Bệnh truyền nhiễm

Phương pháp điều trị các bệnh da do HPV gây ra

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:
  • Phương pháp phá hủy tổn thương tại chỗ.

+ Acid salicylic

+ Chất ăn mòn: Bạc nitrat, Acid Monochloroacetic, axit tricloacetic, cantharidin, phenol là những hoạt chất hiệu quả nhưng gây kích ứng và đau nhiều.

+ Liệu pháp áp lạnh: Dùng nitơ lỏng ỏ nhiệt độ -196°C gây hoại tử tế bào sừng nhiễm HPV.

+ Đốt điện: Thử nghiệm lâm sàng của S.J. Kraus và cộng sự (1990) đánh giá tác dụng của podophyllin, thủ thuật áp lạnh và đốt điện trên những bệnh nhân bị sùi mào gà cho thấy tỉ lệ sạch tổn thương lần lượt là 41%, 71% và 94% nhưng tỉ lệ tái phát lại là 17%, 55% và 71% .

+ Laser phẫu thuật: Khuyến cáo điều trị phẫu thuật bằng laser theo CDC chủ yếu đối với hạt cơm lớn, kháng trị ở người lớn và trẻ em, thương tổn ở mặt, an toàn cho phụ nữ mang thai. Đối với trị liệu laser trong hạt cơm, thông thường bệnh nhân cần khoảng 2 đến 3 lần điều trị. Tỉ lệ sạch tổn thương gần 100% và rất ít biến chứng xảy ra, tỉ lệ tái phát cũng tương tự như các phương pháp phẫu thuật khác.

+ Quang động trị liệu

+ Làm đông bằng hồng ngoại: Tỷ lệ lành bệnh được báo cáo trong một thử nghiệm ở 21 bệnh nhân là 70% so với phương pháp áp lạnh và 66.7% trong nghiên cứu của Piskin S (2004) trên 18 bệnh nhân .

  • Thuốc diệt virus

+ Glyteraldehyde

+ Cidofovir: Cidofovir là một dẫn xuất nucleotide có khả năng ức chế chuỗi polymerase DNA của virus và gây ra sự chết theo chương trình .

  • Thuốc ức chế phân bào

+ Bleomycin

+ Podophyllotoxin: Chỉ định chính trong sùi mào gà hậu môn sinh dục vì chúng thường có hiệu quả ở niêm mạc hơn lớp sừng.

+ Acid Retinoid: Retinoids giảm tăng sinh biểu bì, giúp loại bỏ hạt cơm.

  • Các thuốc điều hòa miễn dịch

+ Interferon: Interferon có nhiều dạng bào chế khác nhau từ bôi, tiêm nội tổn thương, đường toàn thân và dạng phối hợp với những kĩ thuật xâm lấn trong đó thuốc tiêm nội tổn thương cho kết quả tốt nhất. Tuy vậy, hiệu quả thực sự của Interferon vẫn chưa được chứng minh nhiều trong điều trị sùi mào gà nhất là sùi mào gà kháng trị , .

+ Imiquimod: Imiquimod có đặc tính điều hòa miễn dịch, được FDA chấp thuận là một thuốc điều trị sùi mào gà, dày sừng quang hóa, ung thư tế bào đáy nông, hạt cơm da . Tỉ lệ lành bệnh nói chung từ 37-50% ở những bệnh nhân đã thất bại với những trị liệu khác, bệnh nhân nữ thường có tỉ lệ đáp ứng cao hơn đến 77%. Song, giá thành cao dẫn đến hạn chế sử dụng.

+ 5-Fluorouracil: Thuốc hóa trị liệu, ngăn chặn tổng hợp DNA và RNA của virus và chống tăng sinh ,

+ Cimetidin (được trình bày ở phần sau)

+ Kẽm: Uống kẽm có hiệu quả nhẹ lên hệ thống miễn dịch. Nghiên cứu trên những bệnh nhân bị hạt cơm được điều trị kẽm sulphat uống với liều 10 mg/kg/ngày, tỉ lệ lành bệnh là 87%.

+ Polyphenol E: Được chiết xuất từ lá trà xanh Camellia sinensis có tính kháng virus, kích thích miễn dịch, kháng u và chống oxy hóa mạnh mẽ . Nghiên cứu của Tatti và cộng sự (2010), tỉ lệ lành bệnh sùi mào gà là 54% ở nhóm điều trị so với giả dược là 35%, tỉ lệ tái phát từ 5.8% đến 6.5%, tùy vào nồng độ khác nhau của thuốc , .

+ Vắc xin: Giúp ngăn ngừa nhiễm HPV tiên phát nhóm 6, 11, 16, 18 đã được ứng dụng trong nhiều năm gần đây và rất có triển vọng.

+ Các thử nghiệm mở tiêm kháng nguyên nấm Candida nội tổn thương nhằm tạo ra phản ứng quá mẫn tại chỗ đã gợi ý khả năng giải quyết hạt cơm kháng trị .

Hỏi đáp - bình luận