuất hiện các hiện tượng về hàn như sắc mặt tái mà tối trệ, không khát, hoặc khát mà không thích uống nước nóng và có kiêm biểu chứng chủ yếu là ố hàn. Háo suyễn do nhiệt đờm ngăn trở Phế xuất hiện các hiện tượng về nhiệt như mặt đỏ tự ra mồ hôi, miệng khát muốn uống nước, lưỡi đỏ rêu vàng.v.v… và có kiêm biểu chứng chủ yếu là phát nhiệt, lại hơi SỢ phong hàn. Loại trên điều trị nên ôn Phế tán hàn, hóa đờm chỉ háo, chọ dùng phương Tiểu Thanh long thang. Loại sau điều trị nên tuyên Phế thanh nhiệt, hóa đờm chỉ háo, có thể dùng Việt Tỳ gia Bán hạ thang gia giảm.

  • Chứng Háo suyễn do hàn nhiệt lẫn lộn: Chứng này do nhiệt đờm ẩn náu ở Phế hoặc hàn đờm bị uất hóa nhiệt phục sẩn trong Phế, tà khí phong hàn bó ở ngoài biểu gây nên, tục gọi là “Hàn bao hỏa”. Bên trong có đờm vàng dính hoặc đờm trắng dính khó khạc, trong ngực phiền nhiệt thuộc chứng đờm nhiệt, bên ngoài lại có chứng biểu hàn như các chứng trạng ố hàn phát nhiệt, không mồ hôi, đau đầu đau mình, tức là chứng biểu hàn lý nhiệt. Điều trị nên tán hàn thanh nhiệt, tuyên Phế hóa đờm, cho uống Định suyễn thang gia giảm.
  • Chứng Háo suyễn do dương hư đờm ngăn trở với chứng Háo suyễn do âm hư đờm ngăn trở: Hai chứng này đều là trong hư kiêm thực, chuẩn đoán phân biệt phải lấy chứng trạng toàn thân làm trọng điểm. Loại trên thuộc chứng dương hư nội hàn, phần nhiều thấy mặt trắng nhợt, ra mồ hôi, cơ thể ớn lạnh chân tay lạnh, miệng nhạt không khát, đoản hơi khó tiếp nối, làm việc bệnh tăng, tiểu tiện trong đại tiện nhão, chất lưỡi trắng nhạt non bệu hoặc tía nhạt, mạch Trầm Nhược vô lực. Loại sau thuộc chứng âm hư, phần nhiều thấy gầy còm họng khô, triều nhiệt mồ hôi trộm, ngũ Tâm phiền nhiệt, về chiều gò má đỏ, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch Tế Sác. Thuộc dương hư thì phần nhiều đờm sắc trắng trong loãng. Thuộc âm hư phần nhiều đờm sắc vàng keo dính. Loại trên, điều trị theo pháp ôn dưỡng ích khí kiêm giáng khí hóa đờm, dùng Kim quỹ Thận khí hoàn hợp với Tam tử dưỡng thân thang gia giảm. Loại sau, điều trị theo phép dưỡng âm thanh nhiệt, giáng khí hóa đờm, chọn dùng phương Mạch môn đông thang gia vị
  • Chứng Háo suyễn do hàn đờm ngăn trở Phế với chứng Háo suyễn do dương hư đờm ngăn trở: cả hai khạc ra đờm đều thấy sắc trắng trong loãng, hiện tượng hàn ở toàn thân rất rõ. Nhưng một là thực hàn, một là hư hàn, cần lưu ý phân biệt. Háo suyễn do hàn đờm ngăn trở Phế không biểu hiện khí hư rõ rệt, mà Háo suyễn do dương hư đờm ngăn trở thì có những biểu khí hư như đoản hơi không tiếp nối, mệt mỏi vô lực, tự ra mồ hôi, động làm thì bệnh tăng, chất lưỡi nhạt bệu, mạch Trầm Nhược vô lực.
  • Chứng Háo suyễn do nhiệt đờm ngăn trở Phê với chứng Háo suyễn do âm hư đờm ngăn trở: Cả hai khạc ra đờm đều có sắc vàng keo dính, có hiện tượng nhiệt toàn thân rõ rệt. Nhưng một là nhiệt thực, một là hư thực, cần phải phân biệt.

Háo suyễn do nhiệt đờm ngăn trở Phế, không biểu hiện về âm huyết bất túc; còn Háo suyễn do âm hư đờm ngăn trở có những đặc trưng âm hư nội nhiệt như: gầy còm họng khô, triều nhiệt mồ hôi trộm, ngũ Tâm phiền nhiệt, gò má đỏ, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế Sác.

Háo suyễn là loại bệnh phát từng cơn, biện chứng và điều trị khi phát cơn như đã nói ở trên. Sau khi đã hết cơn, chính khí tất yếu, cho nên khi háo suyễn ở thời kỳ qua cơn

nên phù chính, có thể qua hai tạng Tỳ, Thận mà ra tay điều trị, căn cứ vào lý luận “ Tỳ là gốc hậu thiên”, “ Thận là gốc tiên thiên”., để mà kiện Tỳ, bổ Thận và chiếu cố cả tuyên Phế. Ngoài ra, cũng cần chú ý đến việc điều lý thức ngủ ăn uống, qua đó mà giảm bớt cơn, chữa từ gốc bệnh.

Trích dẫn y văn

Chứng Háo hống, nếu tập trung về đờm, nên dùng phép thể. Cũng có trường hợp vì yếu không dùng phép thể được. Bệnh này là “ Hàn bao nhiệt”, phép trị phải dùng vị thuốc tư dưỡng nhẹ nhàng, không được dùng thuốc hàn lương đơn thuần, nên thường kèm thuốc biểu tán (Háo hống – Cổ kim y giám).

Ăn thức chua mặn thái quá, thẩm thấu vào khí quản đờm lấn vào kết tụ, một khi gặp phong hàn, khí uất đờm úng là phát cơn, hay phát vào mùa Đông Xuân (Suyễn háo

Y hiển).

Đại để bệnh mới phát nhiều là thực, bệnh đã lâu phần nhiều là hư, họng như kéo cưa là hư, như thủy kê là thực. Gặp phong là hàn mà phát cơn lãnh háo, là thực. Bị thương thử nhiệt mà phát cơn là nhiệt báo, là hư. Các loại Diêm háo, Tửu háo, Đường háo đề là hư háo (Háo chứng

Loại chứng trị tài).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here