Bệnh thận - tiết niệu

Phù trong bệnh thận – tiết niệu

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Định nghĩa

Tăng thành phần ngoài mạch của dịch ngoại tế bào. Về biểu hiện lâm sàng: phù là hiện tượng dịch kẽ thâm nhập vào các mô, đặc biệt là mô liên kết dưới da của các phần thấp. Phù toàn thân thường có cổ trướng, tràn dịch màng phổi và đôi khi cả tràn dịch màng ngoài tim.

Sinh lý bệnh

Dịch ngoại bào gồm hai phần (các dịch và chất điện giải): huyết tương (1/4) và dịch kẽ tế bào (3/4), được ngăn cách bởi một màng bán thấm.

Có hai lực đối nhau ở hai bên màng: áp suất thuỷ tĩnh ở trong lòng mạch và áp suất keo của dịch kẽ có xu hướng làm nước đi từ trong mạch ra khoảng kẽ tế bào.

Ngược lại, áp suất thuỷ tĩnh của các mô và áp suất keo bên trong lòng mạch có xu hướng làm nước từ khoảng kẽ đi vào trong lòng mạch.

Ngoài ra, dịch kẽ có thể vào lại lòng mạch qua hệ bạch huyết.

Tất cả các yếu tố trên luôn luôn ở trạng thái cân bằng động. Chỉ cần một trong các yếu tố này bị rối loạn cũng đủ để gây phù.

GIẢM ÁP SUẤT KEO CỦA HUYẾT TUƠNG: áp suất thẩm thấu do các chất keo (áp suất keo) được tạo ra chủ yếu bởi các albumin, là các phân tử nhỏ hơn các phân tử globulin: về phương diện thẩm thấu, 1 g albumin tương đương với 4 g globulin. Ngoài ra, nồng độ các albumin trong huyết tương cao hơn nồng độ globulin 2-3 lần. Giảm các protein trong huyết tương, nhất là albumin, sẽ làm mất cân bằng thẩm thấu và làm cho nước từ mạch đi vào các mô.

Các nguyên nhân gây giảm protein huyết:

  • Mất quá nhiều: protein niệu cao, hội chứng thận hư, bệnh lý của ruột có tiết dịch rỉ viêm.
  • Tổng hợp giảm: bệnh gan, nhất là xơ gan.
  • Cung cấp thiếu: đói, rối loạn hấp thu.

ÁP SUẤT TĨNH MẠCH TĂNG: làm tăng áp suất trong mao mạch và nước đi vào mô.

  • Tăng toàn bộ áp suất tĩnh mạch: suy tim, viêm màng ngoài tim co thắt, ứ nước và natri.
  • Tăng áp suất tĩnh mạch cục bộ: viêm tắc tĩnh mạch, chèn ép tĩnh mạch.

Ứ NƯỚC VÀ MUỐI NATRI: tăng dịch ngoại bào gây ra hậu quả là làm tăng áp suất tĩnh mạch và làm nước đi từ mao mạch ra mô. Trong suy thận cấp và mạn tính, khả năng đào thải natri của thận bị giảm.

RỐI LOẠN TUẦN HOÀN BẠCH HUYẾT: nếu tuần hoàn bạch huyết bị cản trở, nồng độ protein trong dịch kẽ tăng và hậu quả là làm tăng áp suất keo của dịch kẽ. Nước bị kéo từ mao mạch ra.

TĂNG TÍNH THẤM MAO MẠCH: yếu tố này khó xác định nhưng có vai trò trong phù dị ứng và phù do viêm.

GIẢM ÁP SUẤT THỦY TĨNH Ở MÔ: có vai trò phân bố phù, làm phù xẩy ra ở các mô lỏng lẻo nhất (ví dụ, mi mắt). Yếu tố này có thể có vai trò ở các bệnh nhân bị suy kiệt hay tuổi cao.

Căn nguyên

PHÙ THẬN

PHÙ TIM: xem suy tim.

PHÙ GAN: xem xơ gan.

NGUYÊN NHÂN KHÁC: nội tiết (hội chứng căng thẳng tiền mãn kinh, có thai), thuốc (ví dụ, các estrogen), suy kiệt, bị đói lâu ngày.

Chẩn đoán lâm sàng: dấu hiệu đầu tiên của phù được phát hiện ở mặt trong xương chầy, dùng ngón tay cái ấn vào da nơi đó trong 10-20 giây: nếu có vết lõm tồn tại lâu là có phù. Nói chung, phù rõ hoặc phù toàn thân cho thấy có ứ khoảng >3 lít nước. Trong trường hợp này bao giờ cũng phải tìm xem có tràn dịch màng phổi, màng tim, cổ trướng không.

Phân bố phù

PHÙ KHU TRÚ: phù khu trú chỉ ở một chi là hậu quả của viêm tắc tĩnh mạch, chèn ép tĩnh mạch hay phù bạch huyết. Phù này thường có tổn thương da đi kèm (loét, viêm da, eczema). Phù do viêm có đỏ và nóng. Phù thoáng qua ở mặt đôi khi lan xuống lưỡi và niêm mạc mũi-họng là điển hình của phù dị ứng còn gọi là phù Quincke. Phù ” áo choàng ” gặp trong chèn ép tĩnh mạch chủ trên còn chèn ép tĩnh mạch chủ dưới gây phù chi dưới.

PHÙ TOÀN THÂN

  • Phù tim nặng lên vào buổi chiều tối ở các phần thấp và có xu hướng giảm vào ban đêm. Kèm theo có khó thở, khó thở khi nằm do ứ huyết phổi và tĩnh mạch.
  • Phù thận (hội chứng thận hư, albumin niệu rất cao) hay do protein huyết thấp thường rõ hơn vào buổi sáng ở mặt và ở mi mắt.
  • Phù mặt trong viêm màng ngoài tim co thắt, thấy trong lúc ngủ vì bệnh nhân có thể nằm (không có khó thỏ khi nằm).
  • Trong xơ gan thường có cổ trướng và phù ở chi dưới, bìu.

Dạng phù: phù mới, mềm và có dấu hiệu “cái chén” (dấu hiệu gô đê – godet) còn phù mạn tính và phù đã lâu trở nên rắn và khó lõm.

  • Phù do tắc mạch bạch huyết không lõm và có thể rất rắn.
  • Phù có xanh tím tại chỗ thường là do tắc tĩnh mạch.
  • Phù tim thuồng có xanh tím toàn thân.
  • Phù trong hội chứng thận hư hay do protein huyết thấp là phù trắng và mềm.
  • Phù niêm (thiểu năng tuyến giáp) không phải là phù thực sự mà là toàn bộ da bị dầy lên, da lạnh, thô ráp và khô.

Điều trị: điều trị phù trước hết là phải điều trị nguyên nhân.

Hỏi đáp - bình luận