Phù Phổi Cấp – triệu chứng và điều trị

Sổ tay nội khoa

Sự phát triển cấp tính, đe dọa tính mạng của phù phổi phế nang do một hoặc nhiều nguyên nhân sau:
1. Tăng áp lực thủy tĩnh trong mao mạch phổi (suy tim trái, hẹp 2 lá)
2. Yếu tố thúc đẩy chuyên biệt (Bảng 14-1), dẫn đến phù phổi cho tim trên bệnh nhân trên bệnh nhân suy tim có bù trước đó hoặc không có tiền căn tim mạch trước đó
3. Tăng tính bán thấm màng phế nang-mao mạch phổi (phù phổi không do tim). Các nguyên nhân thường gặp, xem Bảng 14-2.

BẢNG 14-1 YẾU TỐ THÚC ĐẨY PHÙ PHỔI CẤP

Rối loạn nhịp nhanh hoặc nhịp chậm cấp tính
Nhiễm trùng, sốt
Nhồi máu cơ tim cấp
Tăng huyết áp nặng
Hở van hai lá hoặc van động mạch chủ cấp tính
Tăng thể tích tuần hoàn (ăn nhiều Na+, truyền máu, thai kỳ)
Tăng nhu cầu chuyển hóa (vận động, cường giáp)
Thuyên tắc phổi
Không tuân thủ (bỏ đột ngột) thuốc điều trị suy tim sung huyết mạn tính

BẢNG 14-2 NGUYÊN NHÂN GÂY PHÙ PHỔI KHÔNG DO TIM

NGUYÊN NHÂN GÂY PHÙ PHỔI KHÔNG DO TIM

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

Bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý nặng, thường vã mồ hôi, đột ngột ngồi bật dậy, thở nhanh, xanh tái có thể biểu hiện. Ran phổi hai phế trường, tiếng tim thứ ba có thể xuất hiện. Đờm lẫn máu cũng có thể xảy ra.

CẬN LÂM SÀNG

Khí máu động mạch sớm cho thấy giảm cả Pao2 và Paco2. Khi suy hô hấp tiến triển, tăng cacbonic phát triển với toan máu. X quang ngực cho thấy tái phân bố mạch máu phổi, mờ lan tỏa hai phế trường với hình dạng “cánh bướm” quang rốn phổi.

ĐIỀU TRỊ Phù phổi cấp

Liệu pháp xâm lấn ngay lập tức là bắt buộc để cứu sống bệnh nhân. Các liệu pháp sau nên được bắt đầu cùng lúc ngay khi có thể đối với phù phổi do tim:

1. Thở oxy 100% qua mặt nạ để đạt PaO2 >60 mmHg; nếu không đủ, sử dụng thông khí áp lực dương qua mặt nạ mặt hoặc mũi, và nếu cần, tiến hành đặt ống nội khí quản.

2. Giảm tiền tải:

a. Cho bệnh nhân ngồi thẳng để giảm máu tĩnh mạch về, nếu không hạ huyết áp.

b. Thuốc lợi tiểu quai TM (vd: furosemide, khởi đầu liều  0.5–1.0 mg/kg); dùng liều thấp nếu bệnh nhân không dùng thuốc lợi tiểu mãn tính.

c.  Nitroglycerin (đặt dưới lưỡi 0.4 mg × 3 mỗi 5phút) sau đó,  5–10 μg/ phút TM nếu cần.

d.  Morphine 2–4 mg TM (lặp lại); thường xuyên đánh giá tình trạng hạ áp hoặc suy giảm hô hấp; naloxone nên dùng để đối kháng tác dụng của morphine nếu cần.

e. Xem xét dùng thuốc ức chế men chuyển angiotensin nếu bệnh nhân có tăng huyết áp, hoặc có nhồi máu cơ tim cấp với suy tim.

Hỏi đáp - bình luận