Bệnh truyền nhiễm

Bệnh Lyme – Triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Định nghĩa

Bệnh do xoắn khuẩn được truyền qua ve; có biểu hiện ở da và thần kinh, đau cơ, đau khớp và ở giai đoạn mạn tính có viêm khớp tái phát.

Lyme là một vùng quê ở bang Connecticut thuộc Hoa Kỳ, nơi bệnh được mô tả lần đầu tiên.

Căn nguyên

Bệnh do các xoắn khuẩn loại Borrellia (B. burgdorferi, B. garinii, B. afzellii) truyền qua vết đốt của loài ve Ixodes. Bệnh có ở nhiều nước châu Âu, tại các vùng ấm và ẩm; ở Bắc Mỹ, châu Á, Nhật và Australia. Tại các vùng ấm, bệnh được truyền từ tháng năm đến tháng bảy do ấu trùng, vết đốt thường khó thấy; còn về mùa thu là do ve trưởng thành đốt. Tỷ lệ dương tính trong dân cư là từ 5 đến 25%.

Triệu chứng

THỜI KỲ Ủ BỆNH: từ 3 đến 30 ngày.

GIAI ĐOẠN 1 (giai đoạn sớm, tại chỗ): 3-30 ngày sau khi bị ve đốt, ở da có ban đỏ, mọc lan ra ngoài, có hình nhẫn (hồng ban mạn tính di cư). Kèm theo có sốt, nhức đầu, sưng hạch vệ tinh. Trong giai đoạn này, vi khuẩn khu trú trong da. Tổn thương da lụi tàn trong vòng 1- 4 tháng ngay cả khi không được điều trị, màu nhạt và có thể không nhìn thấy được. 0 giai đoạn này, chỉ có một nửa số bệnh nhân là có huyết thanh dương tính.

GIAI ĐOẠN 2 (giai đoạn tản phát sớm): vài tuần hay vài tháng sau, thấy vô lực, nhức đầu, đau chạy từ cơ này sang cơ khác, đau gân, đau khốp.

Triệu chứng thần kinh: dấu hiệu các dây thần kinh sọ bị tổn thương, nhất là liệt dây mặt ngoại biên hay dây vận nhãn, viên đa rễ dây thần kinh và rối loạn tế bào trong dịch não tuỷ (hội chứng Bannvvarth hay Garin-Bujadoux- Bannwarth), viêm màng não lympho và viêm não.

Triệu chứng tim: viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất, suy tim.

Triệu chứng về mắt: phù quanh hốc mắt, viêm kết mạc.

Triệu chứng khác: đã có trường hợp bị viêm gan, viêm họng, và viêm tinh hoàn (rất hiếm).

Trong giai đoạn này, vi khuẩn có ở trong máu, đôi khi có cả trong dịch não tuỷ. Các triệu chứng trên thường hết nhưng có thể chuyển sang mạn tính .

GIAI ĐOẠN 3 (giai đoạn muộn, mạn tính): một số triệu chứng trở thành mạn tính.

Viêm da mạn tính gây thoái hoá ở chi: thấy ở vùng xương bánh chè, xương chày, khuỷu tay hay mu bàn tay.

Viêm khớp mạn tính, nhất là khớp gối, viêm cân.

Viêm não tuỷ mạn tính, viêm đa dây thần kinh mạn tính.

Viêm giác mạc.

Các triệu chứng thần kinh và nhất là viêm khớp mạn tính tái phát có thể xảy ra nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau lần nhiễm cấp đầu tiên.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Chẩn đoán huyết thanh: 4-6 tuần sau khi bị nhiễm, test ELISA gián tiếp với kháng nguyên gắn vào IgM dương tính trong 80-90 % số trường hợp. Test chỉ dương tính trong 50% số trường hợp ở giai đoạn đầu và 100% ở các giai đoạn thứ hai và thứ ba. Các test khác: miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, ngưng kết hồng cầu thụ động, Western-Blot.

IgG bao giờ cũng cao khi bị nặng (ở giai đoạn 3), nhất là nếu bị viêm khốp mạn tính.

Có thể phân lập vi khuẩn bằng nuôi cấy, nhất là trong các trường hợp không được điều trị, lúc đầu là ở da, sau đó là trong máu và dịch não tuỷ (xét nghiệm khó và chậm).

Kỹ thuật PCR cho phép xác định trực tiếp ADN của Borellia ở các bệnh phẩm (thời gian có kết quả từ 2 đến 3 ngày).

Điều trị

Giai đoạn cấp: nên dùng doxycyclin (100 mg ngày 2 lần) hoặc amoxicillin (1-1,5 g/ngày hay 15-20 mg/kg/ngày) theo đường uống. Nếu bị dị ứng với penicillin, nên dùng erythromycin (cứ 6 giờ lại uống 250-500 mg). Điều trị trong 2-4 tuần. Có thể có phản ứng Herxheimer.

Nếu có triệu chứng thần kinh hay khốp muộn và kéo dài, dùng ceftriaxon 50-100 mg/kg/ngày (tối đa 2g) theo đường tĩnh mạch hoặc bắp thịt trong 10-14 ngày hoặc dùng benzylpenicillin 20 triệu đơn vị/ngày, chia làm nhiều liều cách nhau 4-6 giờ. Bệnh tiến triển nhanh chứng tỏ chẩn đoán đúng.

Chẩn đoán huyết thanh cho kết quả dương tính nhưng không có triệu chứng lâm sàng thì không cần điều trị.

Hỏi đáp - bình luận