Bạch truật

Vị thuốc Đông y

Bạch truật ( 白术 )

bạch truật phiến
bạch truật phiến

Tên và nguồn gốc

+ Tên thuốc: Bạch truật (Xuất xứ: Đào Hoằng Cảnh).

+ Tên khác: Sơn kế (山蓟), Dương bão kế (杨抱蓟), Thuật (术), Sơn giới (山芥), Thiên kế (天蓟), Sơn khương (山姜), Khất lực già (乞力伽), Sơn tinh (山精), Sơn liên (山连), Đông bạch truật (冬白术).

+ Tên Trung văn: 白术 BAIZHU

+ Tên Anh Văn: Largehead Atractylodes Rhizome, Rhizome of Largehead Atractylodes

+ Tên La tinh: Atractylodes macrocephala Koidz. [A-tractylis macrocephala (Doidz.) Hand.-Mand.-Mazz.]

+ Nguồn gốc: Là thân rễ của Bạch truật thực vật họ Cúc (Composite).

Bạch truật Atractylodes macrocephala Koidz.

 – Thu hoạch –

Tiết sương giáng (vào ngày 23 hoặc 24 tháng 10) đến lập đông (tiết bắt đầu mùa đông vào khoảng tháng mười âm lịch), bỏ đi lá thân và đất, sấy khô hoặc phơi khô, rồi bỏ đi râu rễ là được. Lọai sấy khô gọi là Hồng truật; lọai phơi khô gọi là Sinh sái truật, cũng gọi là Đông truật.

 – Phân bố –

Chủ yếu sản xuất ở các vùng Triết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam v.v…(Trung Quốc).

Dược liệu Bạch truật

Dược liệu Bạch truật phiến

Bào chế

– Sinh Bạch truật: Lựa sạch tạp chất, dùng nước ngâm, thời gian ngâm nên căn cứ theo mùa, thay đổi khí hậu và kích cở Bạch truật mà nắm vững thích hợp, sau khi ngâm vớt ra, ngấm ướt, cắt lát, phơi khô.

– Sao Bạch truật: Trước lấy vỏ trấu rắc vào trong chảo nóng, đợi lúc khói bốc lên, lấy Bạch truật phiến đổ vào sao đến sắc vàng nhạt, lấy ra, sau khi sàng bỏ vỏ trấu để nguội. (Cứ mỗi 100g Bạch truật phiến, dùng vỏ trấu 10 cân).

– Tiêu bạch truật: Lấy bạch truật phiến bỏ vào trong chảo dùng lửa nhỏ sao đến sắc vàng cháy sém, phun dội nước sạch, lấy ra hong klhô.

Thổ sao Bạch truật: Lấy Phục long can nghiền bột, để vào trong nối sao nóng, cho vào Bạch truật phiến, sao đến lúc mặt ngòai có màu đất lấy ra, sàng bỏ đất, để nguội. (Cứ mỗi 100 cân Bạch truật, dùng Phục long can 20 cân).

 Tính vị

– Trung dược đại từ điển: đắng, ngọt, ấm.- Trung dược học: Ngọt, đắng, ấm.

– Bản kinh: Vị đắng, ấm.

– Dược tính luận: Vị ngọt, cay, không độc.

– Biệt lục: Ngọt, không độc

Qui kinh

– Trung dược đại từ điển: Vào kinh Tỳ, Vị.- Trung dược học: Vào kinh Tỳ, Vị.

– Thang dịch bản thảo: Vào kinh Thủ thái dương, Thiếu âm, Túc dương minh, Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm.

– Bản thảo mông thuyên: Vào 4 kinh Tâm, Tỳ, Vị, Tam tiêu.

Công dụng và chủ trị

Bổ Tỳ, ích Vị, táo thấp, hòa trung, an thai.

Trị Tỳ Vị khí yếu, không muốn ăn uống, biếng mỏi ít hơi, hư trướng, tiêu chảy, đàm ẩm, thủy thũng, hòang đản, thấp tý, tiểu tiện không lợi, đầu chóang, tự ra mồ hôi, thai khí bất an.

– Bản kinh: Chủ phong hàn thấp tý, tử cơ, co giật, đản, cầm mồ hôi, trừ nhiệt tiêu thực.

– Biệt lục: Chủ đại phong tại thânm thể và mặt, phong hoa mắt đầu đau, chảy nước mắt, tiêu đàm nước, trục phong thủy kết sưng ở trong khỏang da, trừ cấp đầy dưới tâm, cùng hoắc lọan thổ hạ không ngừng, lợi huyết ở khỏan eo lưng rốn, ích tân dịch, ấm vị, tiêu thức ăn thèm ăn.

– Dược tính luận: Chủ đại phong ngoan tý, khí lỵ nhiều năm, tâm bụng trướng đau, phá tiêu thức ăn qua đêm, khai vị, trừ đàm dãi, trừ hàn nhiệt, ngừng hạ tiết, chủ mặt sáng hớn hở, …., trị thủy thũng trướng đầy, ngừng ẩu nghịch, trong bụng lạnh đau, thổ tả không ngừng, và vị khí hư lãnh lỵ.

– Đường bản thảo: Lợi tiểu tiện.

– Nhật hoa tử bản thảo: Trị tất cả các chứng phong, ngũ lao thất thương, khí lạnh bụng trướng, bổ lưng gối, tiêu đờm, trị thủy khí, lợi tiểu tiện, ngừng phản vị nôn nghịch, và gân xương mềm yếu, hiền phích (hạch ở bẹn, hòn trong bụng) khí khối, đàn bà lãnh trưng hà (trong bụng tích hòn rắn chắc ở một chổ gọi là trưng, tán tụ không được gọi là hà), ôn tật, sơn lam chướng khí, trừ phiền sinh cơ.

– Y học khải nguyên: Trừ thấp ích táo, hào trung ích khí, ôn trung, trừ thấp trong Tỳ Vị, trừ Vị nhiệt, mạnh Tỳ Vị, tiến ăn uống, hoa Vị, sanh tân dịch, chủ cơ nhiệt, tay chân mệt mỏi, mắt không muốn mở, lười biếng ham nằm, không muốn ăn uống, ngừng khát, an thai.

– Lý Cảo: Trừ các chứng thấp trong kinh mà lý Tỳ Vị.

– Vương Hảo Cổ: Lý trung ích Tỳ, bổ Can phong hư, chủ mạnh gốc lưỡi, ăn thì ói, vị quản đau, thân thể nặng, dưới tâm cấp đau, dưới tâm thủy bĩ, xung mạch là bệnh, nghịch khí lý cấp, bụng rốn đau.

– Bản thảo diễn nghĩa bổ di: Có mồ hôi thì ngứng, không mồ hôi thì phát. Có thể tiêu hư đàm.

 – Dùng thuốc phân biệt –

Bạch truật và Thương truật, thời xưa không phân, gọi chung là “ Truật”, hậu thế dần dần phân biệt cho vào thuốc. Hai vị thuốc đều có 2 lọai công hiệu chủ yếu là kiện Tỳ và táo thấp. Bạch truật dùng kiện Tỳ bổ khí là chủ, dùng nhiều vào Tỳ hư thấp khốn thiên về chứng hư; Thương truật đắng ấm táo thấp là chủ, thích hợp dùng vào thấp trọc nội trở,

 Cách dùng và liều dùng

Sắc uống 6 ~ 12g. Dùng sao có thể tăng cường tác dụng bổ khí kiện Tỳ, cầm tiêu chảy.

Kiêng kỵ

– Trung dược đại từ điển: Người âm hư táo khát, khí trệ trướng muộn kỵ dùng.- Trung dược học: Bổn phẩm tính thiên ôn táo, bệnh nhiệt tổn thương tân dịch và âm hư táo khát không nên dùng.

– Bản thảo kinh tập chú: Phòng phong, Địa du làm sứ của nó.

– Bản thảo hóa nghĩa: Phàm uất kết khí trệ, trướng ngạt tích tụ, suyễn rống nghẽn tắc, bao tử đau do hỏa, ung nhọt nhiều mủ, người ốm đen khí thực gây đầy, đều nên kỵ vậy.

Nghiên cứu hiện đại

  1. Thành phần hóa học:

– Bổn phẩm hàm chứa dầu bay hơi, trong dầu chủ yếu có atractylone, atractylol, atractylon, aunipercamphor, atractylolide v.v…, và hàm chứa có thành phần fructose, synanthrin, soluble polysaccharide, nhiều lọai amino acids và vitamin A v.v… (Trung dược học).

– Hàm chứa dầu bay hơi 1,4 %, thành phần chủ yếu là atractylol, atractylone,và hàm chứa vitamin (Trung dược đại từ điển).

  1. Tác dụng dược lý:

Bạch truật có tác dụng điều tiết hướng đôi đối với họat động của ruột, lúc ruột hưng phấn có tác dụng ức chế, mà lúc ruột ức chế có tác dụng hưng phấn; có tác dụng phòng trị bao tử lóet thực nghiệm, có tác dụng cường tráng; có thể xúc tiến tăng gia thể trọng của chuột con; có thể xúc tiến hợp thành albumin ruột non rõ rệt; có thể xúc tiến công năng miễn dịch tế bào; có tác dụng tăng bạch cầu nhất định; còn có khả nang bảo vệ gan, lợi mật, lợi tiểu, giáng đường huyết, chống đông máu, kháng khuẩn, chống khối u. Dầu bay hơi Bạch truật có tác dụng trấn tĩnh Trung dược học).

  1. Nghiên cứu lâm sàng:

Theo báo cáo, trị xơ gan bụng nước dùng Bạch truật 30 ~ 60g, viêm gan kéo dài dùng Bạch truật 30g, ung thư gan nguyên phát dùng Bạch truật 60 ~ 100g, Tỳ hư thấp trở dùng Tiêu bạch truật (Bạch truật cháy xém), âm hư Tân dịch hao tổn dùng Bạch truật sống, phối ngũ theo chứng, thu được hiệu quả điều trị khá tốt (An Huy Trung y học viện học báo, 1984, 2: 25).

Bài thuốc cổ kim tham khảo

+ Phương thuốc 1:Trị hư yếu gầy khô, ăn mà không hóa: Ư truật (tẩm rượu, 9 lần hấp 9 lần phơi) 1 cân, Thỏ ty tử (rượu nấu nhả tơ, phơi khô) 1 cân, tất cả nghiền bột, mật hòan, lớn như hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 2, 3 chỉ.

(Cương mục thập dị)

+ Phương thuốc 2:

Trị Tỳ hư trướng đầy: Bạch truật 2 lượng, Quất bì 4 lượng nghiền bột, vẩy nước hồ hòan, lớn như hạt ngô đồng. Cứ mỗi trước bửa ăn Mộc hương làm thang tống uống 30 hòan.

(Tòan sinh chỉ mê phương – Khoan trung hòan)

+ Phương thuốc 3:

Trị bĩ (khối cứng), tiêu thực mạnh Vị: Chỉ thực (cám sao màu vàng), bạch truật 2 lượng. Thuốc trên nghiền cực mịn. Mỗi lần uống 50 hòan, nước sôi trắng uống, bất cứ lúc nào, liều tùy theo tổn thương nhiều hay ít, gia giảm mà uống vậy.

(Lan thất bí tàng – Tích truật hòan)

+ Phương thuốc 4:

Dùng ăn tư bổ , ngừng tiết lỵ lâu ngày: Bạch truật lọai tốt 10 lượng, cắt mỏng, bỏ vào trong nồi sành, nước ngập qua 2 thốn, lửa nhỏ mạnh sắc đến 1 nửa, nghiêng nước đổ vào đồ đựng, dùng bã sắc lại, như thế 3 lần, bèn lấy nước trước và sau cùng nấu thành cao, bỏ vào trong đồ đựng 1 đêm, nghiêng bỏ nước trong ở trên, lấy vậy. Mỗi lần uống 2, 3 thìa, nước mật điều uống.

(Thiên kim lương phương – Bạch truật cao)

+ Phương thuốc 5:

Trị Tỳ hư tiêu chảy: Bạch truật 1 lượng, Thược dược nửa lượng (mùa đông không dùng Thược dược, gia Nhục đậu khấu, tiêu chảy càng hiệu quả). Thuốc trên nghiền bột, cháo hòan.

(Đơn Khê tâm pháp – Bạch truật hòan)

+ Phương thuốc 6:

Trị trẻ con bị tiêu chảy lâu ngày, tỳ hư không ăn uống vào, hoặc ăn xong tiêu chảy như trước, thức ăn không tiêu: Bạch truật 1 phần (nước gạo tẩm 1 giờ, cắt, sấy khô), Bán hạ 1 chỉ rưỡi (ngâm rửa 7 lần), Đinh hương nửa chỉ (sao).

Thuốc trên nghiền nhỏ, nước gừng tươi tự nhiên làm hòan, lớn như hạt kê. Cứ trẻ nửa tuổi 3 hòan, 3 ~ 5 tuổi 5, 7 hòan, nước gừng tươi nhạt uống, sớm tối 1 lần.

(Tiểu nhi vệ sinh tổng vi luận phương – Ôn bạch hòan)

+ Phương thuốc 7:

Trị thấp tả, thử tả: Bạch truật, Xa tiền tử lượng bằng nhau, sao nghiền bột, nước sôi trắng uống 2, 3chỉ.

(Giản tiện phương)

+ Phương thuốc 8:

Trị trường phong trĩ lậu, thóat giang ỉa ra máu, sắc mặt vàng héo, nhiều năm lâu không khỏi: Bạch truật 1 cân (nước vo gạo nếp ngâm 3 ngày, cắt nghiền nhỏ, sao cháy sém nghiền bột), Can địa hòang nửa cân (rửa sạch, dùng chén đựng để vào nồi đất hấp nhừ nghiền nhỏ). Thuốc trên trộn nhau, nếu cứng , nhỏ chút ít rượu, tay hòan lớn như hạt ngô đồng, sấy khô. Mỗi lần uống 15 hòan, bụng đói uống với nước cháo, thêm đến 20 hòan.

(Phổ tế phương – Hương truật hòan)

+ Phương thuốc 9:

Chỉ truật hòan: Chỉ thực 2 chỉ, Bạch truật 4 chỉ. Sắc nước uống, hoặc làm hòan nước sôi tống uống. Có tác dụng kiện Tỳ, tiêu trướng. Dùng vào chứng Tỳ hư tiêu hóa không tốt, ăn uống ngừng trệ, mà thấy quản phúc trướng đầy. Đối với bệnh viêm bao tử mạn tính, ăn uống kém, hoặc xơ gan thời kỳ đầu, sườn đau gan to, tiêu hóa không tốt mạn tính v.v…có hiệu quả điều trị nhất định. Nếu gia vào Mạch nha, Lục khúc, lực tiêu thực đạo trệ càng mạnh; nếu kiêm đờm ẩm đình bên trong, khí trệ bĩ muộn, có thể gia Bán hạ chế, Trần bì v.v…Phương này lực tiêu tích đạo trệ khá yếu, lấy kiện Tỳ làm chủ.

(Trung y phương dược học )

+ Phương thuốc 10:

Trị trúng thấp, khẩu cấm, không biết người: Bạch truật nửa lượng, rượu 3 chén. Sắc 1 chén, uống liền: Không thể uống rượu dùng nước thay vậy. Ban ngày 3 lần, đêm 1 lần.

(Tam nhân phương – Bạch truật tửu)

+ Phương thuốc 11:

Trị đột nhiên váng đầu hoa mắt, lâu ngày không khỏi, tay chân dần gầy yếu, ăn không có mùi vị, thích ăn đất vàng: Bạch truật 3 cân, Khúc 3 cân. 2 vị trên trộn sàng hòa rượu, và tay vê hòan như hạt ngô, phơi khô. Uống 20 viên, ngày 3 lần. Kỵ đào, mận, thịt chim sẻ v.v…

(Ngọai đài)

+ Phương thuốc 12:

Trị phong hư, đầu nặng hoa mắt, rất đắng, không biết vị thức ăn.

Hõan cơ, bổ trung, ích tinh khí: Bạch truật 2 lượng, Phụ tử 1 trái rưỡi (nướng bỏ vỏ), Cam thảo 1 lượng (chích). 3 vị trên, cắt, mỗi lần thìa 5 chỉ, gừng 5 lát, táo 1 trái, nước 1 chén rưỡi, sắc 7 phân, bỏ bã, uống ấm.

(Cận hiệu phương)

+ Phương thuốc 13:

Trị tự ra mồ hôi không ngừng: Bạch truật bột, uống thìa 1 tấc vuông, ngày 2 lần.

(Thiên kim phương)

+ Phương thuốc 14:

Trị ra mồ hôi trộm: Bạch truật 4 lượng , phân làm 4 phần, 1 phần dùng Hòang kì sao cùng, 1 phần dùng Thạch hộc sao cùng, 1 phần dùng Mẫu lệ sao cùng, 1 phần dùng vỏ trấu sao cùng. Thuốc trên đều sao qua sắc vàng, bỏ thuốc thừa. Chỉ dùng Bạch truật, nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 2 chỉ, bắp làm thang điều uống, trong vòng 4 lượng.

( Đơn Khê tâm pháp)

+ Phương thuốc 15:

Trị già trẻ do hư ra mồ hôi: Bạch truật 5 chỉ, Tiểu mạch 1 dúm, nước nấu khô, bỏ đi Mạch, nghiền bột, dùng Hòang kì làm thang uống 1 chỉ.

(Tòan ấu tâm giám)

+ Phương thuốc 16:

Trị sản hậu nôn nghịch không ăn: Bạch truật 5 chỉ, Gừng 6 chỉ. Sắc nước, từ từ uống ấm.

(Phụ nhân lương phương)

+ Phương thuốc 17:

Trị phụ nhân huyết hư cơ nhiệt, hoặc Tỳ hư chưng nóng, hoặc nội nhiệt hàn nhiệt: Bạch truật, Bạch phục linh, Bạch thược dược (sao) đều 1 chỉ, Cam thảo (sao) 5 phân, gừng, táo, sắc nước.

(Phụ nhân lương phương – Khất lực già tán)

+ Phương thuốc 18:

Trị cứ 3 ngày phát sốt rét : Cữu chế ư truật 1 cân, Quảng bì 8 lượng. Nấu cao, dùng di đường 4 lượng thu vào.

(Cổ kim lương phương)

+ Phương thuốc 19:

Trị 2 đầu của 4 ngày sốt rét, 1, 2 năm đến 3, 4 năm không khỏi, hoặc khỏi lại tái phát, liên miên không thôi: Ư truật 1 lượng, gừng già 1 lượng. Sắc nước, phát ban ngày canh năm uống ấm, nặng uống 2 lần.

(Cương mục thập di)

+ Phương thuốc 20:

Trị răng mỗi ngày dài ra, dần dần sưng tấy, khó mở miệng để ăn uống, tràn che tủy gây nên: Chỉ uống Bạch truật là khỏi.

(Hạ tử ích trị kỳ tật phương)

+ Phương thuốc 21:

Trị trẻ em chảy dãi: Sanh bạch truật giã nát, thêm nước và đường ăn, bỏ trên nồi hấp nước, phân lần uống, mỗi ngày dùng 3 chỉ.

(Giang tô Trung y 12: 1, 1965)

Tham khảo thêm:

BẠCH TRUẬT

Tên Hán Việt khác:

Truật, Truật sơn kế (Bản Kinh), Sơn khương, Sơn liên (Biệt lục), Dương phu, Phu kế, Mã kế (Bản Thảo Cương Mục), Sơn giới, Thiên đao (Ngô-Phổ bản thảo), Sơn tinh (Thần Dược Kinh), Ngật lực gìa (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Triết truật (Tân Tu Bản Thảo Đồ Kinh), Bạch đại thọ, Sa ấp điều căn (Hòa Hán Dược Khảo), Ư truật. Sinh bạch truật, Sao bạch truật,Thổ sao bạch truật, Mễ cam thủy chế bạch truật, Tiêu bạch truật, Ư tiềm truật, Dã ư truật, Đông truật (Đông Dược Học Thiết Yếu),

Tên khoa học:

Atractylodes macrocephala Koidỳ [Atractylis ovata Thunb. Atractylodes ovata D.C.. Atratylis macrocephala (Koidz) Kand, Mazz.]

Họ khoa học: Leguminnosae. Mô tả:

Cây thảo, sống lâu năm, có thân rễ to, mọc dưới đất. Thân thẳng, cao 0,30 – 0,80m, đơn độc hoặc phân nhánh ở bộ phận trên, phần dưới thân hóa gỗ. Lá mọc cách, dai. Lá ở phần dưới của thân có cuống dài, phần trên có cuống ngắn, gốc lá rộng, bọc lấy thân. Phiến lá xẻ sâu thành 3 thùy, thùy giữa rất lớn, hình trứng tròn, hai đầu nhọn, hai thùy bên nhỏ hơn, hình trứng mũi mác, phần gốc không đối xứng. Các lá ở gần ngọn thân có phiến nguyên, hình thuôn hoặc hình trứng mũi mác, m p có răng cưa. Đầu lớn, phần dưới có một lá bắc hình lá xẻ sâu, hình lông chim. Tổng bao hình chuông, có lá bắc mỏng xếp thành 7 hàng. Lá bắc dưới nhỏ hình trứng tam giác, to dần ở phía trên. Hoa nhiều. Tràng hình ống, phần dưới màu trắng, phần trên màu đỏ tím, xẻ làm 5 thùy hình mũi mác, xoắn ra ngoài. 5 nhị hàn liền nhau (có nhị bị thoái hóa) chỉ nhị hình sợi dẹp. Bầu thôn mặt ngoài có lông nhung, màu nâu nhạt, đoạn trên có lông hình lông chim. Vòi hình chỉ màu tím nhạt đầu nhị xẻ thành 2 thùy nông hình đầu, mặt ngoài có lông ngắn.

Quảø bế, thuôn, dẹp, màu xám.

Thu hái, sơ chế: Từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 (tiết Sương giáng đến Lập đông) là thời vụ thu hoạch. Thu hoạch quá sớm, cây chưa gìa, củ còn non, tỷ lệ khô thấp, hoa nhiều; thu hoạch quá nhiều thì chồi mới mọc lên, tiêu hao mất nhiều dinh dưỡng của củ. Khi thấy thân cây từ màu xanh chuyển thành màu vàng và nâu lá ở phần ngọn cây trở nên cứng, dễ bẻ gãy là đúng lúc thu hoạch. Lúc thu hoạch, chọn ngày nắng ráo, đất khô, nhổ từng cây nhẹ nhàng. Sau khi nhổ, lấy dao cất bỏ thân cây đem củ về chế biến. Rửa sạch phơi khô cắt bỏ rễ con gọi là “Hồng truật” hay “Bạch truật”, nếu để nguyên hoặc xắt mỏng phơi khô thì gọi là “Sinh sái truật” hay “Đông truật”.

Phần dùng làm thuốc:

Dùng thân rễ cứng chắc, có dầu thơm nhẹ, ruột màu trắng ngà, củ rắn chắc có nhiều dầu là tốt.

Mô tả dược liệu:

Thân rễ phơi khô Bạch truật hình dài khắp nơi có dạng khối lồi chồng chất hoặc rễ con dạng chuỗi liền cong queo không đều, dài khoảng 3-9cm, thô khoảng 1,5-7cm đến hơn 3cm, bên ngoài màu nâu đất hoặc xám nâu, phần trên có góc tàn của thân, phần dưới phình lớn nhiều vết nhăn dọc nối dài, và vân rãnh chất cứng dòn, mặt cắt ngang màu vàng trắng hoặc nâu nhạt không bằng phẳng thường có những lõ nhỏ rỗng có mùi thơm mạnh. Loại củ cứng chắc, có dầu thơm nhẹ, giữa trắng ngà là tốt. Còn thứ gọi là Ư truật, Cống truật là thứ truật tốt hơn. Không nên nhằm lẫn với nam Bạch truật (Gynura sinensis).

Địa lý:

Bạch truật nguyên sản ở Trung quốc, chủ yếu trồng ở huyện Thừa, Đông dương. Ư thế (Xương hóa), Tiên cư (Triết giang), Dư huyện, Ninh quốc (An huy), ngoài ra ở Thông thành. Lợi xuyên (Hồ bắc), Bình giang (Hồ nam), Tu thủy, Đông cố (Giang tây), tỉnh Phúc kiến, Tứ xuyên đều có trồng. Bạch truật hiện đã di thực truyền vào Việt Nam.

Bào chế:

+ Theo Trung Dược Đại Tự Điển:

  • Thái rửa sạch, ngâm nước 4 giờ, ủ kín 12 giờ (hay có thể đồ khoảng 4 giờ) cho mềm, thái hay bào mỏng, phơi khô (để dùng sống) hay tẩm bột Hoàng thổ rồi mới phơi khô sao vàng, hoặc tẩm nước gạo đặc sao vàng. Có khi chỉ cần thái mỏng, sao cháy.
  • Theo kỹ thuật chế biến của Trung Quốc hiện nay có hai phương pháp: Sấy khô và Phơi khô. Thành phẩm của phương pháp sấy khô gọi là Bạch truật sấy, của phương pháp sau gọi là Bạch truật phơi. Ư truật là một loại củ phơi khô.
  1. Phơi khô: Đem củ tươi rủ sạch đất cát, cắt bỏ cây lá, đem phơi 15-20 ngày, đến lúc khô kiệt thì thôi nếu gặp phải trời mưa thì nên rải ra chỗ râm mát, thoáng gió, không nên dồn đống hoặc đóng vào sọ.. nếu không củ dễ thối mốc.
  2. Sấy khô: Đem củ đã đào về chọn lọc kỹ, đưa lên gìan sấy khô. Lò sấy thông thường mỗi lần có thể sấy được 250 củ tươi. Lúc bắt đầu sấy cần to lửa và đều, về sau khi vỏ củ đã nóng thì lửa nên nhỏ dần, sấy khô 5-6 giờ đảo trên xuống dưới, dưới lên trên, để củ có thể khô đều, sau đó lại sấy 6 giờ, đến lúc củ khô được 50% đem cắt, rửa củ cho dẹp, cắt bỏ rễ phụ, phân chia loại to nhỏ, củ to bỏ xuống dưới, nhỏ bỏ trên, để được khô đề Sấy vậy 8-12 giờ lúc củ khô độ 70-80% đem vào sọt ủ 10-15 ngày, chờ cho nước trong giữa củ ngấm thấm ra ngoài, vỏ ngoài mềm ra, lúc này có thể sấy lại lần cuối cũng thời gian độ 24 giờ. Các nơi ở tỉnh Hồ nam, Hồ bắc sau khi sấy khô, lại đổ củ vào rổ sát cho vỏ bong sạch. Nói chung cứ 3, 5 kg củ tươi, sau khi sấy khô có thể thu được 1 kg củ khô.

Chải, rửa sạch, ủ kín cho đến mềm, thái hoặc bào mỏng 1-2 ly, phơi khô (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Sau khi bào, phơi tái, tẩm nước Hoàng thổ ( thường dùng) hoặc tẩm mật sao vàng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Sau khi thái mỏng, sao cháy (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Bảo quản: Dễ bị mốc mọt, thường phơi sấy. Nếu thấy mốc thì phơi sấy ngay. Nếu phải sấy diêm sinh thì không nên sấy lâu vì sẽ bị chua.

Cách dùng: Muốn có tác dụng táo thấp thì dùng sống, bổ Tỳ thì tẩm Hoàng thổ sao, cầm máu, ấm trung tiêu thì sao cháy, bổ Tỳ nhuận Phế thì tẩm mật sao.

Thành Phần Hóa Học:

+ Trong Bạch truật có: Humulene, b-Elemol, a-Curcumene, Atractylone, 3b Acetoxyatractylone, Selian 4(14), 7 (11)-Diene-8-One, Eudesmo, Palmitic acid (Trần Kiến Dân – Thực vật Học Báo 1991, 33 (2): 164).

+ Hinesol, b- Selinene (Phó Thuấn Mạc – Thực vật Phân Loại Học Báo 1981, 19 (2): 195).

+ 8b-Ethoxyatractylenolide II, 14-Acetyl-12-Senecioy-12E, 8Z, 10E-Atractylentriol, 14-Acetyl-12-Senecioyl-2E, 8E, 10E-Atractylentriol, 12-Senecioyl-2E-8Z, 10E- Atractylentriol, 12- Senecioyl-2E-8E-10E-Atractylentriol (Gia Hiệp Thiên Dân –

Dược Học Tạp Chí (Nhật Bản) 1943, 63 (6): 252)

+ Trong rễ củ Bạch truật có 1,4% tinh dầu. Thành phần tinh dầu gồm: Atractylon (C16H180), Atractylola (CH160) Atractylenolid I, II, III, Eudesmol và Vitamin

A (Trung Dược Học).

Tác Dụng Dược Lý:

  • Tác Dụng Bổ Ích Cường Tráng: Trên thực nghiệm thuốc có tác dụng làm tăng trọng chuột, tăng sức bơi lội, tăng khả năng thực bào của hệ thống tế bào lưới, tăng cường chức năng miễn dịch của tế bào, làm tăng cao IgG trong huyết thanh, có tác dụng tăng bạch cầu và bảo vệ gan, tăng sự tổng hợp Protêin ở ruột non (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
  • Tác Dụng Chống loét: Nước sắc Bạch truật trên thực nghiệm chứng minh có tác dụng bảo vệ gan, phòng ngừa được sự giảm sút Glycogen ở gan (Trung Dược Học).
  • Ảnh Hưởng Đến Ruột: đối với ruột cô lập của thỏ: lúc ruột ở trạng thái hưng phấn thì thuốc có tác dụng ức chế, ngược lại lúc ruột đang ở trong trạng thái ức chế thì thuốc có tác dụng hưng phấ Tác dụng điều tiết 2 chiều đó của thuốc có liên quan đến hệ thống thần kinh thực vật, do đó Bạch truật có thể chữa được táo bón và tiêu chảy (Trung Dược Học).
  • Tác Dụng Đối Với Máu: Nước sắc và cồn Bạch truật đều có tác dụng chống đông máu, dãn mạch máu (Trung Dược Học).
  • Tác Dụng Lợi Niệu: Bạch truật có tác dụng lợi niệu rõ và kéo dài, có thể do thuốc có tác dụng ức chế tiểu quản thận tái hấp thu nước, tăng bài tiết Natri (Học Báo Sinh Lý số 19 – 1, 24 (3-4): 227-237), nhưng có báo cáo kết quả chưa thống nhất (Trung Dược Học).
  • Bạch truật có tác dụng hạ đường huyết . Glucozid Kali Ảtactylat chiết từ Bạch truậ có tác dụng chọn lọc trên đường huyết, đầu tiên gây tăng, sau đó gây hạ đường huyết đến mức co giật do hạ đường huyết quá thấp. Lượng Glycogen trong gan chuột nhắt giảm đáng kể, nhưng lượng Glycogen trong tim hơi tăng, dưới tác dụng của Gluczid này(Trung Dược Học).
  • Trên súc vật thực nghiệm cho thấy Bạch truật có tác dụng an thần với liều lượng nhỏ chất tinh dầu (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
  • Tinh dầu Bạch truật có tác dụng chống ung thư nơi súc vật phát triển [Học Báo Dược Học 1963, 10 (4): 199]

+ Chống loét Bao Tưû: Gây loét bao tử thực nghiệm, tạo nên những tổn thương có bệnh sinh khác nhau. Loét Shay bằng cách thắt môn vị, có khả năng gây nên không những tình trạng ứ trệ dịch vị bao tử mà còn gây tổn thương về mạch máu kèm theo thiếu máu nguồn gốc thần kinh thực vật. Loét bằng cách cho nhịn đói (có thể do nguồn gốc tâm lý). Loét bằng cách tiêm Histamin được gây nên một phần do tăng tiết dịch vị và phần khác do tác dụng làm hư hại mạch máu bởi liều cao Histamin: Bạch truật có tác dụng ức chế rõ rệt đối với loét Shay và loét do nhịn đói, không tác dụng đối với loét do Histamin (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Hoạt Động Tiết Dịch Vị: Bạch truật có tác dụng làm giảm rõ rệt lượng dịch vị tiết ra và không làm giảm độ Acid tự do của dịch vị (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Chức Năng Ngoại Tiết Của Gan: Bạch truật không gây biến đổi về lưu lượng mật nhưng làm tăng 1 cách có ý nghĩa hàm lượng cắn khô trong mật và như vậy đã tăng lượng các chất thải trừ qua mật (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Đối Với Chức Năng Gan: trong nghiệm pháp BSP về khả năng phân hủy và thải trừ chất mầu của gan cho thấy Bạch truật không ảnh hưởng đối với chức năng này của gan (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Kháng Viêm:

Rễ Bạch truật có hoạt tính chống siêu vi khuẩn và chống ung thư trong thí nghiệm in vitro (Trung Dược Học).

Hoạt tính chống viêm của Bạch truật được thể hiện rõ rệt trên giai đoạn cấp tính của phản ứng viêm, tương ứng với những biến đổi về mạch máu gây thoát huyết tương ở khoảng ngoài tế bào và tạo phù nề. Tác dụng này đã được chứng minh trong thí nghiệm gây phù gây phù bằng Kaolin với liều Bạch truật từ 7,5g/kg thể trọng trở lên. Đối với giai đoạn bán cấp của phản ứng viêm tương ứng với sự tạo thành tổ chức hạt trong mô hình u hạt thực nghiệm với Amian, Bạch truật có tác dụng ức chế rõ rệt với liều từ 10g/kg thể trọng trở lên (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Bạch truật không ảnh hưởng đối với thành phần các Protein huyết thanh và chức năng bài tiết Urê của thận (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

  • Bạch truật tỏ ra không độc trong các thí nghiệm về độc tính cấp và bán cấp, không gây phản ứng phụ trong thí nghiệm cho súc vật dùng thuốc dài ngày (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
  • Bạch truật có tác dụng ức chế đối với một loại vi khuẩn gây bệnh ngoài da (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tại Nhật Bản, người ta thường dùng loài Atractylodes japonica Koidỳ lqf biến giống của Atractylodes ovata DC. Loài A. japonica Koidz có những tác dụng dược lý như sau:

  • Tác dụng lợi tiểu, làm giảm phù đối với phù nhẹ.
  • Nước sắc có tác dụng hạ đường huyết rõ rệ
  • Ức chế sự đông máu. Nước sắc có tác dụng giảm khả năng máu đông trong trường hợp hoạt tính tạo Fibrin trong máu tăng
  • Chất Atractylon trong Bạch truật có tác dụng chống suy giảm chức năng Bạch truật chế biến với giấm có tác dụng tăng tiết mật sau khi uống.
  • Nước sắc của Bạch truật có tác dụng mạnh chống loét các cơ quan tiêu hóa.
  • Các chất Atractylenoid I, II, III có tác dụng chống viêm và dịch chiết nước của Bạch truật có tác dụng chống viêm khớp rất rõ.

Cao nước của rễ Atractylodes japonica Koidỳ có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt, cao được phân tích dựa trên hoạt tính dược lý và thu được 3 Glycan là các Atractan A, B và C. những thành phần này có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt bình thường và chuột được gây đái tháo đường bằng Alloxan (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tính vị:

+ Vị đắng, tính ấm (Bản kinh).

+ Vị cay, không độc (Danh Y Biệt Lục).

+ Vị ngọt, cay, không độc (Dược tính luận).

+Vị ngọt đắng, tính ấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Vị đắng, ngọt, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển )

Quy Kinh:

  • Vào kinh Tỳ và Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
  • Vào kinh thủ thái dương (Tiểu trường), thủ thiếu âm (Tâm), túc dương minh (Vị), túc thái âm (tỳ), túc thiếu âm (Thận), túc quyết âm (Can) [Thang Dịch Bản Thảo].
  • Vào kinh Tỳ và Vị (Trung Hoa Cộng Hòa Nhân Dân Quốc Dược Điển).

Tác dụng:

+ Trừ thấp, ích táo, hòa trung, ích khí, ôn trung, chỉ khát, an thai (Y Học Khải Nguyên).

+ Bổ tỳ, ích Vị, táo thấp, hòa trung (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Kiện tỳ, ích khí, táo thấp, lợi thủy, chỉ hãn, an thai (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

+ Kiện Tỳ táo thấp (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Chủ trị:

+ Trị phù thũng, đầu đau, đầu váng, chảy nước mắt, tiêu đàm thủy, trục phong thủy kết thủng dưới da, trừ tâm hạ cấp hoặc mạn, hoắc loạn thổ tả…(Biệt Lục).

+ Chủ phong hàn thấp tý, hoàng đản (Bản Kinh).

+ Trị Tỳ Vị khí hư, không muốn ăn uống, hơi thở ngắn, hay mệt, hư lao, tiêu chảy, đờm ẩm, thủy thủng, hoàng đản, thấp tý, tiểu không thông, chóng mặt, tự ra mồ hôi, thai động không yên (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Trị Tỳ hư, ăn ít, bụng đầy, tiêu chảy, đờm ẩm, thủy thủng, chóng mặt, tự ra mồ hôi, thai động không yên. Sao với đất (thổ sao) có tác dụng kiện tỳ, hòa Vị, an thai. Trị Tỳ hư, ăn uống kém, tiêu chảy, tiểu đường, thai động không yên (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

+ Trị Tỳ hư, tiêu chảy, vùng rốn và bụng phù thũng, táo bón (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kiêng kỵ:

Phòng phong; Địa du làm sứ (Bản Thảo Đồ Kinh Chú).

Bạch truật tính táo, Thận kinh lại hay bế khí nên những người Can Thận có động khí cấm dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

Phàm uất kết, khí trệ, trướng bỉ, tích tụ, suyễn khó thở, bao tử đau do hỏa, ung thư (mụn nhọt) có nhiều mủ, người gầy, đen mà khí thực phát ra đầy trướng, không nên dùng (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

Âm hư, táo khát, khí trệ, đầy trướng, có hòn khối (bỉ), không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

Âm hư hỏa thịnh, thận hư cấm dùng. Kỵ Đào, Lý, Tùng, Thái, thịt chim sẻ, Thanh ngư (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị tim có cảm giác cứng như cái tô do ăn uống quá độ: Bạch truật 40g, Chỉ thực 7 trái, nước 5 thăng, sắc còn 3 thăng, chia làm ba lần uống (Chỉ Truật Thang – Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh).

+ Trị mặt xám hoặc loang lổ đen như trứng chim sẻ tàn nhang: Bạch truật tẩm giấm, sức hàng ngày (Trữu Hậu Phương).

+ Trị phong thấp ban chẩn ngứa ngáy: Bạch truật tán nhỏ uống mồi lần 1 thìa với rượu, ngày hai lần (Thiên Kim Phương).

+ Trị mồ hôi tự chảy không cầm: Bạch truật tán bột, mỗi lần uống 1 muỗng canh, ngày uống hai lần (Thiên Kim Phương).

+ Trị bứt rứt, bồn chồn ở ngực: Bạch truật tán bột, mỗi lần dùng một thìa cà phê (4g), uống với nước (Thiên Kim Phương).

+ Trị trúng phong cấm khẩu, bất tỉnh nhân sự: Bạch truật 160g, rượu 3 thăng, sắc còn một thăng, uống hết để ra mồ hôi (Thiên Kim Phương).

+ Trị đột nhiên xây xẩm chóng mặt hơn một buổi mà không bớt, người ốm, suy nhược, ăn uống không có mùi vị, thích ăn đất vàng: Bạch truật 1,8kg, đâm nát, rây nhỏ, trộn với rượu làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 20 viên, ngày 3 lần. Cữ ăn rau cải thìa, đào, mận, thanh ngư (Ngoại Đài Bí Yếu Phương).

+ Trị phụ nữ da thịt nóng vì huyết hư, trẻ nhỏ nóng hâm hấp do Tỳ hư: Bạch truật, Bạch phục linh, Bạch thược mỗi thứ 40g, Cam thảo 20g, tán bột, sắc với Táo và Gừng (Lực Gìa Tán – Ngoại Đài Bí Yếu Phương).

+ Trị bỉ khối, làm mạnh Vị, uống lâu ngày làm cho ăn uống tiêu hóa khỏi đình trệ: Bạch truật 40g, Hoàng bá (sao khử thổ), Chỉ thiệt (sao cám) đều 40g. Táùn bột, lấy lá Sen gói lại nấu chín với cơm nếp đâm nhỏ làm viên bằng hạt Ngô đồng lần uống 50 viên với nước sôi. Nếu có khí trệ, thêm Quất bì 40g, có hỏa thêm Hoàng liên 40g, có đàm thêm Bán hạ 40g, có hàn thêm Càn khương 20g, Mộc hương 12g, có thực tích thêm Thần khúc, Mạch nha mỗi thứ 20g. (Chỉ Truật Hoàn – Khiết Cổ Gia Trân Phương).

+ Trị tiêu chảy, lỵ lâu ngày: Bạch truật loại tốt 6,4kg, xắt lát bỏ vào nồi sành ngập nước 2 tấc 3, đun lửa vừa sắc còn nửa chén, lấy nước đổ riêng ra nồi khác, còn bã sắc lại, làm vậy 3 lần, rồi lấy những nước đã sắc trộn lại cô thành cao trong nồi 1 đêm, khử nước trong ở trên, lấy cao đọng dưới, cất dùng, uống lần 1-2 thìa (5- 10ml) với mật ong (Bạch Truật Cao – Thiên Kim Lương Phương).

+ Trị các loại Tỳ Vị bị hư tổn: Bạch truật 640g, Nhân sâm 160g, ngâm với nước trường lưu thủy một đêm rồi nấu với củi dâu lửa liu riu thành cao, khi dùng hòa với mật ong (Sâm Truật Cao – Tập Giản Phương).

+ Trị có cảm giác như có nước dưới tim: Bạch truật 120g, Trạch tả 200g, nước 3 thăng, sắc còn một thăng rưỡi, chia làm ba lần uống (Mai Sư Phương).

+ Trị ngũ ẩm tửu tích: Bạch truật 640g, Gừng khô (sao), Quế tâm, mỗi thứ 320g, tán bột, trộn mật, làm viên bằng hạt ngô đồng,uống ngày 20-30 viên với nước ấm (Bội Truật Hoàn – Hòa Tễ Cục Phương).

+ Trị tay chân phù thũng: Bạch truật 120g,Mỗi lần dùng 20g, thêm 3 trái táo, sắc với một ch n rưỡi nước còn chín phân uống nóng, ngày 3-4 lần (Bản Sự Phương).

+ Trị sản hậu trúng hàn, lạnh toát cả người, cấm khẩu bất tỉnh: Bạch truật 40g, Trạch tả 40g, gừng sống 20g, sắc với một ch n nước, uống (Chí Bảo Phương).

+ Trị Tỳ hư, ra mồ hôi trộm: Bạch truật 160g, xắt lát, dùng 40g sao với Mẫu lệ, 40g sao với Thạch hộc, 40g sao với cám gạo miến, xong chỉ lấy Truật tán bột, mỗi lần uống 12g với nước cơm, ngày 3 lần (Đan Khê Tâm Pháp).

+ Trị ra mồ hôi do hư (chung cho cả trẻ em lẫn người lớn): Bạch truật 20g, Tiểu mạch 12g, sao khô, bỏ Tiểu mạch, lấy Bạch truật tán bột, mỗi lần uống 4g trộn với nước Hoàng kỳ sắc (Toàn Ấu Tâm Giám Phương).

+ Trị sản hậu bị nôn mửa: Bạch truật 48g, Gừng sống 60g, rượu và nước mỗi thứ hai thăng, sắc còn một thăng, chia làm 3 lần uống (Phụ Nhân Lương Phương).

+ Trị Tỳ hư đầy trướng, tỳ khí bất hòa, hàn khí ngưng trệ bên trong làm trở ngại lưu thông: Bạch truật 80g, Quất bì 160g, tán bột, hồ với rượu làm viên bằng hạt ngô đồng, uống 30 viên với nước sắc Mộc hương, trước khi ăn (Khoan Trung Hoàn – Chỉ Mê Phương).

+ Trị Tỳ hư, tiêu chảy: Bạch truật 12g, Cam thảo 4g, Can khương 8g, Đản sâm 12g (Lý Trung Thang – Thương Hàn Luận).

+ Trị Tỳ hư, tiêu chảy: Bạch truật 12g, Chỉ thực 6g. Sắc nước uống hoặc tán bột làm hoàn (Chỉ Truật Hoàn – Kim Quỹ Yếu Lược).

+ Trị Tỳ hư, tiêu chảy: Bạch truật, Bạch thược dược đều 40g, tán bột, trộn với nước cơm làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50 viên ngày 2 lần, mùa đông uống với nước sắc Nhục đậu khấu (Mễ Ẩm Hoàn – Đan Khê Tâm Pháp).

+ Trị tiêu chảy do thấp thử: Bạch truật, Xa tiền tử hai vị bằng nhau, sao, tán bột, uống 8 đến 12g với nước(Giản Tiệân Phương).

+ Trị tiêu ra máu đến nỗi sắc mặt vàng úa, trĩ, trực trường sa lâu ngày không bớt: Bạch truật 640g,sao với Hoàng thổ, tán bột. Can địa hoàng 320g, hấp cơm, nghiền nát, cho vào tí rượu, trộn với thuốc bột làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 15 viên với nước cơm, ngày 3 lần (Phổ Tế Phương).

+ Trị thai động không yên: Bạch truật, Chỉ xác (sao cám), hai vị bằng nhau, trộn với nước cơm làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi tháng uống một lần 30 viên với nước nóng, trước khi ăn (Bảo Mệnh Tập).

+ Trị răng đau lâu ngày: Bạch truật sắc lấy nước, ngậm, khi lành thì thôi (Bị Cấp Phương).

+ Trị trẻ nhỏ tiêu chảy: Lý Kính Thanh dùng: Bạch truật (sao với đất), Sơn dược (sao với miến), mỗi thứ 200g, vỏ cây táo (sao vàng), Xa tiền tử (sao muối), mỗi thứ 150g, tán bột mịn. Trẻ em dưới 1 tuổi: 0,5-1g/lần, 2-3 tuổi: 2-3g, 4-6 tuổi: 3-4g.

Ngày uống 3 lần, trước khi ăn. Trong thời gian uống thuốc không cho ăn chất sống lạnh, dầu, mỡ. Chứng lỵ cấp sau khi đã ổn định dùng bài này uống tốt. Đã trị 320 trường hợp tiêu chảy kéo dài, khỏi 259, tốt 56, không kết quả 05. (Tạp Chí Trung Y Sơn Đông 1982, 2: 107).

+ Trị mồ hôi ra do khí hư: Bạch truật 12g, Mẫu lệ 24g, Phòng phong 12g. Sắc uống hoặc tán bột uống (Bạch Truật Tán – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị mồ hôi ra do khí hư: Bạch truật 12g, Hoàng kỳ 12g, Phù tiểu mạch 20g. Sắc uống (Bạch Truật Tiễn – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị bệnh về Gan: dùng Bạch truật.

+ Trị xơ gan cổ trướng: dùng 30-60g.

+ Trị gan viêm mạn: dùng 15-30g.

+ Trị ung thư gan: dùng 60-100g.

Nếu do Tỳ hư, thấp, dùng loại Tiêu Bạch truật – Âm hư dùng loại sinh Bạch truật. Tùy bệnh chứng mà gia giảm, có hiệu quả nhất định (Học Báo Trung Y Học Viện An Huy 1984, 2: 25).

+ Trị phụ nữ có thai bị phù: Bạch truật 12g, Đại phúc bì 12g, Địa cốt bì 12g, Ngũ gia bì 12g, Phục linh 20g, Sinh khương bì 12g (Toàn Sinh Bạch Truật Tán – Toàn Sinh Chỉ Mê).

+ Trị chứng huyễn vựng nội nhĩ, chóng mặt do rối loạn tiền đình (Hội chứng Ménière): Bạch Liên Chương dùng Bạch truật (sao miến), Trạch tả, ý dĩ (sao), mỗi thứ 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Phòng trị chứng huyễn vựng nội nhĩ có kết quả tốt (Tạp Chí Trung Y Hồ Bắc 1983, 4: 20).

Tham khảo:

+ Hàn khí bất túc thì tay chân lạnh đầy bụng, sườn kêu, dương khí không thông thì sinh ra thủy lãnh, âm khí không thông thì sinh ra nhức trong xương, nếu dương trước đã thông thì Ghét lạnh, âm trước đã thông thì tê không thông. Aâm dương tương đắc thì khí đó lưu hành, khí chuyển vận được thì tán được khí ấy. Thực chứng thì trung tiện, hư có đái són gọi là “khí phận” phải dùng bài này làm chủ, uống nghe cảm giác trong ngực mềm là tan ra (Kim Quỹ Ngọc Hàm Phương).

+“Bạch truật vị đắng mà ngọt vừa táo thấp, thực Tỳ vừa làm ấm tỳ, sinh tân, tính rất ấm, uống vào thì kiện thực tiêu cốc, là vị thuốc số một để bổ tỳ” (Bản Thảo Hội Ngôn).

+ “ Bạch truật ngọt, ấm, được khí đất xung hòa, là vị thuốc đệ nhất bổ Tỳ Vị. Bài tán (dương) Bạch truật có câu: Vị quý hơn kim tương, mùi thơm hơn ngọc dịch, bên ngoài chống trăm thứ tà, bên trong bổ 6 phủ. Xét các loài thảo mộc thì không vị nào có ích cho cơ thể nhanh chóng bằng Bạch truật. Mỗi khi gặp chứng bạo bệnh đại hư, trung khí muốn thoát, dùng vị thuốc thơm tho xung hóa này để giữ lại trung khí thì rất hay, công năng không ngang với Nhân sâm là vì nó hơi thiên về tính táo, uống lâu thì bị thiên thắng, mất thăng bằng . Thử nghĩ xem 2 thang Lý Trung và Truật Phụ của cổ nhân đều dùng Bạch truật làm quân và những phương để bổ hư cứu tuyệt thì nhất định phải dùng Bạch truật làm Tá, nghĩa là phải dùng làm sao cho đúng” (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Người ta ăn uống tiêu hóa là nhờ ở tỳ chuyển vận, nếu tỳ khí kém thì sức chuyển vận không mạnh, chất nước đình trệ lại sinh thấp bệnh. Phàm những chứng đầy, tả, thủy, vàng da đều thuộc về khí thấp cả. Khí thấp ở ngoài cảm vào cũng thường sinh những chứng ấy. Bạch truật chữa thấp mà cốt có chất bổ tỳ, nên bệnh gì mà tỳ khí kém thì dùng mới đúng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

+ “ Lãn Ông dậy: “Tề gian trúc khí, cấm dụng Bạch truật, sát nhân “ (khí ở rốn kết lại, đấm lên bùng bùng, cấm không được cho uống Bạch truật, nếu cho uống Bạch truật sẽ giết người ta. Tại sao? Vì Bạch truật là chất cứng khô (cương táo), Tỳ âm đã khô, uống Bạch truật vào nó sẽ khô thêm. Tuy nhiên Người lại dậy: Bệnh kết hơi ở rốn do Tỳ âm khô, nếu muốn uống Bạch truật, phải nhiều Bạch truật, phải nấu Bạch truật thành keo mới uống được . Vì Truật đã nấu thành keo là Truật đã có dầu, không khô cứng nữa. Tỳ đang bị khô, được dầu Truật dẫn vào là êm dịu ngay, vì Truật là Tỳ dược” (Định Ninh Tôi Học Mạch).

+ “ Sách ‘Bản Thảo Kinh ‘ và ‘Biệt Lục’ đều gọi là Truật chứ không phân biệt Thương và Bạch, sách bản thảo về sau này mới chia ra làm 2 loại: mầu trắng gọi là Bạch truật, mầu đỏ gọi là Thương truật. Lại còn gọi thứ Bạch truật thu hái về mùa đông là Đông truật còn loại mọc hoang là Ư truật.” (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Bạch truật thiên về kiện tỳ, Thương truật thiên về táo thấp (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Thuốc có tính ôn táo nên dùng thận trọng đối với bệnh nhân âm hư nội nhiệt. Trường hợp có triệu chứng khí trệ như ngực bụng đầy tức nếu dùng Bạch truật nên thêm thuốc hành khí như Trần bì, Mộc hương, Sa nhân (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ So với Thương truật thì Thương truật tính vị cay táo nhiều mà ít có tác dụng bổ, còn Bạch truật vị ngọt đắng, tính ôn, hơi cay nên tác dụng bổ nhiều hơn

tán, dùng kiện tỳ tốt (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Viên Kim Truật, công thức phối hợp giữa Bạch truật và Nghệ đã được ứng dụng trong điều trị bệnh loét dạ dày – tá tràng với những kết quả sau:

Trên đa số bệnh nhân, viên Kim Truật có tác dụng làm giảm khá nhanh các cơn đau, người bệnh thấy dễ chịu. Ngoài tác dụng làm giảm đau, người bệnh thấy hết chướng và đầy, hết cảm giác nóng rát vùng thượng vị và ăn được. Tất cả các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như táo bón, tiêu lỏng, ợ chua, ợ hơi đều khỏi.

Trên hình ảnh chụp X quang, khó phân biệt sự khác nhau giữa các vết loét đang phát triển và các vết loét đã lành sẹo.

Độ toan dịch vị có hạ, chủ yếu là độ acid tự do.

Chức năng gan vẫn bình thường. Đa số bệnh nhân tăng thể trọng.

Phân biệt: Tại Trung quốc mỗi nơi trồng một loài khác nhau, có thể chia làm 2 loài dưới đây:

  • Dã ư truật (Bạch truật mọc dại) là Bạch truật mọc hoang dại tập trung ở huyện Ư thế. Xương hóa, núi Thiên mục, tỉnh Triết Còn có tên gọi là Thiên sinh truật. Thân cây nhỏ yếu, màu nâu tím, củ có vị ngọt, trên thị trường được coi là loại có phẩm chất tốt, nhưng hiện nay đã mất giống, loại truật hiện nay đang lưu hành trên thị trường là loại Bạch truật trồng ở Tân Xương (Thừa Huyện) thuộc miền núi Ư Thế. Ruột củ màu trắng vàng, có vần màu vàng mùi thơm dịu, vị ngọt hơi cay cay. Nói chung thị trường cho rằng Bạch truật Ư Thế tốt hơn Bạch truật Tân Xương, k m hơn Ư truật mọc dại.
  • Chủng truật (Bạch truật trồng): Trồng ở Dư huyện tỉnh An Huy, nên có tên là Huy truậ Vỏ màu nâu, thô xốp, mềm, mùi không thơm, phẩm chất kém.
  • Các loài khác ở dải đất Thiên đài, Tiên cư, Kiến đức tỉnh Triết giang có trồng loại Bạch truật mọc dại (Dã sinh truật), hình dạng của cây cũng giống như cây (Ư truật), dùng như Ư truật. Theo vùng và địa hình đất trồng có thể chia thành:

Hoàng sơn truật, Tiên cư truật, Hà hình truật. Nói chung người ta cho rằng chất

lượng của Dã sinh truật k m hơn chất lượng của Ư truật mọc dại nhưng tốt hơn Bạch truật, Chủng truật (Danh Từ Dược Vị Đông Y).

+ Dùng sống thì thiên về trừ thấp, dùng sao thì thiên về kiện tỳ, vì vậy, muốn trừ thấp thì dùng sống, muốn kiện Tỳ thì dùng sao. Bạch truật và Thương truật đều có tác dụng kiện tỳ, táo thấp, nhưng Bạch truật thiên về kiện tỳ, chỉ hãn, còn Thương truật thiên về táo thấp, phát hãn. Một thứ bổ tỳ, một thứ vận tỳ, dùng không giống nhau (Thực Dụng Trung Y Học).

Tìm kiếm điều bạn cần
Đừng quên chia sẻ nếu thông tin hữu ích

Hỏi đáp - bình luận