Tứ quân tử thang

Bài thuốc Đông Y

Tứ quân tử thang

Thành phần:

Nhân sâm 10g Bạch truật 9g
Phục linh 9g Cam thảo 6g

Cách dùng: Tán bột làm viên, mỗi lần uống 8 – 12g. Có thể dùng thang sắc uống.

Công dụng: Bổ khí, kiện tỳ.

Chủ trị: Chữa chứng tỳ vị khí hư, vận hóa kém gây sắc mặt trắng bệch, nói nhỏ, ăn kém, ỉa phân nát, tay chân mỏi mệt, mạch tế hoãn.

Phân tích phương thuốc: Trong phương này Nhân sâm là quân, cam, ôn, đại bổ nguyên khí, kiện tỳ nuôi vị. Bạch truật là thần, khổ ôn kiện tỳ táo thấp. Tá là Phục linh cam đạm, thẩm thấp kiện tỳ. Phối hợp Phục linh, Bạch truật thì công năng kiện tỳ trừ thấp càng mạnh, sự vận hoá càng tăng. Sứ là Cam thảo, cam, ôn điều trung. Toàn bài phối ngũ có công năng ích khí kiện tỳ.

Gia giảm:

  • Bài Dĩ công tán do bài Tứ quân gia thêm Trần bì chữa chứng tỳ vị hư kiêm khí trệ gặp ở trẻ em tiêu hóa kém, nôn mửa, ăn kém, ỉa chảy.
  • Bài Lục quân tử thang do bài Tứ quân gia thêm Trần bì, Bán hạ chữa các chứng nôn mửa do thai nghén.
  • Tỳ vị khí hư kiêm đàm thấp gây viêm phế quản mạn tính, ho, đờm nhiều, đờm lỏng loãng thường gia thêm các vị thuốc trừ đàm chỉ khái như: Tử uyển, Khoản đông hoa. Nếu có huyết hư gia thêm Thục địa, Đương quy; nếu có dương hư gia thêm Phụ tử, Can khương.
  • Nếu khí hư không có sức gia Thăng ma, Sài hồ.

Ứng dụng lâm sàng: Ngày nay thường dùng để điều trị viêm dạ dày cấp, mạn tính; viêm hang vị, loét dạ dày, loét hành tá tràng, suy giảm chức năng dạ dày ruột, băng huyết, rong kinh, viêm gan mạn tính.

Cách nhớ bài thuốc: Tứ quân tử thang

Sâm linh truật thảo

Tứ quân tử thang

(Phụ: Đạo công tán, Kiện tỳ hóa đàm thang, Kiện tỳ hòa vị thang, Kiện tỳ nhu can thang, Sâm linh bạch truật tán, Thật vị bạch truật tán)

« Hòa tễ cục phương »

Thành phần:

  1. Nhân sâm (hoặc Đẳng sâm) 8-12 gam
  2. Bạch truật 8-12 gam
  1. Phục linh 12 gam
  2. Chích cam thảo 4 gam

Cách dùng: Ngày dùng 1 thang, đun sắc chia 2 lần uống.

Công dụng: Kiện tỳ vị, ích khí hòa trung.

Chữa chứng bệnh: Tỳ vị hư nhược, khí hư bất túc, mệt mỏi rã rời, mặt vàng người gầy, ăn uống giảm sút, đại tiện lệt xệt, mạch mềm yếu, rêu mỏng tráng. Người thể hư, sau khi ốm không điều hòa hoặc bị bệnh lâu mà có chứng nói trên đều dùng được.

Giải bài thuốc: Bài này thường dùng trong lâm sàng là phương thuốc cơ sở của kiện tỳ ích khí, nhiều bài thuốc kiện tỳ bổ khí khác, thường từ đây mà biến hóa. Bài này dùng Nhân sâm bổ khí và Bạch truật kiện tỳ vận thấp phối hợp với nhau là thành phần chủ yếu, Phục linh thẩm khô giúp Bạch truật kiện tỳ vận thấp, Cam thảo cam bình giúp Nhân sâm ích khí hòa trung. Tác dụng cửa toàn bài, bổ khí mà không trệ thấp, thúc đầy cơ năng vận hóa của tỳ vị, khiến ăn uống tăng lên, có lợi cho việc khôi phục sức khỏe. 4 vị thuốc mà bài thuốc chọn, dược tính bình hòa, có thể dùng lâu được không gây tác dụng xấu. Cho nên “cục phương” gọi là “Tứ quân tử thang” để nói lên tác dụng bình hòa của nó.

Bổ khí và kiện tỳ, trong cách chữa và dùng thuốc của đông y, tuy có sự phân biệt nhất định (như dùng sâm, kỳ bổ khí, truật, linh kiện tì) nhưng khí hư và tỳ hư thường có quan hệ mật thiết với nhau, thường là nhân quả của nhau, cho nên trong hai cách chữa bổ khí và kiện tỳ thường vận dụng phối hợp với nhau. Do tỳ vị là “gốc của hậu thiên” cơ năng vận hóa của tỳ vị là nguồn sinh hóa khí huyết của người ta cho nên giỏi chữa khí hư thường từ bắt tay vào kiện tỳ trước. Đồng thời do vận hóa của tỳ vị không điều hòa, không nghiền kỹ được thủy cốc thật tinh vi cho nên lúc chữa tỳ vị hư nhược phải có thuốc bổ khí giúp thêm mới giúp được tỳ vị vận hóa. Sâm, Kỳ vốn thường dùng, lúc cần gia thêm Phụ, Quế để ôn vận tỳ dương. Bài này dù dùng Nhân sâm, Cam thảo bổ khí, Bạch truật, Phục linh kiện tỳ phối với nhau là xử lý theo khí hư, tỳ hư có quan hệ mật thiết với nhau, thích hợp cho người tỳ hư khí nhược. Nhưng do sự vật phát triển thường không cân bằng trong lâm sàng có lúc nặng về khí hư, có lúc nặng về tỳ hư thêm cả khí trệ, có người thiên về thấp đàm nên lúc dùng bài thuốc này cần căn cứ bệnh tình nặng nhẹ hoãn cấp mà chú trọng kiện tỳ hoặc chú trọng bổ khí mới chữa trúng bệnh để thu hiệu quả tốt.

Phụ phương:

  1. Dị công tán: Là bài thuốc này gia Trần bì. Do Trần bì là thuốc chính để lý khí hành khí sau khi phối hợp với Sâm, Truật, tăng thêm tác dụng kiện tỳ, hòa vị, lý khí nên thích hợp với người bệnh tỳ vị hư nhược mà khí trệ không sướ Thường dùng chữa trẻ em tiêu hóa không tốt.
  2. Kiện tỳ hóa đàm thang: (Tên cũ: Lục quân tử thang) tức là bài này gia Trần bì, Bán hạ cũng là Nhị trần thang (Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Cam thảo) gia Sâm, Truậ Bán hạ, Trần bì là thuốc chính táo thấp hóa đàm sau khi phối hợp với bài này trở thành phương thuốc tiêu biểu về kiện tỳ hóa đàm. Trong lâm sàng thường dùng cho người bệnh tỳ vị hư nhược mà đàm thấp, viêm chi khí quản mạn tính, đường tiêu hóa mất chức năng điều hòa.
  3. Kiện tỳ hòa vị thang: (Tên cũ: Hương sa lục quế quân tử thang) tức Kiện tỳ hóa đàm thang gia Mộc hương (hoặc Hương phụ), Sa nhân. Các vị thuốc gia thêm đều có mùi thơm làm tĩnh bì, hòa vị sướng trung, điều lý khí cơ. Bài này trọng điểm là hòa vị sướng trung chữa các chứng tỳ vị hư nhược, vùng bụng đau lâm râm hoặc ngực tức khò khè, nôn mửa hoặc bụng sôi đại tiện lỏng
  1. Kiện tỳ nhu can thang: (Tên cũ: Quy thược lục quân tử thang) tức Kiện tỳ hóa đàm thang gia Đương quy, Bạch thượ Đương quy, Bạch thược là vị thuốc chủ yếu dưỡng huyết nhu can; sau khi gia vào bài thuốc này trở thành phương thuốc cùng chữa can tỳ, điều hòa khí huyết, chữa các chứng khí huyết không đủ, can tỳ cùng có bệnh, toàn thân hư nhược, ăn uống giảm sút, ngực tức bụng chướng, thăng hỏa, ít ngủ. Thường dũng chữa chứng viêm gan mạn tính gan bị xơ cứng sớm, kinh nguyệt không đều và các bệnh mạn tính khác đã nói ở trên. Nếu thấy lưỡi đỏ mà rêu ít có thể bỏ Bán hạ tức là Quy thược dị công tán để khỏi quá tân táo mà tồn thương âm dịch.
  2. Sâm linh Bạch truật tán: Tức bài này gia Biển đậu, Sơn dược, Hạt sen, Kiết cánh, Ý dĩ, Sa nhân; có bài còn gia Trần bì, những vị thuốc được gia thêm phần lớn là tu dưỡng tỳ vị lý khí hóa đàm, trị tỳ phế khí hư, sức yếu khí ít, ăn ít đại tiện lỏng hoặc ho đờm lâu là phương thuốc tiêu biểu về dưỡng tỳ bổ phế.
  3. Thất vị Bạch truật tán: Tức bài này gia Cát căn, Hoắc hương, Mộc hươ Do gia thêm Cát căn thang đề chỉ tả, Hoắc hương có mùi thơm hóa thấp, Mộc hương điều khí sướng trung nên chuyên trị tỳ hư tiết tả nhất là với trẻ dùng càng tốt.

Tìm kiếm điều bạn cần
Đừng quên chia sẻ nếu thông tin hữu ích

Hỏi đáp - bình luận