Hoàng kỳ

Vị thuốc Đông y
Hoàng kỳ
Hoàng kỳ

Hoàng kỳ ( 黄耆 )

Tên và nguồn gốc

+ Tên thuốc: Hòang kì (Xuất xứ: Bản kinh).

+ Tên khác: Đái tảm (戴糁), Đái châm (戴椹), Độc châm (独椹), Thục chi (蜀脂), Bách bổn (百本), Vương tôn (王孙), Miên hòang kì (绵黄耆), Tiễn kì (箭芪) v.v…

+ Tên Trung văn: 黄耆 HUANGQI

+ Tên Anh Văn: RADIX ASTRAGALI

+ Tên La tinh:

①Hòang kỳ Astragalus membranaeus (Fisch.)Bge.②Nội Mông Hòang kỳ Astragalus mongholicus Bge ③Kim dực Hòang kỳ Astra-galus chrysopterusBge.④Hòang kỳ nhiều hoa Astragalus floridus Benth

+ Nguồn gốc: Là rễ khô của Hòang kỳ hoặc Nội Mông Hòang kỳ, thực vật họ Đậu( Legume).

 Phân bố

Chủ yếu sản xuất ở các vùng Nội Mông Cổ, Sơn Tây, Hắc Long Giang v.v…của Trung Quốc.

Thu hoạch

Mùa thu đào, bỏ sạch đất, cắt bỏ đầu rễ và rễ nhánh, sau khi phơi khô phân riêng ra đóng thành bó hoặc phơi khô 6, 7 phần, buộc thành bó nhỏ, rồi phơi khô nữa.

Bào chế

– Hòang kì: Nhặt sạch tạp chất, bỏ đi đầu rễ hỏng và thứ rỗng ruột khá to, dùng nước ngâm, vớt ra, sau khi ngấm ướt kịp thời cắt phiến, phơi khô.

– Hòang kì chích mật: Lấy Hòang kì phiến, thêm mật ong luyện chín và chút ít nước sôi, trộn đều, đậy kín cho ngấm qua, để trong nồi dùng lửa nhỏ sao đến khi trở nên màu vàng, không dính tay là độ, lấy ra để nguội. (Cứ mỗi 100 cân Hòang kì phiến, dùng mật ong luyện chín 25 ~ 30 cân).

– Cương mục: Hòang kì, người thời nay đập giẹt, dùng nước mật bôi chích vài lần, lấy chín làm độ.

Bảo quản:

Để nơi khô ráo thoáng gió, phòng độc biến.

 Tính vị

– Trung dược học: Ngọt, hơi ấm.

– Bản kinh: Vị ngọt, hơi ấm.

– Y học khải nguyên: Khí ấm, vị ngọt, bình.

Qui kinh

– Trung dược học: Vào kinh Tỳ, Phế.

– Thang dịch bản thảo: Vào kinh Thủ thiếu dương, Túc thái âm, Túc thiếu âm mệnh môn.

– Bản thảo mông thuyên: Vào Thủ thiếu dương, Thủ túc thái âm.

– Bản thảo kinh sơ: Kinh Thủ dương minh, Thái âm.

– Bản cách tân biên: Vào kinh Thủ thái âm, Túc thái âm, Thủ thiếu âm.

Công dụng và chủ trị

– Dùng sống: Ích vệ cố biểu, lợi thủy tiêu sưng, thác độc, sinh cơ.

Trị tự ra mồ hôi, ra mồ hôi trộm, huyết tý, phù thũng, ung nhọt không vỡ hoặc lóet lâu ngày không thu liễm.

– Dùng chích: Bổ trung ích khí.

Trị nội thương nhọc mệt, Tỳ hư tiêu chảy, thóat giang, khí hư huyết thóat, băng đới cùng với các chứng khí suy huyết hư.

– Bản kinh: Chủ ung nhọt, bại sang lâu ngày, bày trừ mủ ngừng đau, bệnh chốc đầu đại phong, năm thứ trĩ, thử lậu. Bổ hư, trăm bệnh trẻ con.

– Biệt lục: Chủ phong tà khí ở tử tạng của đàn bà, trục ác huyết ở ngũ tạng. Bổ hư tổn ở đàn ông, ngũ lao gấy ốm. Ngừng khát, đau bụng, tiết lỵ, ích khí, lợi âm khí.

– Nhật hoa tử bản thảo: Hòang kì trợ khí tráng gân xương, trường nhục bổ huyết, phá trưng ghẻ lở, trị tràng nhạc, anh chuế (bướu cổ), trường phong, huyết băng, đới hạ, xích bạch lỵ, tất cả các bệnh sản tiền hậu, tháng không đều, tiêu khát, ho đàm; và trị đầu phong, nhiệt độc, mắt đỏ v.v…

– Vương Hảo Cổ; Chủ sốt rét Thái âm.

– Bản thảo bị yếu: Dùng sống cố biểu, không mồ hôi có thể phát, có mồ hôi có thể cầm, ấm phần thịt, thực tấu lý, tả âm hỏa, giải cơ nhiệt; Dùng chích bổ trung, ích nguyên khí, ấm tam tiêu, tráng Tỳ Vị. Sanh huyết, sanh cơ, bài nùng nội thác, thánh dược ung nhọt. Chứng đậu không xuất, dương hư không nhiệt nên dùng vậy.

Dùng thuốc phân biệt

Ba vị Nhân sâm, Đảng sâm, Hòang kì đều có công hiệu bổ khí và bổ khí sanh tân, bổ khí sanh huyết,thường dùng tương tu, có thể hỗ trợ nhau tăng cường hiệu quả điều trị. Nhưng tác dụng của Nhân sâm khá mạnh, được khen là yếu dược số 1 bổ khí, và có công ích khí cứu thóat, an thần tăng chí, bổ khí trợ dương. Lực bổ khí của Đảng sâm khá bình hòa, chuyên về bổ ích khí của Tỳ Phế, kiêm năng bổ huyết. Lực bổ ích nguyên của Hùynh kì không bằng Nhân sâm, nhưng giỏi về bổ khí thăng dương, ích vệ cố biểu, thác sang sinh cơ, lợi thủy thối thũng, nhất là chứng Tỳ hư khí hãm, biểu hư tự ra mồ hôi v.v…

Tham khảo

Hòang kì với Nhân sâm cùng dùng, lực bổ khí càng mạnh; Với Phụ tử cùng dùng có thể bổ khí trợ dương; Với Bạch truật cùng dùng có thể bổ khí kiện Tỳ; Với Đương qui cùng dùng có thể bổ khí sanh huyết; Với thuốc bổ khí thăng dương cùng dùng, như Đảng sâm, Thăng ma có thể ích khí thăng dương; Với thuốc lợi thủy cùng dùng, như Phục linh, Bạch truật có thể bổ khí lợi thủy (Trung y phương dược học).

Liều dùng và cách dùng

Sắc uống, 9 ~ 30g. Bổn phẩm có dùng sống, có dùng chích mật.

Thường dùng vào bổ ích khí huyết nên dùng chích, cồ biểu thác nùng sinh cơ nên dùng sống.

Kiêng kỵ

– Trung y phương dược học: Phàm âm hư hỏa vượng, chứng thực tà nhiệt đều không nên dùng.

– Bản thảo kinh tập chú: Ghét Qui giáp.

– Nhật hoa tử bản thảo: Ghét Bạch tiên bì.

– Dược đối: Phục linh làm sứ của nó vậy.

– Y học nhập môn: Người khí thịnh đen xanh cấm dùng, người biểu tà vượng cũng không được dùng, người âm hư cũng nên dùng ít. Sợ Phòng phong.

– Bản thảo kinh sơ: Người khó thở hung cách, trường vị có tích trệ chớ dùng; Người dương thịnh âm hư kỵ vậy; Người thượng tiêu nhiệt nặng, hạ tiêu hư hàn kỵ vậy; Bện nhân giận nhiều, Can khí không hòa chớ uống; Mụn đậu huyết phận nhiệt nặng kỵ vậy.

Nghiên cứu hiện đại

  1. Thành phần hóa học:

– Bổn phẩm chủ yếu hàm chứa glycoside, polysaccharide, flavonoids, amino acids, nguyên tố vi lượng v.v…(Trung dược học).

– Hòang kì hàm chứa sucrose, glucuronic acid, chất dịch dính, một số lọai amino acid, chất đắng, sinkaline, lycine, folic acid (FA) (65 microgram /100g rễ khô),còn phân ly ra2′,4′-dihydroxy -5,6-dimethoxyisoflavane và Kumatakenin。Trong sản phẩm xà phòng hóa của chất mở Nội Mông Hòang kì phân ra linoleic acid, linolenic acid;Trong thành phần phi xà phòng hóa có β-sitosterol (Trung dược đại từ điển).

  1. Tác dụng dược lý:

– Hòang kỳ có thể xúc tiến chuyển hóa cơ thể, chống mệt mỏi, xúc tiến đổi mới huyết thanh và protein tạng gan; Có tác dụng lợi niệu rõ rệt, có thể tiêu trừ chứng tiểu protein viêm thận thực nghiệm; có thể cải thiện hiện tượng động vật thiếu máu; Có thể thăng cao đường huyết thấp, giáng thấp máu cao; Có thể hưng phấn hô hấp; Có thể tăng cường và điều tiết công năng miễn dịch của cơ thể, có tác dụng xúc tiến hệ thống interferon, có thể đề cao sức đề kháng của cơ thể; có tác dụng ức chế độ nhẹ đối với nhiều lọai vi rút gây ra bệnh biến tế bào như vi rút cúm v.v…, có tác dụng bảo hộ đối với chuột con nhiễm vi rút cúm; có tác dụng kháng khuẩn khá rộng, Hòang kì ở trong nuôi cấy tế bào, có thể làm cho số tế bào tăng nhiều rõ rệt, tế bào tăng trưởng mạnh, tuổi thọ dài; Có thể tăng cường lực co bóp cơ tim, bảo hộ hệ thống mạch máu tim, chống lọan nhịp tim, giãn mạch máu ngọai vi và động mạch vành, giáng thấp huyết áp, có thể giáng thấp lực dính của tiểu cầu, giảm bớt hình thành huyết khối, còn có tác dụng giáng mỡ máu, chống suy lão, chống thiếu ô xy, bảo hộ gan (Trung dược học).

– Có tác dụng cường tim, có thể tăng cường co bóp của tạng tim bình thường, tác dụng của nó rõ rệt nhất đối với tạng tim trúng độc và mệt nhọc; Có tác dụng lợi niệu độ vừa và giáng áp, có thể giãn đầu mút mạch máu tòan thân và mạch vành, do đó làm cho huyết áp hạ thấp, nhưng trên lâm sàng làm thuốc lợi niệu, giáng áp, rất ít sử dụng riêng mình nó, cần phối hợp với thuốc tương ứng, dùng trị thũy thũng thuộc hư và cao huyết áp thuộc hư, có hiệu quả nhất định; Có tác dụng cầm mồ hôi, có thể bài tiết lỗ chân lông bế tắc, ức chế phát hãn quá nhiều; Có tác dụng lọai kích thích tố sinh dục. (Trung y phương dược học).

– Theo thí nghiệm kháng khuẩn, bổn phẩm có tác dụng ức chế đối với nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, trực khuẩn bệnh nhiệt thán, khuẩn liên cầu tan máu, trực khuẩn bạch hầu, khuẩn song cầu viêm phổi, khuẩn cầu chùm sắc vàng kim v.v…(Trung y phương dược học).

  1. Nghiên cứu lâm sàng: Có báo cáo bổn phẩm phối hợp Đảng sâm điều trị tiểu protein viêm thận mạn tính và bệnh tiểu đường có hiệu quả (Trung y phương dược học).

Bài thuốc cổ kim tham khảo

+ Phương thuốc 1:Trị tự ra mồ hôi: Phòng phong, Hùynh kỳ đều 1 lượng, Bạch truật 2 lượng. Thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần uống 3 chỉ, nước 1 chén rưỡi, gừng 3 lát sắc uống.

(Đơn khê tâm pháp – Ngọc bình phong tán)

+ Phương thuốc 2:

Trị phong thấp mạch phù, mình nặng, ra mồ hôi sợ gió: Phòng kỷ 1 lượng, Cam thảo nửa lượng (sao), Bạch truật 7 chỉ rưỡi, Hòang kì 1 lượng 1 phân (Bỏ mầm). Thuốc trên nghiền nhỏ như hạt đậu mè, mỗi lần múc thìa 5 chỉ, gừng tươi 4 lát, Đại táo 1 trái, nước 1 chén rưỡi, sắc 8 phân, bỏ bã uống ấm, rất lâu lại uống.

(Kim qủy yếu lược – Phòng kỷ Hòang kỳ thang)

+ Phương thuốc 3:

Trị ung nhọt các chứng độc mủ bên trong đã thành, không xuyên vỡ: Hòang kì 4 chỉ, Sơn giáp (nghiền bôt 1 chỉ, Tạo giác châm 1,5 chỉ, Đương qui 2 chỉ, Xuyên khung 3 chỉ. Nước 2 chén, sắc 1 chén rưỡi, trước sau tùy bệnh, lúc đi ngủ cho vào rượu 1 ly cũng được.

(Ngọai khoa chính tông – Thấu nùng tán).

+ Phương thuốc 4:

Trị thạch thư màu da không thay đổi. lâu ngày không làm mủ: Hòang kỳ chích 2 lượng, Đại phụ tử (Bỏ núm vỏ, ngâm tẩm nước gừng, cắt phiến, lửa nướng chích, dùng nước gừng dưới mức 1 chén là độ) 7 chỉ, Thỏ ty tử (tẩm rượu, hấp), Đại hồi hương sao đều 1 lượng. Tất cả nghiền bột, rượu đánh hồ làm hòan. Mỗi lần uống chỉ, mỗi ngày uống 2 lần, bụng đói, trước bửa ăn rượu vàng tống uống.

(Ngọai khoa đại thành – Hòang cao hòan).

+ Phương thuốc 5:

Trị ung nhọt phát bối, ung nhọt ruột, ung nhọt vú, vô danh sưng độc, mưng đỏ làm đau nhức, ghét lạnh sốt cao, tương tự như thương hàn, không hỏi người già trẻ hư yếu: Nhẫn đông thảo (Bỏ cành), Hòang kì (bỏ mầm) đều 5 lượng, Đương qui 1 lượng 2 chỉ, Cam thảo (chích) 1 lượng. Thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần uống 2 chỉ, rượu 1 chén rưỡi, sắc đến 1 chén, nếu bệnh phần trên, uống sau bửa ăn, bệnh ở dưới, uống trước bửa ăn, tí nữa lại uống lần thứ 2, lưu lại bã đắp ngòai, chưa thành mủ tiêu bên trong, đã thành mủ tức vỡ.

(Cục phương – Thần hiệu thác lý tán).

+ Phương thuốc 6:

Trị ung nhọt sau khi mủ đã tiết ra, vỡ lóet không thể thu miệng: Hòang kỳ 3 chỉ, Nhân sâm 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Ngũ vị 1 chỉ, Sinh khương 3 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Mẫu lệ 3 chỉ. Sắc nước nửa chung lớn, uống ấm.

(Tứ thánh tâm nguyên – Hòang kỳ Nhân sâm Mẫu lệ thang)

+ Phương thuốc 7:

Trị các chứng hư bất túc, tay chân cơ thể mỏi mệt, trong ngực phiền tim hồi hộp, thường tiêu khát, miệng môi khô táo, sắc mặt héo vàng, không thể ăn uống, hoặc trước khát mà muốn phát nhọt ghẻ, hoặc bệnh ung nhọt sau đó khát: Hòang kì 6 lượng (bỏ mầm, mật thoa nướng), Cam thảo 1 lượng (nướng). Thuốc trên cắt nhỏ, mỗi ngày 2 chỉ, nước 1 chén, táo 1 trái, sắc 7 phân, bỏ bã uống ấm, bất cứ lúc nào.

(Cục phương – Hòang kì Lục nhất thang).

+ Phương thuốc 8:

Trị da nóng táo nhiệt, khát uống, mắt đỏ mặt đỏ, mạch hồng đại mà hư, ấn nặng hòan tòan vô lực, chứng giống Bạch hổ, chỉ có mạch không trường, uống nhầm Bạch hổ thang ắt chết, bệnh này mắc là do quá đói lại lao nhọc: Hòang kỳ 1 lượng, Đương qui (rửa rượu) 2 chỉ. Thuốc trên cắt nhỏ, làm uống 1 lần, nước 2 chén, sắc đến 1 chén, bỏ bã uống ấm, bụng đói uống trước bửa ăn.

(Nội ngọai thương biện – Đương qui bổ huyết thang).

+ Phương thuốc 9:

Trị trường phong ỉa máu: Hòang kì, Hòang liên lượng bằng nhau. Thuốc trên nghiền bột, hồ bột hòan, lớn như hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 30 hòan, nước cơm uống.

(Tôn Dụng Hòa)

+ Phương thuốc 10:

Trị tiểu máu sa lâm, đau không chịu được: Hòang kì, Nhân sâm lượng bằng nhau, nghiền bột, dùng củ cải lớn 1 cái, cắt dày như ngón tay 4, 5 lát, mật 2 lượng, ngâm nướng cho hết, không cho cháy, chấm bột, không kễ lúc nào, dùng nước muối uống.

(Vĩnh lọai kiềm phương).

+ Phương thuốc 11:

Trị bạch trọc: Hòang kì muối sao nửa lượng, Phục linh 1 lượng. Thuốc trên nghiền bột, mỗi lần uống 1, 2 chỉ, bụng đói nước sôi trắng tồng uống.

(Kinh nghiệm lương phương – Hòang kì tán)

+ Phương thuốc 12:

Trị tửu đản, tâm đau, cẳng chân đầy, tiểu tiện vàng, uống rượu phát đen vàng ban đỏ, do quá say gặp gió, nước nhập gây ra: Hòang kì 2 lượng, Mộc lan 1 lượng. Nghiền bột vậy, rượu uống thìa 1 tấc vuông, ngày 3 lần.

(Bổ khuyết trửu hậu phương).

+ Phương thuốc 13:

Trị người già đại tiện bí rít: Miên Hòang kì, Trần bì ( bỏ xơ trắng) đều nửa lượng. Thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần uống 3 chỉ, dùng Đại ma nhân (hạt mè lớn) 1 hợp nghiền nát, lấy nứơc đặc 1 chén, lọc bỏ bã, cho vào đồ đựng bạc, đá sắc, lúc có sữa nỗi lên, thì gia thêm mật ong 1 thìa lớn, lại sắc cho sôi, hòa thuốc bột, bụng đói uống trước bửa ăn.

(Cục phương – Hòang kì thang)

+ Phương thuốc 14:

Trị đốt tay chân rụng thóat, nhưng có liền da, không được cử động, bèn gân rời ra vậy: Hòang kì 3 lượng, rượu tẩm 1 đêm, nướng nghiền, rượu uống 2 chỉ, đến khỏi thì ngừng.

(Đắc phối bản thảo).

+ Phương thuốc 15:

Trị khí hư thai động, đau bụng ra nước: Gạo nếp 1 hợp, Hòang kì, Xuyên khung đều 1 lượng. sắc nước uống, phân 3 lần uống.

(Phụ nhân lương phương – Hòang kì thang).

+ Phương thuốc 16:

Trị đỉnh đậu vùi lấp vào trong da mỏng mà mềm: Chích Hòang kì 3 chỉ, Nhân sâm 1,5 chỉ, Chích cam thảo 7 chỉ, Xuyên khung 1 chỉ, Nhục quế 1 chỉ, Bạch truật 1 chỉ. Gia vào trái táo cùng sắc, khí không hành gia Mộc hương.

(Chủng đậu tân thư – Bảo nguyên thang).

+ Phương thuốc 17:

Trị trẻ con tiểu tiện không thông: Miên Hòang kì nghiền bột, mỗi lần uống 1 chỉ, nước 1 chén, sắc đến 5 phân, uống ấm bất kễ lúc nào.

(Tiểu nhi vệ sinh tổng vi luận phương).

+ Phương thuốc 18:

Trị trẻ con dinh vệ bất hòa, da thịt gấy mòn, cốt chưng khát nhiều, không muốn ăn uống, bụng đầy tiêu chảy, khí hư kém sức: Hòang kì nướng, Nhân sâm, Đương qui, Xích thược dược, Trầm hương đều 1 lượng, Mộc hương, Quế tâm đều nửa lượng. thuốc trên cắt nhỏ, mỗi lần uống 1chỉ, gừng tươi 2 lát, táo nửa trái, nước nửa chén, sắc đến 3 phân, bỏ bã uống ấm.

(Phổ tế phương – Hòang kỳ tán)

+ Phương thuốc 19:

Trị thóat giang: Sinh hòang kì 4 lượng, Phòng phong 3 chỉ. Sắc nước uống.

(Nội Mông Cổ – Trung thảo dược tân y liệu pháp tư liệu tinh tuyển).

+ Phương thuốc 20:

Hòang kì 50g, sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang, điều trị viêm mũi dị ứng, viêm mũi mạn tính và phòng ngừa trẻ con cảm nhiễm đường hô hấp trên v.v…hiệu quả khá tốt.

+ Phương thuốc 21:

Mỗi ngày uống dịch chiết Hòang kì 2ml (hàm chứa 2g thuốc sống), phòng ngừa trẻ con cảm nhiễm đường hô hấp trên 100 ca, có hiệu suất 94 %.

(Cáp Nhĩ Tân y khoa đại học học báo, 1993, 5: 66)

+ Phương thuốc 22:

Liều lớn Hòang kì điều trị Luput ban đỏ hệ thống: Tổng cộng điều trị 17 ca. liều Hòang kì mỗi ngày là 30, 60 hoặc 90g sắc uống, liệu trình 2 ~ 12 tháng, đều thu được hiệu quả, trong đó hiệu quả rõ 6 ca, hữu hiệu 11 ca. Đại đa số bệnh nhân lâm sàng biểu hiện chuyển biến tốt hoặc tiêu giảm và cùng nhất chí tăng cường công năng miễn dịch tế bào, hiệu suất hình thành vòng hoa vốn giảm thấp tăng cao. Bộ phận ca bệnh nặng, độ vừa hoặc bệnh nhân có tổn thương tạng thận, vốn đã trong tiếp nhận liều nhỏ cocticoit vô hiệu, sau khi dùng thêm Hòang kỳ tình trạng cải thiện rõ, và giảm bớt liều dùng kích thích tố.

(Lâm sàng y học tạp chí 1 (2) : 34 – 36, 1985)

+ Phương thuốc 23: Ung thư mũi cổ họng dùng Huỳnh kỳ kháng nham thang.

Tiên Huỳnh kỳ, Bạch hoa xà thiệt thảo mỗi vị 100g, Hoàng liên 20g, Bán chi liên 50g, mỗi ngày 01 thang, sắc uống.

+ Phương thuốc 24 : – Thành phần: Đảng sâm 20~30g; Hoàng kỳ, Đan sâm, Ngũ vị tử, Câu kỉ tử, Phục linh mỗi vị 15g, Cam thảo 6g, Xuyên khung 10g, Đương qui 10~15g.

– Gia giảm: Nếu người vùng gan đau nhức, gia thêm Huyền hồ sách, Viễn chí mỗi vị 10~15g, nếu người bị bụng nước gia Trư linh 20g, Trạch tả 15g.

– Cách dùng: Mỗi ngày 1 thang, phân 2 lần uống, mỗi tuần uống liên tục 5 thang, ngừng 2 ngày. 8 tuần là 1 liệu trình.

– Chứng thích ứng: Viêm gan B mạn tính.

– Hiệu quả điều trị: Dùng thuốc trên điều trị bệnh nhân viêm gan B mạn tính 71 ca, trong đó cơ bản trị khỏi 41 ca, hiệu quả rõ 14 ca, hữu hiệu 10 ca, vô hiệu 6 ca. So sánh với nhóm đối chiếu Tây dược có khác biệt rõ rệt (P< 0,5). Hiệu quả trị liệu tốt hơn đối với nhóm đối chiếu Tây dược.

+ Phương thuốc 25:- Thành phần: Hoàng kỳ 100g, Kim ngân hoa 50g, Bồ công anh 30g, Đương qui 25g, Sanh cam thảo 15g.

– Cách dùng: Đem thuốc trên sắc nước 3 lần, hợp các dịch thuốc lại độ 1000ml, phân 3 ~4 lần uống, mỗi ngày 1 thang.

– Hiệu quả điều trị: Dùng phương này điệu trị bệnh nhân bị nhọt sưng 121 ca, uống 5 ~10 thang, đều trị khỏi.

Các phương thuốc bổ dưỡng thường dùng:

Hoàng Kỳ bổ huyết thang (thang thuốc hoàng kỳ bổ máu)

Hoàng Ky 30g

Đường qui (sao tẩm rượu) 6g

Cả hai vị đổ nước vào sắc hai lần, trộn lần với nhau;

Uông ngay hai lần.

Dùng cho người mệt mỏi nội thương, khí hư, huyêt hư, như thiếu máu, giảm bạch cấu, sau khi lở loét, mủ quá nhiều, vết thương lâu không lành, phụ nữ phát sốt khi hanh kinh hoặc sau khi đẻ, mất máu nhiều cơ thể suy nhược v.v…

Kỳ qui thang (thang hoàng kỳ – thịt rùa)

Hoàng kỳ 60g

Thịt rùa 250g

Chỉ xác rang 15g

Cho nước vào hầm chín, bỏ bã thuốc, ăn thịt, uống thang. Chủ trị bệnh sa dạ dày.

Hoàng kỳ trư đề thang (thang chân giò, hoàng kỳ)

Hoàng kỳ 20g

Chân giò 1 chiếc

Đại táo 15g

Cho nước vào hẩm chín, bỏ bã thuốc, ăn thịt, ụỗng thang chủ trị bệnh sa dạ con, lòi dom.

Hoàng kỳ thang (thang hoàng kỳ)

Hoàng ky 20 – 30g

Sắc nước uống nhiều lần.

Chù trị các chứng khí hư, thiếu lực, bệnh lở loét và viêm dạ dày co thắt mạn tính, trẻ em hen phế quản và có thể phòng cảm cum.

Kỳ ngư thang (thang hoàng kỳ cá quả)

Hoàng kỳ 30g

Cá quả 250g

Cho nước, gia vị vừa phải, hầm chín, ăn cá, uống thang, dùng cho người bị viêm thận phù nề.

Bổ dương hoàn ngũ thang

Hoàng Kỳ 30g

Đương qui 6g

Địa long 3g

Xích thược 3g

Đào nhân 3g

Hồng hoa 3g

 Xuyên khung 30g

Sắc 2 nước, trộn lần, uống ngày 2 lần.

Thường dùng cho người phục hỏi sau khi bị bệnh não, điều dưỡng tại nha như di chứng não sau khi trúng gió, di chứng trẻ em sau khi tê liệt, và bị liệt nửa người do mọi nguyên nhân, teo cơ chân hoặc tay v.v…

Hoàn nải thang (thuốc tăng sữa)

Hoàng Kỳ 60g

Lộ lộ thông 12g

Đảng sâm 12g

Tê tê 15g

Cát ngạch 12g

Mộc thông 6g

Vương bất lưu hành 12g

Các vị trên hầm với chân giò ăn, dùng cho bà mẹ ít sữa.

Trị ung sang phương (Thuốc chữa ung loét)

Hoàng Kỳ 30g

Đương qui 15g

Bồ công anh 30g

Vương bất lưu hành 15g

Ngân hoa 30g

vẩy Tê tê 15g

Địa đinh 20g

Cát ngạnh 12g

Cho vẩy tê tê vào ninh trước 10 phút, sau đó cho tất cả các vị thuốc khác vào sắc chung trong 10 phút, chắt lấy nước, uống ngày một thang, chia 2 lần.

Dùng cho người khí huyết vận hành thất thường, các chất độc ngưng tụ trong cơ trong thịt dẫn tới việc nảy sinh những ung nhọt trên cơ thể.

Hoàng Kỳ nhân sâm mẫu lịch thang (thang con hà, nhân sâm, hoàng kỳ)

Hoàng Kỳ 15g

Con hà 15g

Nhân sâm 15g

Cam thảo 10g

Gừng tươi 15g

Ngũ vị tử 5g

Phục linh 15g

Con hà đem nấu trước 10 phút, sau đó cho các vị khác vào sắc chung hai nước, trộn lẩn, uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Chủ trị ung nhọt vỡ mủ xong không liền miệng được, hoặc các vết mô nhiễm trung để lâu không khô miệng.

Ngọc bình phong thang (thang thuốc ngọc bình phong)

Hoàng Kỳ 18g

Bạch truật 12g

Phong phong 9g

Cả ba sắc 2 nước, trộn lẫn, uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Dùng cho người thể hư, dị cảm ngoại tà, hoặc sau khi khỏi mụn nhọt toàn thản ngứa ngáy, dị ứng thuốc sinh ra bệnh mẩn tịt v.v…

Giáng đường tiêu khát thang (Thang thuốc tiêu khát, giảm đường trong máu)

Hoàng Kỳ 20g

Mạch môn đông 10g

Smh địa 30g

Thiên hoa phấn 15g

Sơn dược 30g

Ngũ vị tử 9g

Huyền sâm 15g

Sắc chung hai nước, trộn lẫn, uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Phương thuốc này có tác dụng bổ khí, bổ tỳ, tiêu khát sinh nước bọt, có thể chữa trợ giúp cho người bị bệnh đái đường.

Hoàng Kỳ kiến trung thang.

Hoàng kỳ sao 20g

Cam thảo sao 6g

Bạch thược 12g

Quế chi 6g

Kẹo mạch nha 2 – 3 thìa

Trừ kẹo mạch nha, các vị trên cho vào sắc chung 2 nước, trộn lẫn, đổ kẹo mạch nha vào khuấy tan, uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Dùng cho người đau dạ dày và loét hành tá tràng, do tỳ vị hư hàn sinh ra.

Những cấm kỵ khi dùng thuốc:

Người bệnh cao huyết áp, tim không bình thường, hay thở hổn hển, cần thận trọng trong khi sử dụng.

Người bị tức ngực, tức bụng, có chất tích tụ trong ruột và dạ day không được sử dụng.

Người hay tức giận, can khí bất hoà không được sử dụng.

Người thuộc thực nhiệt kiêng không dùng.

Tìm kiếm điều bạn cần
Đừng quên chia sẻ nếu thông tin hữu ích

Hỏi đáp - bình luận