Hoàng cầm

0
Hoàng cầm
Hoàng cầm

HOÀNG CẦM

Tên gọi:

  • Hoàng là vàng, cầm là kiềm (màu vàng sẫm). Vị thuốc có màu vàng sẫm nên gọi là Hoàng cầm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Khi phơi khô ruột xốp nhẹ, nên gọi tên Nội hư, Khô trường, Hủ trường, Khô cầm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tên Hán Việt khác:

Hủ trường (Bản Kinh), Không trường, Túc cầm (Biệt Lục), Hoàng văn, Kinh cầm, Đỗ phụ, Nội hư, Ấn dầu lục (Ngô Phổ Bản Thảo), Khổ đốc bưu (Ký Sự), Đồn vĩ cầm, Thử vĩ cầm (Đường Bản Thảo), Điều cầm (Bản Thảo Cương Mục), Khô cầm, Bắc cầm, Phiến cầm, Khô trường, Lý hủ thảo, Giang cốc thụ, Lý hủ cân thảo (Hòa Hán Dược Khảo), Điều cầm, Tử cầm, Đạm tử cầm, Đạm hoàng cầm, Tửu cầm, Đông cầm, Hoàng kim trà, Lạn tâm hoàng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tên khoa học:

Scutellaria baicalensis Georgi (Scutellaria macratha Fisch).

Họ khoa học:

Họ Hoa Môi (Lamiaceae).

Mô tả:

Cây thảo sống dai, cao 30-60cm, có thể tới 50cm, có rễ hình to thành hình chùy, vỏ ngoài màu đen. Thân mọc đứng hình 4 cạnh, phân nhánh ở gốc. Lá mọc đối cuống rất ngắn hoặc có cuống, cuống lá hình mác hẹp gợn sóng, đầu hơi tù, dài 1,5-3cm, rộng 2-7mm, lá nguyên. Hoa mọc thành bông ở đầu cành nằm về một bên, màu lam tím, tràng hoa gồm 2 môi 4 nhị, 2 nhị lớn dài hơn tràng, màu vàng, bầu có 4 ngăn.

Địa lý:

Cây này nước ta không có hiện phải nhập của Trung Quốc. Cây thường sống ở vùng cao nguyên đất vàng, sườn núi về hướng mặt trời mọc, nơi khô ráo. Có nhiều ở Thiểm Tây, Diên An. Phân bố nhiều ở các tỉnh vùng Bắc và Tây Nam Trung Quốc.

Thu hái, sơ chế:

Thu hái vào mùa xuân thu rửa sạch đất cát phơi khô sơ cạo bỏ vỏ thô rồi phơi tiếp.

Phần dùng làm thuốc:

Rễ (Radix Scutellariae). Loại bên trong cứng đầy chắc mịn ngoài màu vàng trong xanh, thịt đầy rỗng ruột ít là loại tốt, loại thô hoặc nhỏ không đều, lõi có khe bộng màu đen là loại xấu, loại sau khi gặp ẩm biến thành màu đen thì không dùng làm thuốc.

Mô tả dược liệu:

Rễ khô hình trụ tròn hoặc hình chùm xoắn, ở đỉnh hơi khô, nhỏ dần về phía dưới, cong, dài chừng 12cm-16cm, đoạn trên thô khoảng 24-25mm hoặc hơn 35mm.

Mặt ngoài màu nâu vàng, phần trên hơi sần sùi có những đường nhăn dọc, xoắn hoặc có những vân hình mạng, phía dưới ít sần sùi, có đường nhăn nhỏ hơn. Phần trên và phần dưới đều có vết tích của rễ con, bên trong có màu vàng lục, chính giữa rỗng ruột, màu nâu vàng. Rễ gìa phần lớn rỗng ruột, bên trong có màu đen nâu, gọi là Khô cầm hay Phiến cầm. Rễ mới, bên trong đầy ruột gọi là Tử cầm hoặc Điều cầm (Dược Tài Học).

Bào chế:

  • Hoàng cầm dùng rượu sao thì khí nó đi lên, sao với nước tiểu thì khí nó đi xuống, sao với nước mật Lợn thì tả hỏa ở can đở Chữa những chứng nóng thường thì dùng sống (Bản Thảo Cương Mục).
  • Thứ Khô cầm (có tác dụng tả phế hỏa), làm tiêu khí nóng ở da thịt) thì bỏ đầu, bỏ ruột đen rửa sạch, ủ kín một đêm cho mềm, bào mỏng, 1-2 Phơi khô dùng sống. Sau khi phơi khô tẩm rượu 2 giờ sao qua (cách này thường dùng) (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Hấp chín bào mỏng phơi khô, dùng sống, sao với rượu, sao với Muối, sao với nước Gừng, sao với mật Heo tùy theo phái của Thầy thuốc
  • Trị bệnh ở phần trên thì sao với rượ Tả hỏa ở Can, Đởm thì sao với nước mật heo (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Bảo quản:

Để nơi khô táo, tránh ẩm vì dễ mốc, để lâu bị mọt ăn.

Thành phần hóa học:

+ Baicalei, Baicalin, Wogonin, Wogonoside, Neobaicalein, b-Sitosterol, Benzoic acid (Trung Dược Học).

+ Baicalein, Neo Baicalein skullcapflavone, Baicalin, Wogonin, Wogonoside (Vieenj Nghiên Cứu Trung Y, Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1973, 7: 417).

+ Oroxylin Oroxylin A, Methoxylbaicalei Popova T P và cộng sự, A A, 1975, 82: 28553z).

+ Skullcapflavone (Chương Hộ Đạo Phu, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1975, 95 (1): 108).

+ Dihydrooroxylin A, Chrysin, 2’,5,8-Trihydroxy-7-Methoxyflavone, 2’, 5, 8- Trihydroxy-6,7-Dimethoxyflavone, 4’5, 7-Trihydroxy-6-Methoxyflavanone Cao Mộc tu Cáo, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1980, 100 (12): 1220).

Tác dụng dược lý:

Tác dụng miễn dịch: Tác dụng chống dị ứng của Baicalein liên hệ đến sự ức chế khả năng giải phóng enzym ra khỏi các tế bào, có lẽ do thủ thể ức chế. Tác dụng ngăn ngừa dị ứng này làm cho cơ dãn rathuốc có tác dụng đối với da của heo

được gây dị ứng và chất Histamin. Chất Baicalein và Baicalin có tác dụng gĩan phế quản đối với tiểu phế quản của heo bị gây dị ứng suyễn. Cả hai chất này có tác dụng ức chế phù co thắt và giảm tính thẩm thấu mao mạch ở chuột. Chất Baicalin cũng ngăn ngừa phổi xuất huyết ở chuột xuống mức thấp nhất (Chinese Herbal Medicine).

Tác dụng kháng khuẩn: Hoàng cầm có kháng phổ rộng. Trong thí nghiệm, nó có tác dụng ức chế đối với nhiều khuẩn bệnh gồm Tụ cầu vàng, Ytực khuẩn bạch hầu, phế cầu khuẩn, não mô viêm Neisseria. Có báo cáo cho thấy Tụ cầu khuẩn vàng kháng Peniciline lại rất nhậy ở trong Hoàng cầm.. nhiều thí nghiệm báo cáo cho thấy thuốc có tác dụng kháng lại trực khuẩn lao. Trong khi thuốc có dấu hiệu tốt đối với chuột thì lại không có tác dụng đối với heo Hà Lan. Cho chuột bị nhiễm virus dùng Hoàng cầm, không có dấu hiệu giảm tổn hại ở phổi và tăng thời gian sống hơn so với với nhóm đối chứng. Trong thí nghiệm cũng thấy có tác dụng kháng lại với nấm da và có khả năng diệt Leptospira (Chinese Herbal Medicine).

Tác dụng điều hòa nhiệt độ: Từ năm 1935, có báo cáo cho biết rễ Hoàng cầm có tác dụng hạ nhiệt (Chinese Herbal Medicine).

Tác dụng đối với huyết áp: nước sắc, cồn chiết, dịch truyền, kể cả nước và cồn trích Hoàng cầm đều có tác dụng hạ áp đối với chó, thỏ và mèo được gây mê. Cho uống hoặc chích đều làm hạ áp đối với chó có huyết áp bình thường hoặc huyết áp cao do thận. Một nghiên cứu về tác dụng hạ áp cho thấy: chất trích từ loại cây ở Vân Nam có tác dụng mạnh nhất, kế đến là loại của Hà Bắc, còn những chất trích từ phía Đông Bắc Trung Quốc thì yếu nhất. Đa số các nghiên cứu cho thấy tác dụng giáng áp của Hoàng cầm tùy thuộc vào tác dụng gĩan mạch (Chinese Herbal Medicine).

Tác dụng lợi tiểu: Nước sắc Hoàng cầm có tác dụng lợi tiểu đối với chó và người bình thường (Chinese Herbal Medicine).

Tác dụng chuyển hóa lipid: Nước sắc hỗn hợp Hoàng cầm, Hoàng liên và Đại hoàng không gây ảnh hưởng đối với Cholesterol/Phospholipid ở thỏ bình thường nhưng làm hạ lipid nơi người thực hiện chế độ cao ăn kiêng Cholesterol trong 7 tuần hoặc nơi người đã được trị bằng Thyroid (Chinese Herbal Medicine).

Tác dụng đối với mật: nước sắc hoặc cồn chiết xuất Hoàng cầm làm tăng lượng mật ở chó và thỏ. Ảnh hưởng này do Baicalei mạnh hơn là Baicalin. Thỏ bị thắt ống mật cho thấy Bilirubin tăng sau 1-6 giờ và giảm trong khoảng 24-48 giờ so với nhóm đối chứng (Chinese Herbal Medicine).

+ Tác dụng đối với vết vị trường: Nước sắc và cồn chiết xuấtHoàng câmg có tác dụng ức chế nhu động ruột. Cồn chiết xuất ức chế tác dụng của chất Pilocarpin, tác dụng này không ảnh hưởng bởi thần kinh phế vị (Chinese Herbal Medicine).

+ Tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương: Chất Baiclin làm giảm sự di chuyển và phản xạ của chuột (Chinese Herbal Medicine).

Tính vị:

+ Vị đắng, tính bình (Bản Kinh).

+ Tính rất hàn, không độc (Biệt Lục).

+ Vị đắng, ngọt (Dược Tính Luận).

+ Vị đắng, tính hàn (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Vị đắng, tính lạnh (Trung Dược Học).

Quy kinh:

+ Vào kinh thủ Thiếu âm Tâm, thủ Thái âm Phế, túc Thái âm tỳ, thủ Thiếu dương Tam tiêu, túc Thiếu dương Đởm (Bản Thảo Cương Mục).

Vào kinh Phế, Đại trường, Bàng quang, Đởm (Lôi Công Bào Chích Luận).

+ Vào kinh Tâm, Phế, Đại trường, Đởm (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Vào kinh Tâm, Phế, Can, Đởm, Đại trường (Trung Dược Học).

Tác dụng:

+ Tiết lợi, trục thủy, hạ huyết bế (Bản Kinh).

+ Tiêu cốc, lợi tiẻu trường, an tử huyết bế (Biệt Lục).

+ Tả thực hỏa, trừ thấp nhiệt, chỉ huyết, an thai (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Thượng hành tả phế hỏa, hạ hành tả Bàng quang hỏa, thanh thai nhiệt, trừ lục kinh thực hỏa thực nhiệt (Trấn Nam Bản Thảo).

+ Tả phế hỏa, thanh thấp nhiệt (Trung Dược Học).

Chủ trị:

+ Trị ho do Phế nhiệt, an thai, tiêu chảy, lỵ, bụng đau, hoàng đản, các loại bệnh nhiệt, ung nhọt, mắt đỏ, mắt sưng đau (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Trị ho do phế nhiệt, nhiễm trùng đường hô hấp trên, tiêu chảy, kiết lỵ do thấp nhiệt, nôn ra máu, chảy máu cam, tiêu ra máu, rong kinh, thai động không yên (do nhiệt), huyết áp cao, thấp chẩn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Liều dùng: 12 – 20g

Kiêng kỵ:

+ Tỳ vị hư hàn không có thấp nhiệt, thực hỏa, phụ nữ thai hàn không nên dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Phế có hư nhiệt, tiêu chảy do hàn hoặc hạ tiêu có hàn: không dùng (Trung Dược Học).

+ Ghét Hành sống, sợ Đơn sa, Mẫu đơn, Lê lô, được Sơn thù du, Long cốt làm sứ rất tốt (Dược Đối).

Một số phương thuốc có Hoàng cầm

– Hoàng liên giải độc thang

Hoàng liên          12g                                  Hoàng bá           8g

Hoàng cầm         8g                                    Chi tử                10g

Công năng: Thanh nhiệt, giải độc, tả hoả độc

Chủ trị: Hoả độc, nhiệt độc gây các ổ viêm, viêm cơ, viêm phổi …

– Cát căn cầm liên thang  gia vị

Cát căn                      20g                                     Hoàng liên       10g

Kim ngân hoa           16g                                      Hoắc hương    16g

Hoàng cầm              16g                              Méc thông      16g

Công năng: Thanh thấp nhiệt ở vị tràng

Chủ trị: Thấp nhiệt ở vị tràng gây ra tiêu chảy cấp, lỵ trực khuẩn

– Tả tâm  thang

Đại hoàng               8-24g                                     Hoàng liên 8-12g

Hoàng cầm            8-12g

Chủ trị: Nhiễm khuẩn toàn thân có biến chứng xuất huyết, mụn nhọt đinh râu, hoàng đản nhiễm khuẩn

– Long đờm thảo tả can thang

Long đờm thảo         8-12g      g                           Mộc thông    8g

Trạch tả                     8g                             Sài hồ            8g

Đương quy                2-6g                           Chi tử            8g

Cam thảo                   2g                                       Sa tiền tử       4g

Hoàng cầm                8g                              Sinh địa         8g

Công năng: Thanh thấp nhiệt ở can đởm

Chủ trị: Thấp nhiệt can đởm, viêm gan virus, viêm tói mật, ứ mật, vàng da, đau mắt đỏ

– Tiểu sài hồ thang

Sài hồ                 12g                         Bán hạ chế           12g

Hoàng cầm          8 g                         Gừng                      8g

Đảng sâm           12g                         Đại táo                   4 quả

Công năng: Hoà giải thiếu dương đởm

Chủ trị: Sốt lúc nóng, lúc lạnh

– Tam hoàng thang:

Hoàng cầm

Hoàng liên

Hoàng bá

Đồng lượng

Công năng: thanh nhiệt táo thấp, tả hoả, hạ sốt.

Chủ trị: Dùng khi sốt cao, viêm nhiễm đại tràng, bàng quang.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị mình nóng, miệng đắng, kiết lỵ, bụng đau, chất lưỡi hồng, mạch Huyền Sác: Hoàng cầm 12g, Cam thảo, Thược dược, mỗi thứ 8g, Đại táo 3 trái. Sắc uống (Hoàng Cầm Thang – Thương Hàn Luận).

+ Trị huyết ra lai rai do nhiệt: Hoàng cầm 40g sắc uống nóng (Thiên Kim Dực phương).

+ Trị nôn ra máu, chảy máu cam, lúc có lúc không, do tích nhiệt mà gây ra: Hoàng cầm 40g, bỏ ruột đen, tán bột. Mỗi lần dùng 12g, sắc với một ch n nước còn 6 phân uống nóng (Hoàng Cầm Tán – Thánh Huệ phương).

+ Trị trẻ nhỏ giật mình kinh sợ, khóc đêm: Hoàng cầm, Nhân sâm, đều 0,4g, tán bột. Mỗi lần uống một ít với nước sắc trúc diệp (Hoàng Cầm Tán – Thánh Tế Tổng Lục).

+ Trị thương hàn, tiêu tích nhiệt, tả hỏa ở ngũ tạng: Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng bá, các vị bằng nhau tán bột, chưng thành bánh, làm viên to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống20-30 viên với nước (Tam Bổ Hoàn – Đan Khê Tâm Pháp).

+ Trị trong Phế có hỏa: Phiến cầm sao, tán bột, trộn nước làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20-30 viên với nước (Thanh Kim Hoàn – Đan Khê Tâm Pháp).

+ Trị đầu đau ở đầu lông mày, phong nhiệt có đàm: Hoàng cầm ngâm rượu, Bạch chỉ, 2 vị bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước trà (Đan Khê Tâm Pháp).

+ Trị trẻ nhỏ giật mình kinh hoảng, khóc đêm: Hoàng cầm, Nhân sâm, 2 vị bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước (Phổ Tế phương).

+ Trị gan nóng sinh mờ mắt, không kể người lớn hay trẻ con: Hoàng cầm 40g, Đạm đậu xị 120g. Tán bột, mỗi lần dùng 12g, bọc trong gan heo, chưng chín mà ăn, uống với nước nóng, ngày 2 lần. Kiêng rượu và Miến (Vệ Sinh Gia Bảo).

+ Trị đầu đau thuộc Thiếu dương kinh hoặc Thái dương kinh, có thể ở chính giữa hay một bên: Phiến cầm, ngâm mềm với rượu, phơi nắng, tán bột. Mỗi lần uống 4g với rượu hoặc trà (Tiểu Thanh Không Cao – Lan Thất Bí Tàng).

+ Trị nôn ra máu, chảy máu cam, rong kinh: Hoàng cầm 120g, sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng rưỡi, mỗi lần uống 4g, uống nóng(Thốt Bệnh Loại phương).

+ Trị rong kinh, phụ nữ tuổi sau 49 (rối loạn tiền mãn tính): Điều cầm tâm 80g, ngâm với nước giấm gạo 7 ngày, sao khô rồi tẩm tiếp, làm như vậy cho được 7 lần, rồi tán bột. Hồ với giấm làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 70 viên, lúc đói với rượu nóng, ngày 2 lần (Cầm Tâm Hoàn – Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm phương).

+ Trị rong kinh: Hoàng cầm tán bột, mỗi lần uống 4g với Rượu tích lịch (dùng quả cân bằng Đồng đốt nóng rồi bỏ trong Rượu). Hứa Học Sĩ ghi rằng, khi bị rong kinh dùng thuốc bổ huyết và cầm máu, nhưng bài này trị dương thừa ở âm, cái gọi là trời nắng làm cho đất nóng, kinh nguyệt nóng tràn ra ngoài cũng là vì lẽ đó (Bản Sự phương).

+ An thai, thanh nhiệt: Điều cầm, Bạch truật, 2 vị bằng nhau, sao, tán bột, trộn với nước cơm làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 50 viên với nước hoặc thêm Thần khúc. Hễ khi có thai muốn điều lý thì dùng bài Tứ Vật bỏ Địa hoàng, thêm Bạch truật, Hoàng cầm, tán bột, uống luôn rất tốt (Đan Khê Tâm Pháp).

+ Trị sau khi sinh huyết ra nhiều, uống nước không dứt: Hoàng cầm, Mạch môn đông, các vị bằng nhau, sắc uống nóng (Dương Thị Gia Tàng).

+ Trị ra máu không cầm, tay chân lạnh ngắt muốn chết: lấy 8g Hoàng cầm, sao rượu, tán bột, uống với rượu thì cầm (Quái Chứng Kỳ phương).

+ Trị đơn độc, hỏa độc: Hoàng cầm tán bột, trộn với nước đắp vào (Mai Sư Tập Nghiệm).

+ Trị thấp nhiệt làm tiêu chảy, bụng đau: Hoàng cầm, Thược dược, Hoàng liên, Chích cam thảo, Xa tiền tử, Phòng phong, Thăng ma (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị bạch đới đau bụng: Hoàng cầm, Thược dược, Hoàng liên, Chích cam thảo, Hoạt thạch, Thăng ma (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị ho nhiệt do đàm ủng tắc: Hoàng cầm 18g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị ho do phế nhiệt: Hoàng cầm, Liên kiều, Chi tử mỗi thứ 12g, Đại hoàng, Hạnh nhân, Chỉ xác mỗi thứ 8g, Cát cánh, Bạc hà, Cam thảo, mỗi thứ 4g. Sắc uống (Hoàng Cầm Tả Phế Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị bụng đau do nhiệt lỵ, mót rặn: Hoàng cầm, Thược dược, mỗi thứ 12g, Hoàng liên 4g, Hậu phác 6g, Quảng trần bì 6g, Mộc hương 3,2g, Sắc uống (Gia Giảm Thược Dược Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị huyết nhiệt, thai động không yên: Hoàng cầm, Thược dược, Bạch truật, mỗi thứ 12g, Đương quy 8g, Xuyên khung 4g. Sắc uống (Đương Quy Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tham khảo “Dược phẩm vựng yếu”

Hoàng cầm thanh hỏa, dưỡng âm (có 4 thứ Hoàng cầm là Hủ trường cầm, Túc cầm, Điều cầm và Tử cầm).

Khí vị:

Vị đắng, tính đại hàn, không độc, thuộc âm dược, thăng đươc, giáng được, vào các kinh Thủ Thái âm, Thủ Thiếu âm, Thủ Thái dương, Thủ Dương minh, cũng vào cả kinh Túc Thiếu dương. Ghét củ Hành, sợ Đơn bì, Lê lô, Sa sâm, Đơn sâm, Sơn dược. Long cốt làm sứ.

Chủ dụng:

Tả hỏa của Phế kinh, tiêu đờm, lợi khí, tả hỏa ở Đại trường, dưỡng âm, thoái dương, trừ thấp nhiệt, không để lưu lại, đọng lại ở cơ biểu, tưới cho nguồn sinh hóa, thường tràn đầy ở Bàng quang, chữa chứng xích lỵ, mắt đỏ sưng trướng.

Tóm lại chữa được tất thảy mọi chứng nhiệt.

Hợp dụng:

Dùng với Bạch truật, Sa nhân thì an thai, đi với Hoàng liên, Hậu phác chữa đau bụng, dùng với mật Lợn thì trừ hỏa ở Can, Đởm, đi với Sài hồ thì trừ sốt rét, với Bạch thược thì trừ kiết lỵ, với Tang bạch bì thì tả Phế hỏa, với Ngũ vị tử, Mật mông, Mau lệ thì làm cho người ta có con, được Hoàng kỳ, Bạch liễn, Xích tiểu đậu thì chữa tràng nhạc, với Xuyên khung thì điều hòa Tâm huyết.

Kỵ dụng:

Nếu ỉa chảy do Tỳ hư, Thận hư, động thai do huyết hư và nhất thiết các chứng hư nhiệt đều phải kiêng dùng.

Cách chế:

Cho vào thuốc chữa chứng thực tà nhiệt thì dùng sống, vào thuốc chữa chứng ỉa chảy, kiết lỵ thì tẩm Rượu sao, cho vào thuốc an thai thì dùng Điều cầm, tẩm Rượu sao vàng thì đi lên, tẩm Đồng tiện sao vàng thì đi xuống.

Phụ:

HỦ TRƯỜNG CẦM: Bên trong rỗng và nát, tả Phế hỏa, chữa chứng khí nghịch ở trên cách mô, đờm nhiệt trong Dạ dày và hoàng đản do thấp nhiệt.

TÚC CẦM: Bên trong khô mà rỗng, chữa chứng Phế có đờm hỏa, thông lợi phần khí, chữa bệnh phong thấp lưu hành, nóng rét qua lại, các chứng sang đinh, sưng ngứa, nóng bỏng, dùng nó để mưng mũ và các chứng nhiệt, đờm nhiệt ở bộ phận trên.

ĐỀU CẦM: Bẻ chắc, thẳng mà cứng, tả hỏa ở Đại trường, trục thủy, tiêu thức ăn, cầm chứng ỉa chảy do nhiệt, chữa kiết lỵ ỉa ra máu, đau bụng, mót rặn, có công dụng dưỡng âm, thoái nhiệt.

TỬ CẦM: Bẻ chắc, tròn mà cứng, trừ nhiệt ở Bàng quang, giúp nguồn sinh hóa, lợi Tiểu trường, trừ 5 chứng lâm, trừ chứng Tiểu trường đau xoắn, đàn bà kinh bế, lại an thai.

Nhận xét:

Mọi thứ Hoàng cầm đều là thuốc thanh hỏa, thoái nhiệt, dưỡng âm, chứ không phải là thuôc giáng hỏa, phạt hỏa, thứ nhẹ xốp thì đi lên, thanh hỏa ở trên, loại rắn chắc thì đi xuống, thanh hỏa ở phần dưới, vì thế Hoàng cầm là chủ dược bổ Dạ dày, cũng như Bạch truật là thuốc bổ Tỳ.

Chứng đau bụng cảm hàn, Tim hồi hộp mà tiểu tiện không lợi, mạch không sác thì cấm dùng Hoàng cầm, còn chứng nhiệt quyết đau bụng, Phế nhiệt, tiểu tiện không lợi thì phải dùng nó.

Sài hồ rút được nhiệt là nhờ khí vị nó đắng, phát tán, chữa phần ngọn của hỏa, Hoàng cầm sỡ dĩ thoái được nhiệt là do tính vị hàn, hàn thì thắng nhiệt, trừ được gốc của hỏa.

“Hành giản trân nhu”-Hải Thượng Lãn Ông

  • Chữa đau tại hố mắt do phong nhiệt, do đờm dùng Hoàng cầm tẩm Rượu sao khô và Bạch chỉ, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, liều uống lđ với nước trà, ngày uống 2 lần.
  • Chữa đau gồ xương mày, thuộc phong, đờm, nhiệt, dùng Hoàng cầm, Bạch chỉ, lượng bằng nhau, tẩm rượu sao khô, tán nhỏ, liều uống 2đ với nước trà.
  • Chữa huyết lâm nóng đau, dùng Hoàng cầm 1 lạng sắc nước uống.
  • Chữa huyết táo, khát nước, uống hoài, dùng Hoàng cầm, Mạch môn, đều bằng nhau, sắc nước uống ấm.

“Thương hàn luận”

Bài Hoàng cầm thang

Hoàng cầm 12-16g Chích Thảo 6-8g Bạch thược 12-16g Đại táo 3-6 quả

Sắc, chia uống 2 lần trong ngày.

Có tác dụng thanh nhiệt, chỉ lỵ, hòa trung, chỉ thống. Trị tiêu chảy, kiết lỵ do Đại trường thấp nhiệt, bụng đau, người nóng, miệng đắng, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Thông thảo 4g

chia uống 3 lần trong ngày. Cố tác dụng trừ thấp,

Chữa thấp nhiệt nung nấu, mình nóng, khát nhưng không uống nhiều nước, ra mồ hôi, nhiệt vãng lai, rêu lưỡi vàns nhat mà trơn, mạch hoãn “Y tông kim giám”

Bài Hoàng cầm tứ vật thang

Là bài Tứ vật thang thêm Hoàng cầm

Có tác dụng bổ huyết, thanh nhiệt, điều kinh.

Chữa hành kinh đau bụng, sắc kinh đen sẫm, kinh nguyệt không đều.

“Cảnh Nhạc toàn thư”

Bài Bảo âm tiễn

Sinh địa 8g, Bạch thược 8g, Thục địa 8g, Tục đoạn 6g, Hoàng cầm 6g, Sơn dược 6g, Hoàng bá 6g, Cam thảo 4g.

Có tác dụng bổ huyết, thanh nhiệt, trừ thấp.

Chữa âm hư, nội nhiệt, đái hạ lâm trọc, kinh sớm, băng huyết, đại tiện ra huyết.

“Ôn nhiệt kinh vị”

Bài Cam lộ tiêu độc đan

Hoạt thạch 60g, Xuyên bối mẫu 20g, Nhân trần 44g, Mộc thông 20g, Hoàng cầm 40g, Hoắc hương 10g, Thạch xương bồ 24g, Xạ can 20g, Liên kiều 16g, Bạc hà 16g, Bạch đậu khấu 16g. Cùng tán nhỏ, mỗi lần uống 12-16g, ngày 3 lần.

Chữa bệnh thấp ôn mới mắc, tà còn ở khí phận, thấp nhiệt đều nặng, mình nóng, ngực bụng trướng đầy, không mồ hôi mà phiền, hoặc ra mồ hôi mà nhiệt không lui, táo bón, tiểu tiện đỏ, hoặc ỉa lỏng, hoặc họng đau, rêu lưỡi vàng.

“Ngân hải tinh vi”

Bài Tả can tán

Huyền sâm 16g, Đại hoàng 8g, Cát cánh 8g, Hoàng cầm 12g, Xa tiền 8g, Khương hoạt 8g, Đương quy 10g, Tri mẫu 8g, Long đởm 10g, Mang tiêu 6g.

Có tác dụng tả Can hỏa.

Trị chứng tròng mắt kẻo màng mộng trắng và cứng.

“Hướng dẫn sử dụng các bài thuốc”

Bài Tam hoàng tả tâm thang

Đại hoàng 4g, Hoàng cầm 4g, Hoàng liên 4g.

Có tác dụng thanh nhiệt, hạ hỏa rất mạnh.

Chữa người thực nhiệt, mạch hồng đai sác, biếu hiện mắt đỏ, mắt mờ, khô rít, mặt đỏ, sinh mộng mắt sùi lên như mào gà, huyết áp cao, đổ máu cam, thổ huyết, trĩ huyết, xuất huyết não, xuất huyết tử cung, người táo bón, viêm loét Dạ dày, mụn nhọt ngoài da, đều do máu có nhiệt độc.

Kiêng kỵ: Người có mạch hư không dùng được bài này.

Bài Tam vật hoàng cầm thang

Hoàng cầm 6g, Khổ sâm 6g, Sinh địa 12g.

Có tác dụng dưỡng huyết, thanh nhiệt, giải độc.

Chữa người huyết kém, trong không khổng chế được hỏa, ngoài không đuổi được ngoại tà, ấy là người sốt khi có thai và khi sinh đẻ, dùng thuốc này rất hiệu nghiệm.

“Phụ đạo xán nhiên”-Hải Thượng Lãn Ông

Bài Tam họp bảo thai phương

Thục địa            Đương quy

Bạch truật            Điều cầm

Tục đoạn                Đỗ trọng

Các vị bằng nhau, tán nhỏ, thêm Mật làm hoàn, mồi lần uống 8-12g, ngày 2 lần.

Chữa người von quen dạ sấy thai.

Bài này hợp dụng 3 bài an thai: Nội bổ hoàn, Đỗ trọng hoàn và Bạch truật tán nên gọi là Tam họp bảo thai. Nếu khí huyết hư nhiều nên dùng bài Thái sơn thạch bàn tán gia thêm cao Ban long. (Xem vị Nhân sâm).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here