Hoàng tinh

Vị thuốc Đông y
Hoàng tinh
Hoàng tinh

HOÀNG TINH

Tên khác:  Hoàng tinh lá mọc so le, hoàng tinh cách, cây đót, co hán han (Thái) Tên khoa học: Disporopsis longifolia Craib Họ Thiên môn (Asparagaceae)

MÔ TẢ

Cây thảo, có thân rễ chia thành những dóng tròn, trên có sẹo lõm. Thân nhẵn, mọc đứng, không phân nhánh, có đốm tía ở gốc. Lá mọc so le, không cuống, mép lượn sóng, gân hình cung, hai mặt nhẵn.

Hoa 5-10 cái mọc ở kẽ lá, bao hoa có 6 thùy màu trắng hàn liền thành hình chuông, nhị 6, bầu hình tròn.

Quả mọng, hình cầu hơi khía 3 cạnh, màu tím đen khi chín.

Mùa hoa quả: tháng 3 – 8.

Còn có loài hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum kingianum Coll. et Hemsley), cùng họ, có thân rễ mọc ngang, chia đốt, lá mọc vòng, hoa màu đỏ, cũng được dùng.

PHÂN BỐ, NƠI MỌC

Trên thế giới, hoàng tinh hoa trắng phân bố chủ yếu ở miền Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác.

Ở Việt Nam, cây chỉ mọc hoang ở các tỉnh miền núi phía Bắc gồm Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hòa Bình… Thường gặp ở dưới tán rừng núi đá vôi ẩm, ven các suối, bờ khe.

Hiện nay, cây đã được ghi vào Sách Đỏ quốc gia để bảo vệ.

BỘ PHẬN DÙNG, THU HÁI, CHẾ BIẾN

Thân rễ hoàng tinh hoa trắng, thu hái vào mùa thu đông lúc cây sắp tàn lụi, cắt bỏ gốc thân và những rễ con, rửa sạch, phơi hay sấy khô. Khi dùng, phải chế biến theo hai cách sau:

  1. Gọt bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, không bổ đôi, xếp vào chõ, đồ chín hoặc cho vào nồi, đổ nước sâm sấp, đun gần cạn, phơi khô. Làm nhiều lần như vậy đến khi củ mềm, mặt trong và mặt ngoài đều đen là được. Cuối cùng phơi thật khô.
  2. Thân rễ đã gọt vỏ, rửa sạch, để nguyên đun với nước mật mía và gừng (cứ lkg hoàng tinh dùng 250ml mật và 250g gừng). Làm nhiều lần (được 9 lần, cửu chưng cửu sái, thì tốt) đến khi hết nước mật là được. Phơi khô.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Thân rễ hoàng tinh hoa trắng có chất nhầy, tinh bột và đường.

CÔNG DỤNG VÀ LIỀU DÙNG

Hoàng tinh hoa trắng có vị ngọt, tính bình, có tác

dụng bổ trung, ích khí, nhuận phế, chữa suy nhược, kém ăn, mệt mỏi, miệng khô khát, đau lưng, mỏi gối.

Liều dùng hàng ngày: 12 – 20g dưới dạng thuốc sắc hoặc rượu ngâm.

Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Tuệ Tình (Nam dược thần hiệu) đã dùng độc vị hoàng tinh tán bột ăn với cháo để chữa các hư tổn, suy nhược.

Hải Thượng Lãn Ông (Vệ sinh yếu quyết) lại dùng hoàng tinh phối hợp với thương truật, địa cốt bì, trắc bách diệp, thiên môn, ngâm rượu uống làm mạnh gân xương, đen tóc.

BÀI THUỐC

Chữa suy nhược toàn thân, đau lưng, chân tay tê mỏi;

Hoàng tinh hoa trắng (25g), ba kích (20g), đảng sâm (10g), thục địa (10g).

Tất cả thái mỏng, ngâm với 1 lít rượu 35°. Thỉnh thoảng lắc đều. Để càng lâu càng tốt. Khi dùng, pha thêm 100ml sirô đơn. Ngày uống ba lần trước hai bữa ăn và khi đi ngủ, mỗi lần một chén nhỏ.

Đơn thuốc kinh nghiệm của tiền nhân:

  • Bổ can sáng mắt, dùng Hoàng tinh 2 cân, Mãn tính 1 cân, rửa sạch đất cát cửu chưng cửu sái rồi làm thành bột, uống lúc đói lần 2 chỉ với nước cơm, ngày 2 lần, Sống lâu ích thọ (Thánh huệ phượng).
  • Vẩy nến cùi hủi, người do vinh khí không thanh được mà sanh ra bệnh ngoài da, phong lâu ngày nhập vào gân mạch vì thế sinh ra cùi hủi, vẩy nến. đến mũi mũi sạm tàn phế, dùng Hoàng tinh bỏ vỏ rửa sạch 2 cân phơi nắng , hấp cơm ăn đều (Thánh tế tổng lục phương).
  • Bổ hư tinh khí, dùng Hoàng tinh, Câu kỷ tử các vị bằng nhau, đâm làm thành bánh, phơi nắng tán bột luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng lớn lần 50 viên (Kỳ hiệu lượng phương).
  • Bổ âm, dùng Hoàng tinh 4 chỉ, ý dĩ 2 chỉ Sa sâm 1 chỉ 5 sắc uống trong ngày.
  • Trị tinh thần bất túc, mở mắt do can hư, mỏi gối gồm Hoàng tinh, Câu kỷ, Thục địa, Thiên môn, Bạch truật, Tỳ giải, Hà thủ ô, Thạch hộc (Thánh huệ phương).

Đơn thuốc phổ thông hiện nay:

  • Nhuận phế chỉ khát: Dùng trong phế hư gây ho, ho ra máu.
  • Hoàng tinh 5 chỉ, Bắc sa sâm 2 chỉ, ý dĩ nhân 3 chỉ. Sắc uố Trị lao phổi thời kỳ đầu, ho.
  • Hoàng tinh 1 cân, Bạch cập, Bách bộ mỗi thứ nửa cân, xắt lát phơi khô tán bột luyện mật làm viên mỗi lần 2 chỉ, ngày uống 3 lầ Trị ho ra máu do lao phổi.
  • Bổ tỳ ích khí: Dùng trong cơ thể suy nhược, sức yếu bải hoải sau khi bị bệnh

Chỉ dùng Hoàng tinh uống lâu ngày hoặc cùng dùng với Hoàng kỳ, Đảng sâm, Sơn dược, trị các loại ăn ít, đoản khí, suy nhược sau khi bị bệnh.

Ngoài ra, chỉ dùng vị này 1 lượng, sắc uống trị bệnh đái đường, hoặc kết hợp với Câu kỷ tử, 2 vị bằng nhau, đâm làm bánh, phơi nắng tán bột luyện mật làm viên, lần uống 3 chỉ, ngày 2 lần. Trị bệnh huyết áp cao, chóng mặt hoa mắt, ù tai, đau yếu thắt lưng đùi.

Tham khảo: Hoàng tinh vị ngọt tính bình, có tác dụng bổ trung ích khí, nhuận tâm phế, trấn thận tinh, trợ gân cốt, nhưng phẩm chất béo bổ, công dụng bổ âm nhiều, nếu tỳ hư có thấp, không nên uống nó (Trung dược học giảng nghĩa).

Tìm kiếm điều bạn cần
Đừng quên chia sẻ nếu thông tin hữu ích

Hỏi đáp - bình luận