Chẩn đoán và điều trị teo thực quản ở trẻ em

Bệnh nhi khoa

Teo thực quản là sự gián đoạn của lồng thực quản trong thời kỳ phát triển của bào thai, có hoặc không kèm theo rò khí – thực quản. Ladd và Gross chia theo thực quản làm 5 loại:

Teo thực quản

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

  • Thai phụ có biểu hiện đa 01.
  • Trẻ ngay sau khi sinh đã có biểu hiện tăng tiết nước bọt qua miệng (sùi bọt cua).
  • Tím tái, sặc sụa ngay sau khi cho bú hoặc uống thìa nước đầu tiên.

– Đặt sonde dạ dày thấy đầu sonde quay lộn ra miệng hoặc đặt sonde không thấy quay ngược ra ngoài nhưng bơm khí qua sonde nghe không thấy có nhu động ở vùng thượng vị.

Viêm phổi, suy hô hấp ở giai đoạn muộn.

Xét nghiệm

– Phim Xquang thẳng nghiêng:

+ Đặt sonde vào thực quản bơm 2-3ml không khí hoặc thuốc cản quang (0,5-lml barit loãng và hút ra ngay sau khi chụp) để xác định túi cùng thực quản.

+ Phim lấy cả phần bụng để xác định kiểu teo thực quản.

+ Thử chất khí máu.

  • Các xét nghiệm cần thiết cho phẫu thuật.

ĐIỀU TRỊ

Điều trị trước mổ (12-48 giờ)

  • Nằm tư thế đầu cao.
  • Đặt sonde túi cùng thực quản hút liên tục hoặc cách quãng.
  • Kháng sinh phổ rộng: cephalosporin thế hệ thứ 3.
  • Bồi phụ nước, điện giải, toan kiềm.
  • Vitamin K.
  • Bảo đảm thân nhiệt.

Phẫu thuật

Nối thực quản ngay một thì

Chỉ định: hai đầu thực quản gần nhau, cân nặng trên 1500gam, không có viêm phổi nặng.

  • Bệnh nhân nằm nghiêng trái có độn sau lưng.
  • Tiếp cận thực quản qua liên sườn 4-5 bên phải ngoài phế mạc. Sau khi rạch da, tách và cắt cơ liên sườn. Dùng ngón tay hoặc tẩm bông nhỏ tách đẩy phế mạc khỏi thành ngực sau và bên. Tìm tĩnh mạch Azigos. Cắt và thắt tĩnh mạch này. Tìm đầu dưới thực quản. Thực quản nằm sau tĩnh mạch Azigos. cắt và khâu lỗ rò thực quản – khí quản bằng chỉ tiêu chậm 5/0. Bóc tách đầu trên thực quản. Mở túi cùng thực quản trên. Khâu mặt sau, thực quản một lớp, mũi rời. Đặt sonde qua mũi thực quản và vào dạ dày. Khâu mặt trước thực quản một lớp mũi rời.

Chăm sóc và theo dõi sau mổ

Duy trì thân nhiệt Truyền dịch trong 48 giờ.

Hút dẫn lưu màng phổi với áp lực 6cm nước.

Chụp ngực vào ngày thứ 2 sau mổ. Rút dẫn lưu nếu phổi nở tốt. Kháng sinh tĩnh mạch trong 7 ngày.

Cho ăn qua sonde với số lượng tăng dần bắt đầu sau mổ 24 giờ.

Theo dõi phát hiện biến chứng rò miệng nối: bệnh nhân đột ngột khó thở, nghe thấy hội chứng ba giảm, chụp ngực có hình khí và dịch trong khoang màng phổi, xử trí bằng đặt lại dẫn lưu khoang màng phổi, ngừng cho ăn, nuôi dưỡng tĩnh mạch. Nếu 5-7 ngày không hết rò cần mổ lại để dẫn lưu thực quản ra cổ.

Nối thực quản 2 thì

Chỉ định: tình trạng toàn thân nặng, cân nặng thấp hoặc đang có viêm phổi.

  • Thì 1: mở thông dạ dày.
  • Thì 2: mở ngực khâu nối thực quản khi tình trạng toàn thân cho phép.

Tạo hình thay thế thực quản

Chỉ định: hai đầu thực quản xa nhau không nối được thì đầu:

Thì 1: đóng rò khí thực quản, mở thông dạ dày, mở thông thực quản cổ.

Thì 2: tạo hình thực quản bằng đại tràng ngang hoặc dạ dày khi trẻ từ 6 tháng trở lên. Có thể tịnh tiến thực quản nhiều lần theo kỹ thuật Ken Kimura.

Hỏi đáp - bình luận