Hình ảnh và tác dụng chữa bệnh của cây Bồ Công Anh

Vị thuốc Đông y

Bồ Công Anh

Tên khác:            Diếp dại, diếp trời, mũi mác,

rau bồ cóc, rau mét, phắc bao (Tày), lày máy kìm (Dao). Tên khoa học: Lactuca indica L.

Họ Cúc   (Asteraceae)

MÔ TẢ

Cây thảo, cao 0,5 – l,5m. Thân hình trụ, nhẵn, màu lục hoặc điểm những đóm tía. Lá mọc so le, không cuống, những lá phía dưới xẻ thùy hẹp và sâu, mép khía răng nhọn, các lá phía giữa và gần ngọn ngắn và hẹp hơn, có răng thưa hoặc hoàn toàn không xẻ.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc ngọn thân thành chùy dài phân nhánh, mang nhiều đầu, mỗi đầu có 8 – 10 hoa màu vàng nhạt, ống tràng mảnh, tràng có lưỡi dài, nhị 5, vòi nhụy có gai.

Quả bế, màu đen, đầu có mào lông trắng.

Toàn thân có nhựa mủ màu trắng.

Mùa hoa quả: tháng 6 – 9.

Bồ công anh
Bồ công anh

PHÂN BỐ, NƠI MỌC

Bồ công anh phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Bắc bán cầu gồm các nước Đông Nam Á, Ân Độ, Trung Quốc, Nhật Bản…

Ở Việt Nam, bồ công anh mọc hoang dại ở hầu hết các tỉnh từ miền núi đến đồng bằng, thường gặp ở những bãi hoang, ven sông, nương rẫy, vườn bỏ hoang.

BỘ PHẬN DÙNG, THU HÁI, CHẾ BIẾN

Cả cây bồ công anh được thu hái vào đầu mùa hạ, lúc cây chưa có hoa. Đem về, cắt bỏ rễ, rửa sạch, để tươi hoặc phơi, sấy khô.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Bồ công anh chứa protid (3,4%), glucid (1,1%), chất xơ, caroten, vitamin c, chất đắng là lactucin, taraxasterol, P-amyrin.

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

Bồ công anh đã được nghiên cứu dược lý thấy thể hiện rõ tác dụng tiêu độc, chống viêm và an thần.

CÔNG DỤNG VÀ LIỀU DÙNG

Dược liệu bồ công anh có vị đắng, hơi ngọt, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm chữa các chứng mụn nhọt, sưng vú, áp xe, đầu đinh, bắp chuối, chốc lở, rôm sẩy.

Liều dùng hàng ngày: 20 – 30g lá tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước và ít muối, gạn uống. Hoặc 10 – 15g lá phơi khô, sắc uống.

Có thể nấu cao lỏng bồ công anh với tỷ lệ một phần dược liệu với 10 phần nước để dùng dần.

BÀI THUỐC

  • Chữa sưng vú: Bồ công anh (30g), lá mua non (20g), kim ngân hoa (10g), rễ đơn châu chấu (10g), rễ cây trôm (10g). Tất cả để tươi, giã nát, trộn với ít nước vo gạo, đắp băng. Ngày làm một lần.

Hoặc bồ công anh (30g), sài hồ (12g), thiên hoa phấn (12g), quả dành dành (10g), sinh địa (10g). Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày.

  • Chữa nhọt, làm nhọt chóng mưng và vỡ mủ: Bồ công anh, phối hợp với lá na, lá ớt, lá đại bi, lá táo: Tất cả để tươi, mỗi thứ một nắm nhỏ (khoảng 30g) rửa sạch, giã với ít muối, đắp và băng.

Hoặc bồ công anh (30g), măng tre mới nhú (20g), gừng (5g). Sắc uống làm hai lần trong ngày. Đồng thời, lấy một khúc cành xương rồng bà có gai dài khoảng lOcm, nướng chín, giã với lá ớt, lá mồng tơi (một dúm mỗi thứ), đắp.

  • Chữa sưng tấy, mụn nhọt, lở ngứa: Bồ công anh (20g), sài đất (10g), quả ké đầu ngựa (10g), kim ngân hoa (10g), cam thảo đất (5g).

Tất cả phơi khô, giã nhỏ, hãm với nước sôi, uống trong ngày.

Hỏi đáp - bình luận