Quy bản

0

Tên khoa học:

Quy bản ( Carapax Testudinis) là cái yếm của con Rùa ( Chinemyx reevessi (Gray)) thuộc họ Rùa ( testudinidae).

Tên khác: Quy xác, Quy hạ giáp, Quy giáp, mai rùa, Yếm rùa

Ở nước ta đâu cũng có rùa, nhiều nhất là nơi có ao hồ. Bắt rùa giết chết, lấy yếm thì gọi là Thang bản, thường dùng phần bụng ( yếm) nhưng phần lưng cũng dùng được.

Nguồn gốc:

Đây là mai và yếm rùa thuộc loài động vật họ rùa. Sản xuất chủ yếu ở Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, An Huy, Giang Tô, Tứ Xuyên, Vân Nam …

Phân biệt tính chất, đặc điểm:

Quy bản
Quy bản

Đây là những mảnh hình khối to nhỏ không đều, mặt ngoài màu vàng nhạt đến màu gụ, có vân be tím hình tên bắn hoặc đại bộ phận màu be tím; mặt trong có màu trắng vàng đến màu trắng xám. Chất cứng, rắn, mùi hơi tanh, vị hơi mặn. Loại nào chất khô trên mai có đốm máu, miếng to, không dính thịt thối là loại tốt.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Quy bản có tác dụng nâng ngưỡng đau của chuột cống được gây mô hình âm hư thể cường giáp, độ dính của huyết tương giảm rõ, còn có tác dụng khu ứ chỉ thống. Có tác dụng điều chỉnh 2 chiều hiệu suất tổng hợp DNS. Có tác dụng bổ huyết, giải nhiệt, an thần.

Theo các nghiên cứu hiện đại, Quy giáp có hàm chứa các chất keo, chất albumin, chất béo, calci v.v… có thể điều tiết các chức năng của cơ thể, kích thích các cơ quan trong cơ thể tự thân điều tiết, tăng cường trạng thái tự ổn định, nâng cao khả năng miễn dịch cho cơ thể.

Liều lượng và cách dùng:

Liều 10 – 40g, dùng thuốc đập vụn sắc trước, nấu thành cao Quy bản, ngày uống 10 – 15g, chia 3 lần. Cho thuốc vào hoàn tán, dùng ngoài liều lượng tùy theo yêu cầu, thường sao cháy, tán bột đắp bôi. Không nên dùng cho người hàn thấp, tỳ vị hư hàn.

Khí vị:

Vị mặn mà ngọt, khí bình, có độc, là vật chủ âm ở trong âm, ghét Sa sâm, Phi liêm, rất sợ mật Chó.

Chủ dụng:

Chuyên bổ âm suy, khéo tư nhuận cho Thận bị tổn hại, chủ trị 5 chứng trĩ có sâu ăn trong âm khí, thấp tý, lở đầu, chữa Tâm khí kinh giận, đau bụng, nóng lạnh trong xương, không đứng lâu được, đới hạ, băng lậu, trưng hà, sốt rét rừng, thương hàn vì làm việc mệt nhọc mà tái phát, cơ thể nóng rét, eo lưng và lưng đau nhức, tay chân yếu nặng khó cử động, trẻ em không kín thóp, đàn bà bị thấp ngứa lở âm hộ, trục ứ huyết tích lại, nối gân xương đứt gãy, vì tính nó thiêng hơn mọi vật dùng để bổ Tâm, thêm trí khôn, khí rất mềm mại, thuần hòa có thể làm cho hỏa đang bốc lên mạnh phải suy đi, tính hàn để dưỡng tinh, rất tĩnh thì chế được mọi sự động, tính giống Miết giáp, nhưng Miết giáp sắc xanh ứng với hành Mộc, chạy vào Can thêm huyết để trừ nhiệt, Quy giáp sắc đen, ứng với hành Thủy, thông Tâm vào Thận, lại chữa cả chứng lỵ trước khi sinh và sau khi sinh.

Cấm kỵ:

Tính vốn chí âm, rất hàn, dùng nhiều tất phải thương tổn Tỳ thổ, Quy giáp không phải ngàn năm mà tự chết thì có độc không dùng được, đàn bà có thai không nên uống.

Cách chế:

Phàm cho vào thuốc nên nghiền rất nhỏ, chớ để ướt không thì trệ lại ở Ruột và Dạ dày có thể biến thành chứng trưng hà, lại nói phết mỡ sữa hay mỡ Lợn, hay tẩm Rượu nướng đều được. Loại Rùa đực thì mai tròn, xương trắng, Rùa cái thì mai dài, xương vàng, đàn bà dùng Rùa đực đàn ông dùng Rùa cái.

Nhận xét:

Rùa bẩm thọ khí chí âm của phương Bắc, tinh hoa ở cái mai, nó bổ Tâm, bổ huyết, bồ Thận được, đều là để dưỡng âm. Cách Vật Chí nói: Trời có tiếng sấm Tiên thiên, ở núi có nhiều con Rùa tự tử, huyết và thịt thối nát ngấm vào trong mai, đó thực là Bại Quy bản.

Lại nói: giống vật có mai có 360 loại mà Rùa đứng đầu, tính nó thiêng mà biến hóa được.

GIỚI THIỆU THAM KHẢO

“Cảnh Nhạc toàn thư”

Bài Tả quy hoàn

Thục địa 320g, Sơn thù 160g, Sơn dược 160g, Câu kỷ tử 160g, Quy bản giao (Thái mỏng, sao châu) 160g, Lộc giác giao (thái mỏng) 160g, Thỏ ty tử 160g, Ngưu tất (rửa Rượu nấu chín) 120g. Thục địa giã nát, nấu thành cao, cho Quy bản giao và Lộc giác giao vào, khuấy tan, các vị khác tán nhỏ, thêm Mật làm hoàn, mỗi lần uống 12-16g, ngày 2 lần.

Có tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết.

Chữa người Can, Thận âm hư, tinh huyết hư suy, chóng mặt, hoa mắt, lưng đau, chân tay mỏi, hiếm muộn, lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế.

(xem thêm vị Thục địa).

“Thiên gia diệu phương”

Bài Liên thầm thang gia vị

Câu đằng 10g, Địa long 10g, Nữ trinh tử 12g, Liên tu 12g, Tang thầm tử 12g, Hoài sơn 15g, Hạn liên thảo 10g, Ngưu tấtl5g, Sinh Mẫu lệ 25g (sắc trước),Quy bản 25g (sắc trước)

Sắc chia uống 3 lần trong ngày. Có tác dụng tư Thận, dưỡng Can. Chữa bệnh tăng huyết áp. Người bệnh mặt phù hồng, đau đâu, mất ngủ, ban đêm đái nhiều, người béo, chất lưỡi đỏ, rìa lưỡi có hằn vết răng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Can huyền sác, mạch Xích nhươc, huyết áp 210/120 mmHg.

Cần thiết có thể thêm Thiên ma (để tức phong, chữa váng đầu, đau đầu); Đỗ trọng (để bổ Can Thận, tráng cân cốt); Xuyên bối (để trừ đờm, thanh khiếu); Sơn tra, Thái tử sâm. (để lý Tỳ, Vị).

Người bệnh phải kiên trì uống dài ngày.

“Bản thảo thuật nghĩa”

Bài Tang phiêu tiêu tán

Tang phiêu tiêu 40g, Long cốt 40g, Xương bồ 40g, Nhân sâm 40g, Đương quy 40g, Viễn chí 40g, Phục thần 40g, Quy bản (tẩm Dấm nướng) 40g. Cùng tán nhỏ, thêm Hô làm hoàn, liêu uống 8-12g, ngày 2 lần.

Có tác dụng bổ Tâm, Thận, cố tinh, chỉ di.

Trị chứng di, mộng tinh, di niệu, tâm thần hoảng hốt, lười nhat, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhươc (do Tâm Thận bất túc)

Chú ý: nếu do hỏa thịnh gây nên tiểu nhiều, nước tiểu đỏ, tiểu rít đau, hoặc do Tỳ Thận dương hư, tiêu nhiêu hoặc tiêu không cầm được, đều không nên dùng bài này.

“Thiên gia diệu phương”

Bài Bát trân thang hợp tam giao thang gia giảm.

Chích hoàng kỳ 60g, Đương quy 15p, Chích Cam thảo 6g, Thục địa 30g, Tiên hạc thảo 30g, Tam thất 5g, Phụ phiến 5-10g, Kê huyết đằng 30g, Đảng sâm 30g, Bạch truật 15g, Mộc hương 6g, Lộc giác giao 15g, A giao 15g, Quy bản giao 15g.

Thêm Mật làm hoàn, liều uống 12-16g, ngày 3 lần.

Có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết, phù dương, ích âm.

Chữa thiếu máu không tải tạo.

Bản thân tôi từng chữa bệnh này cho người đã 85 tuổi, đã chữa Tây y, truyền máu 3 tháng liền không kết quả, chỉ dùng bài Hữu quy hoàn gia thêm Nhân sảm, có hiệu quả tức thì.

(sau đó bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh).

Những cấm kỵ trong khi dùng thuốc:

Phụ nữ có thai, người bị ngoại cảm tà khi và hàn thấp, kiêng không dùng.

Theo văn hiến ghi chép lại, dược phẩm này sợ sa sâm và mật chó.

Bảo quản:

Để nơi khô ráo nhiệt độ thấp, phòng mọt.

Các bài thuốc bổ dưỡng thường dùng:

Gia vị Quy bản hoè nấm đồn sấu trư nhục (gia vị, mai rùa, nấm, cây hoè hầm thịt nạc)

Mai rùa 30g – Nữ trinh tử 15g

Nấm cây hoè 6g – Hoài sơn dược 15g

Sơn du nhục 9g – Thịt lợn nạc 60g .

Năm vị thuốc trên sắc lên bỏ bã lấy nước nấu thịt lợn cho chín mang ra ăn, ngay 1 thang, ăn thường xuyên.

Dùng để chữa các bệnh thận âm hư thuộc chứng ung thư cổ tử cung, đầu váng tai ù, lưng đau gối mỏi, âm đạo thường xuyên bị chảy máu …

Quy bản hải sâm bạch cập tán (thuốc bột hải sâm, mai rùa, bạch cập)

Hải sâm 250g – Bạch cập 120g

Mai rủa 60g

Hải sâm bạch cập sấy khô, mai rùa sấy bơ, nghiền chung thành bột mịn. Uống ngày 3 lần, mỗi lần 15g.

Dùng để chữa bệnh lao phổi âm hư ho ra máu, mất máu nhiều mà không có máu tụ.

Liễm hãn Quy bản hắc đậu thang (thang mai rùa đậu đen ráo mồ hôi)

Mai rua 10g – Ngũ vị tử 5g

Đậu đen 50g – Đường trắng 1 thìa

Ngũ vị tử và mai rùa cho vào phạn sành đổ 1 bát rưỡi nước lã vào, đun nhỏ lửa sắc trong nửa giờ, còn lại khoảng 1 bát to, lọc lấy nước, đổ vào nồi đất cùng với đậu đen, ninh nhỏ lửa trong 1 giờ, cho tới khi đậu nhừ, đánh đường vào đun thêm 1 lát. Nếu thiếu nước thì nửa chừng có thể cho thêm nước. Dùng làm món ăn điểm tâm. Ngày 1 – 2 lần. Dùng để chữa bệnh đổ mồ hôi trộm, ban đêm ngủ không ngon.

Quy bản a giao thang (thang mai rủa, keo da lừa).

Mai rùa sao 18g – Đan bì 9g

Keo da lừa 6g – Rễ cỏ tranh 12g

Thục địa 18g

Mai rùa rửa sạch giã nát, cho vào nồi đất, cho nước vừa phải đun to lửa cho sôi, chuyển sang đun nhỏ lửa trong 1 giờ. Thục địa, đan bì, rễ cỏ tranh rửa sạch cho vào, đun to lửa cho sôi, sau chuyển sang đun nhỏ lửa trong 50 phút, lọc lấy nước, bã lại cho nước lã vào sắc lần 2, lọc lấy nước, trộn lẫn 2 nước làm 1. Uống ngày 1 thang chia 2 lần sớm, tối. Mỗi lần uống đun nước thuốc cho sôi, cho keo da lừa vào hoà tan, uống lúc đói.

Chữa bệnh đái ra máu do thận âm khuy hư sinh ra.

Quy bản hoàng kỳ sơn dược dĩ mễ thang (thang mai rùa, hoàng kỳ, sơn dược, hạt ý dĩ).

Mai rùa sao 15 – 18g – Sơn dược 15g

Hoàng kỳ 12 – 18g – Hạt ý dĩ 15g

Mai rùa rửa sạch giã nát, cho vào nồi đất đun to lửa cho sôi, sau đó sắc nhỏ lửa 1 giờ. Hoàng kỳ, sơn dược, hạt ý dĩ rửa sạch cho vào lại đun to lửa cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa thêm 30 phút, lấy nước, dùng bã sắc lại trong 25 phút lấy nước hai, đổ lẫn hai nước làm một.

Uổng ngày 1 thang chia hai lần sớm, tối, uống nóng lúc đói.

Chữa bệnh phù nề, đau lưng, mỏi lưng do tỳ hư, thận hư sinh ra.

Quy bẩn tán (thuốc bột mai rùa).

Mai rua sao 100g – Tổ ong 25g

Xác rắn 50g

Móng treo lợn (móng sừng) 30g

Vỏ sừng ở móng treo lợn sao hơi vàng, giã nát cùng với các vị còn lại. Trước mỗi bữa ăn, hoà 5 gam thuốc bột này với cháo nóng mà ăn.

Chữa bệnh lòi dom, kết hạch, đau đớn mãi không khỏi.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here