Thứ Ba, Tháng Tám 3, 2021
Trang chủBệnh mắtThuốc Kháng sinh dùng chữa bệnh mắt - Nhãn khoa

Thuốc Kháng sinh dùng chữa bệnh mắt – Nhãn khoa

Nhóm penicillin và cephalosporin

Các thuốc trên là nhóm kháng sinh có chứa nhóm beta- lactam gây bất hoạt men transpeptidase cần cho tổng hợp vách của vi khuẩn, cầu nối amide của nhóm beta-lactam có cấu trúc gần giống với cơ chất tự nhiên phản ứng với men transpetidase. Thuốc kháng sinh sẽ phản ứng với men này tạo ra một chất chứa gốc acyl không có hoạt tính.

Một số vi khuẩn có thể kháng lại tác động của penicillin và cephalosporin.

Lớp vỏ ngoài lipopolysaccharide của vỉ khuẩn Gram (-) có thể chặn các kháng sinh ưa nước tiếp cận với điểm tác động của kháng sinh là lớp bào tương của vi khuẩn. Ngoài ra một số vi khuẩn còn sản xuất ra men penicillinnase có khả năng loại bỏ cầu nối amide của chất kháng sinh làm cho kháng sinh mất tác dụng. Các loại penicillin và cephalosporin khác nhau về khả năng chịu tác động với men penicillinnase của vi khuẩn. Penicillin và cephalosporin ngấm qua hàng rào máu não và hàng rào máu mắt kém. Thuốc được đào thải khỏi mắt nhờ hệ thống vận chuyển acid hữu cơ của thể mi. Tuy nhiên khả năng ngấm thuốc vào mắt tăng lên khi có viêm và sự kết hợp thuốc với probenecid làm giảm quá trình đào thải của thuốc.

Các phản ứng quá mẫn nặng có thể gây tử vong có nguy cơ xảy ra khi dùng thuốc. Phản ứng thường xảy ra trên những người đã có tiền sử dị ứng với nhiều dị nguyên khác. Khoảng 10% số người dị ứng với penicillin sẽ có dị ứng chéo với cephalosporin.

  • Penicillin

Có 5 họ khác nhau trong nhóm thuốc này, chúng khác nhau về phô tác dụng và khả năng kháng lại men penicillinase của vi khuẩn.

Penicillin G, Penicillin V và phenethicillin có tác dụng tốt đối với đa số các loại cầu khuẩn Gram (+) và Gram (-) kỵ khí, actinomyces, leptospira, treponema. Tuy nhiên đa số các chủng tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), tụ cầu da (S. epidermidis) và lậu cầu hiện kháng thuốc thường nhờ men penicillinase. Penicillin V và phenethicillin có thể hấp thụ tốt qua đường uống còn penicillin G nên dùng bằng đường tiêm do thuốc bị bất hoạt bởi dịch vị. Các thuốc này được đào thải nhanh chóng qua thận và có thời gian bán huỷ nhanh trừ khi ở dưới dạng thuốc chậm như procain penicillin G hoặc được dùng phối hợp vổi probenecid có tác dụng đào thải thuốc qua thận.

Các loại penicillin kháng men penicillinase gồm methicillin, nafcillin, oxacillin, cloxacillin, dicloxacillin, íloxacillin có tác dụng kém hơn trên các vi khuẩn chịu tác dụng so với penicillin G nhưng lại có tác dụng tốt trên tụ cầu vàng sinh men penicillinase. Methicillin và nafcillin không bền với acid nên cầu được dùng theo đường tiêm, các loại thuốc còn lại trong nhóm có thể dùng theo đường uống.

Nhóm penicillin phổ rộng như ampicillin và amoxicilin có tác dụng trên cả vi khuẩn Gram (-) như Hemophilus influenzae và Proteus mirabilis. Tuy nhiên càng ngày có nhiều hơn các chủng H. influenzae kháng với nhóm thuốc này. Các thuốc này bền vững trong môi trường acid và có thể sử dụng theo đường uống, chúng không có tác dụng đôi với vi khuẩn có men penicillinase.

Piperacillin và mezlocillin đặc biệt có tác dụng đối với mủ xanh. Chúng được dùng theo đường tiêm và bị phân huỷ bởi men penicillinase.

  • Cephalosporin

Tuỳ theo loại vi khuẩn chịu tác dụng và khả năng kháng men penicillinase mà các loại thuốc này được chia thành cephalosporin thế hệ thứ nhất, thứ hai, và thứ ba.

  1. Thế hệ thứ nhất: bao gồm cephatolin, cefazolin, cephalexin và cephradin có tác dụng trên vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) bao gồm Streptococcus pyogenes nhóm A, s. viridans, s. pneumonia, tụ cầu vàng và tụ cầu da, Clostridium perfringens, Bacillus subtilis, Corynebacterium diphtheriae. Chúng cũng có tác dụng trên p. mirabolis, Salmonella. Shigella, Klebsiella, Escherichia coli nhưng chỉ có tác dụng trên một nửa số chủng H. influenzae được phân lập. Các thuốc này không có tác dụng trên enterobacter, các loài proteus khác, trực khuẩn mủ xanh, barteroides, serratia và cầu khuẩn đường ruột. Cephalotin là thuốc kháng tốt nhất với penicillinase của tụ cầu trong nhóm. Cephazolin có tác dụng tương đối tốt hơn đối với klebsiella. Cephalexin và cephradin là hai thuốc bền với acid và có thể dùng theo đường uống.
  2. Thế hệ thứ hai: Cephamandol và cefoxitin có tác dụng đối với ba loài vi khuẩn Gram (-) là H. influenzae, Enterobacter aerogenes và Nesseria. Cefuroxim cũng có phổ kháng khuẩn tương tự. Cephamandol còn thêm tác dụng trên loài Proteus sản xuất indol và bacteroides. Cefuroxim là thuốc tốt để điều trị nhiễm lậu cầu sản xuất men penicillinase và H. influenzae kháng với ampicillin, nó cũng còn được dùng để điều trị ban đầu cho viêm màng não do phế cầu, não mô cầu hoặc H. influenzae vì thuốc có khả năng ngấm tốt qua hàng rào máu não.
  3. Thế hệ ba: Cefotaxim và moxalactam có tác dụng mạnh hơn đối với trực khuẩn Gram (-) nhưng kém hơn so với cephalosporin thế hệ thứ nhất đối với các loại cầu khuẩn Gram (+). Cefoperazon và ceftizoxim có phổ kháng khuẩn tương tự đối với vi khuẩn Gram (+) và Gram (-), các vi khuẩn kỵ khí, serratia, proteus, và một số chủng trực khuẩn mủ xanh. Cefoperazon đặc biệt có tác dụng trên trực khuẩn mủ xanh.

Các thuốc kháng sinh khác

  • Nhóm Sulfonamid:

Là chế phẩm của para-aminobenzenesulfonamid chúng có cấu trúc tương tự và cạnh tranh với acid para-aminobenzoid đế tổng hợp acid folic của vi khuẩn. Chỉ có những vi khuẩn phải tự tổng hợp acid folic cho riêng mình mới chịu tác dụng của nhóm thuốc này. Các tế bào động vật có vú thì không bị ảnh hưởng do chúng không có khả năng tổng hợp acid folic. Thuốc có tính kìm khuẩn và có tác dụng đồng vận với trimethoprim do cùng phối hợp ức chế quá trình tổng hợp acid tetrahydrofolic của vi khuẩn. Thuốc tra mắt sulfacetamid 10-30% ngấm tốt qua giác mạc. Thuốc có tác dụng trên s. pneumoniae, c. diphtheriae, H. influenzae, Actinomyces và c. trachomatis. Tuy nhiên cần điều trị trong 3 tuần đối với bệnh mắt hột. Các tác dụng phụ của thuốc bao gồm kích thích tại chỗ, ngứa, phù quanh hốc mắt, rất nhẹ. Thuốc có thể gây ra những phản ứng nặng như hoại tử da nhiễm độc, hội chứng Steven-Johnoson.

  • Tetracyclin

Thuốc được vận chuyển tích cực qua màng bào tương vi khuẩn, nó có tác dụng ức chế tổng hợp protein bằng cách gắn vào tiếu đơn vị 30S của ribosom ngăn không cho ARN vận chuyển tiếp cận phức hợp ribosom-ARN thông tin. Tế bào người ít bị ảnh hưởng vi có hệ thống vận chuyển thuốc tích cực qua màng.

Tetracyclin là thuốc kìm khuẩn phổ rộng có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn Gram (-) và Gram (+), Rickettsiae, Micoplasma pneumoniae, Chlamydiae. Tuy nhiên nhiều chủng Klebsiella, H. influenzae, Proteus vulgaris và trực khuẩn mủ xanh đều kháng thuốc. Tetracyclin không tan trong nước nhưng tan trong mỡ và dưới dạng mỡ tra thuốc có thể ngấm tốt qua giác mạc.

Dùng thuốc tetracyclin theo đường uống được dùng cho nhiễm khuẩn Chlamydiae, do thuốc được bài tiết qua tuyến bã nên nó cũng được dùng khi nhiễm tụ cầu tuyến Méibomius ở mi. Thuốc gắn với calci trong sữa và có tác dụng chống acid nên được uống lúc đói. Thuốc không được dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai do có thể lắng đọng trên răng đang phát triên gây đổi màu răng.

  • Choloramphenicol

Thuốc kìm khuẩn phổ rộng này có tác dụng ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn bằng cách gắn cạnh tranh vào đơn vị 50S của ribosom cản trở không cho ARN thông tin gắn với ribosom. Thuốc có tác dụng trên đa số các chủng H. influenzae, não mô cầu và lậu cầu, tất cả các vi khuẩn kỵ khí. Nó có tác dụng ít trên s. pneumoniae, tụ cầu vàng, Klebsiella, Pneumoniae, Enterobacter, Serratia. Thuốc không có tác dụng trên trực khuẩn mủ xanh.

Thuốc ngấm tốt qua giác mạc dưới dạng tra và ngấm qua hàng rào máu mắt dưới dạng uống. Tuy nhiên thuốc có thể gây thiếu máu bất sản có thể dẫn đến tử vong nên ít được dùng. Biến chứng này thường gặp khi dùng thuốc theo đường uống tuy nhiên một vài trường hợp sau dùng thuốc theo đường tiêm hoặc thậm chí sau khi tra mắt cũng đã được báo cáo.

  • Nhóm aminoglycosid

Là những thuốc diệt khuẩn được vận chuyển qua màng vi khuẩn đến gắn trên các tiểu đơn vị 30S và 50S của ribosom cản trở tổng hợp protein. Phổ kháng khuẩn của thuốc phụ thuộc vào cơ chế vận chuyển thuốc qua màng vi khuẩn. Quá trình vận chuyển thuốc tiêu tôn năng lượng và giảm đi trong môi trường kỵ khí hoặc ở ổ áp xe. Sự kháng thuốc xuất hiện do thuốc không được vận chuyển qua màng, do giảm ái lực của ribosom với thuốc hoặc do plasmid truyền enzym bất hoạt thuốc. Các thuốc có tác dụng phá huỷ màng vi khuẩn như penicillin sẽ có tác dụng đồng vận với nhóm thuốc này do làm tăng khả năng thuốc ngấm qua màng vi khuẩn đặc biệt trên các vi khuẩn Gram (+)

Gentamycin, tobramycin, kanamycin và amikaxin có tác dụng trên các trực khuẩn Gram (-), kỵ khí như p. mirabilis, trực khuẩn mủ xanh, Klebsiella, Enterobacter và Serratia. Gentamixin và tobramyxin có tác dụng trên tụ cầu vàng và tụ cầu da tuy nhiên ngày càng nhiều vi khuẩn kháng hai loại thuốc này bằng cơ chế truyền plasmid sản xuất men bất hoạt thuốc. Amikaxin có ưu điểm ít bị kháng và là thuốc tốt để điều trị các trường hợp vi khuẩn kháng các loại thuốc khác trong nhóm.

Các thuốc nhóm aminoglycosid hấp thu kém qua đường uống nhưng có thể dùng theo đường tiêm, thuốc nước và mỡ tra mắt.

Streptomycin hiện nay chỉ còn được dùng cho viêm nội tâm mạc do s. viridans, bệnh tularemia, dịch hạch và brucellosis. Neomixin là một thuốc kháng sinh phổ rộng có tác dụng trên enterobacter, K. pneumoniae, H. influenzae, não mô cầu, c. diphtheriae và tụ cầu vàng. Thuốc được dùng dưới dạng thuốc tra tại chỗ. Do thuốc rất độc nên không được tiêm mà chỉ có thể uống để có tác dụng trên đường tiêu hoá vì thuốc không hấp thu qua ruột. Dị ứng với thuốc neomyxin tra gặp trong 8% các trường hợp thể hiện bằng viêm giác mạc chấm và chậm liền vết thương biểu mô giác mạc.

Tất cả các thuốc trong nhóm đều gây rối loạn chức năng nghe và tiền đình phụ thuộc vào liều sử dụng theo đường toàn thân. Vì thế thuốc nên được dành cho các trường hợp nhiễm khuẩn nặng và cần tránh dùng quá liều bằng cách theo dõi nồng độ thuốc và ure máu khi dùng.

  • Nhóm fluoroquinolon

Là các dẫn chất chứa fluor của acid nalidixic gồm norfloxacin, ofloxacin, pefloxacin, levofloxacin, enoxacin, lemofloxacin, temafloxacin, fleroxacin, tosufloxacin. Các thuốc này là kháng sinh phô rộng có tác dụng mạnh trên cả vi khuẩn Gram (-) và (+). Cơ chế tác dụng của thuốc thông qua ức chế men ADN gyrase cần cho nhân đôi và sửa chữa ADN của vi khuẩn.

Nghiên cứu cho thây các thuốc trên đặc biệt là ciprofloxacin và temafloxacin ức chế tới 90% các loại vi khuẩn gây bệnh thông thường và có nồng độ ức chế tối thiểu thấp hơn so với gentamycin, tobramycin và cephazolin. Thuốc cũng ít độc hơn đối với biểu mô giác mạc so với nhóm aminoglycosid.

Thuốc tra mắt hiện nay có ba loại là: ofloxacin 0,3% (Dofus, oflovid), ciprofloxacin 0,3% (Ciloxan, Ciplox), và norfloxacin 0,3% (Noflox). Các thuốc này được sử dụng để điều trị các trương hợp loét giác mạc do các chủng tụ cầu vàng, tụ cầu da, s. pneumoniae, trực khuẩn mủ xanh và Propionibacterium acner và các trường hợp viêm kết mạc do các loại vi khuẩn trên.

Các thuốc trên có khả năng ngấm tốt vào các tổ chức trong mắt. Nồng độ thuốc trong nước mắt vượt quá nồng độ ức chế tối thiêu với các loại vi khuẩn gây bệnh trong vòng hơn 12 giờ sau khi tra. Ofloxacin có khả năng hoà tan tốt, dung dịch thuốc có pH 6,4 trong khi ciprofloxacin có pH 4,5. Các thuốc trên là loại kháng sinh được dùng nhiều nhất cho các trường hợp nhiễm khuẩn ở mắt.

Các tác dụng phụ thường gặp nhất khi tra thuốc bao gồm khó chịu nhẹ khi tra. Ngoài ra có thể gặp ngứa, đỏ mắt, cảm giác khô mắt, viêm giác mạc và kết mạc do thuốc.

  • Các thuốc kháng sinh khác:

Vancomycin là một glycopeptid ba vòng dẫn xuất từ môi trường nuôi cây của Norcadia orientalis. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn trên đa số các loại vi khuẩn Gram (+) bằng cách ức chế quá trình polyme hoá glycopeptid trong vách của vi khuẩn.

Thuốc được sử dụng để điều trị nhiễm tụ cầu trên bệnh nhân dị ứng hoặc điều trị với kháng sinh nhóm penicillin và cephalosporin không có kết quả, thuốc cũng được dùng điều trị các trường hợp nhiễm liên cầu kháng với methicillin, phối hợp với nhóm amonoglycosid trong điều trị viêm nội tâm mạc do s. viridans hoặc s. bovis. Đặc biệt thuốc được dùng điều trị viêm đại tràng giả mạc do Clostridium Difficile.

Vancomycin có thể dùng để tra hoặc tiêm nội nhãn trong điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn nặng như loét giác mạc hoặc viêm nội nhãn do tụ cầu hoặc liên cầu kháng methicillin.

Liều tiêm tĩnh mạch của vancomycin ở người lớn có chức năng thận bình thường là 500 mg/lần/6 giờ hoặc 1 g/llần/ 12 giờ. Thuốc tra có thể pha với nồng độ 50mg/ml trong điều trị viêm loét giác mạc. Nồng độ thấp hơn 5mg/ml đã được sử dụng thành công trong điều trị các trường hợp viêm bờ mi – kết mạc do tụ cầu. Tiêm nội nhãn vancomycin phối hợp với kháng sinh nhóm aminoglycosid được chỉ định trong viêm nội nhãn do vi khuẩn với liều lmg trong 0,1 ml nồng độ thuốc nội nhãn đủ cao để ức chê hầu hết các loại vi khuẩn Gram (+).

Erythromycin là kháng sinh nhóm macrolid gắn với đơn vị 50S của ribosom vi khuẩn ngăn chặn tổng hợp protein của vi khuẩn. Thuốc có tác dụng đối với cầu khuẩn Gram (+) như s. pyogenes và s. pneumoniae, trực khuẩn Gram (+) như c. diphtheriae và Listeria monocytogenes, và vài loài vi khuẩn Gram (-) như lậu cầu. Thuốc thường được dùng dưới dạng viên bao hoặc este hoá để tránh tác dụng của acid dịch vị. Thuốc cũng có thể được dùng dưới dạng tiêm hoặc mỡ tra mắt. Thuốc ngấm kém qua hàng rào máu mắt và hàng rào máu não.

Polymicin là một hỗn hợp các peptid có tác dụng như một chất xà phòng làm hoà tan phospholipid của màng vi khuẩn.

Thuốc được tra hoặc tiêm tại chỗ để điều trị loét giác mạc tác dụng trên các vi khuẩn Gram (-) nhưEntorobacter, Klebsiella và trực khuẩn mủ xanh.

Bacitracin là hỗn hợp các polypeptid có tác dụng ức chế vách của vi khuẩn.

Thuốc có tác dụng trên neisseria, H. influenzae, actinomyces và trên phần lớn các loại cầu khuẩn và trực khuẩn Gram (+). Thuốc hiện có dưới dạng mỡ tra đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc kháng sinh khác.

RELATED ARTICLES

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Most Popular

Recent Comments

Hoahong on Áp xe má
Hùng on Đỗ trọng
cú giàng on Cắt chỉ vết khâu
Mai tiến giang on Transamin
Tran thi van on Ciprofloxacin 500mg
nguyễn giang on Cường giáp
Đặng thị hà on Viêm thị thần kinh
Đặng thị hà on Viêm thị thần kinh
Hong phuong on Calcium Corbiere
Lê thị thuý hà on Liệt cơ hoành
Truong an thuy tien on Polytonyl
thủy on Zentel
linh on Áp xe má
VŨ MINH HIẾN on Lô căn
Nguyễn Thúy Liễu on Bệnh Chảy máu não
Nguyễn Thúy Liễu on Bệnh Chảy máu não
Luong on Nizoral cream
Van nhi on Nizoral cream
Nguyễn thị thùy on Áp xe má
Van on Pepsane
Huyền on Nutroplex
Tran thi ai tinh on Hội chứng tiểu não
nhàn on Nizoral cream
Lê thị thu Hương on Thải ghép cấp trong ghép thận
Trương xuân Cường on Xốp xơ tai (xơ nhĩ)
Trần Thị Hồng Đoan on Phác đồ điều trị bệnh thủy đậu
Thái thị hoa on Moriamin Forte
Nguyễn Trường Giang on Chăm sóc người bệnh Viêm não
Hiền on Calcium Corbiere
Hiền on Calcium Corbiere
Ngọc Minh on U nhú vùng miệng
minh thi on Zentel
Vi thanh mai on Khe hở vòm miệng
Nguyễn thị chung on CÁC THUỐC KHÁNG VIRUS
cẩm hường on Semprex
Ngọc lan on Sốc nhiễm khuẩn
Chuthuyvan on Lao màng bụng
Tường vi on Calcium Corbiere
0906410000 on Cường giáp
Lê thị Nương on Risordan, Risordan LP
Nguyễn Trọng Hiệp on Nevramin
Nguyễn Cửu Dư on Khám chức năng phản xạ
Nguyễn Cửu Dư on Khám chức năng phản xạ
MINH HƯƠNG on Ngưu hoàng
Thuốc chữa bệnh on U tế bào tiết Prolactin
Đỗ nguyệt on U bạch mạch (Lymphangioma)
Nguyen Van Hoàn on Pepsane
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Thấp nhiệt
Thảo on Calcium Corbiere
Trân on Thấp nhiệt
phan hà on Áp xe má
Quang on Moriamin Forte
Hải on Thận âm hư
thu binh on Biovital
Nguyễn văn long on Zentel
Thuốc chữa bệnh on Cắt chỉ vết khâu
anh phong on Huyết hư
anh phong on Huyết hư
Long on Huyết hư
Long on Huyết hư
..................................................nguyễn văn như ............................................ on Bỏng mắt do hoá chất – cấp cứu nhãn khoa
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Thiết thụ diệp
Nguyễn Thanh Dương on Stresam
Thuốc chữa bệnh on Bệnh Chảy máu não
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Tú phạm on Calcium Corbiere
Tú phạm on Calcium Corbiere
Nguyên on Sulfarlem Choline
Kim đồng on Liên Kiều
NGÔ VĂN THÙY on Băng Phiến
Nguyễn Thế Long on Viêm xương hàm do răng
Nguyen nhat truong on Áp xe má
Nguyen nhat truong on Áp xe má
Nguyễn Hồng on Thận âm hư
Thuốc chữa bệnh on Cắt chỉ vết khâu
Lê thị thanh hiền on Cắt chỉ vết khâu
Lê thị thanh hiền on Cắt chỉ vết khâu
Thuốc chữa bệnh on Huyệt Lao Cung
Kim Dung Nguyen on Huyệt Lao Cung
Nguyễn Thế Anh on Bệnh Suy tủy xương
Thuốc chữa bệnh on Utrogestan
Thuốc chữa bệnh on Viartril S
Linh on Utrogestan
Thuý on Viartril S
nguyễn thị tuyết linh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on U xương lành tính và ác tính
Nguyễn thị Bắc on U xương lành tính và ác tính
Nguyễn thị diệu thuý on Khám Dây thần kinh thị giác
Hải on Cây Gấc
Hải on Cây Gấc
HỨa thị linh on Calcium Corbiere
Trần Thị Ngọc Niềm on Bệnh viêm mạch máu và điều trị
THANH on Calcium Corbiere
vu thi tuyet nga on Rung giật nhãn cầu là gì
Thuỳ dương on Zentel
Thuốc chữa bệnh on Cường giáp
lưu tấn cơ. on Cường giáp
Thuốc chữa bệnh on Zentel
Cường on Zentel
Nguyễn thị hồng vân on Ngưu tất
Nguyễn thị hồng vân on Ngưu tất
Nguyễn văn khoa on Khổ sâm
Hà văn trường.28tuoi on Dương hư
Hà văn trường.28tuoi on Dương hư
Thuốc chữa bệnh on Vương bất lưu hành
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Viên on Calcium Corbiere
Bệnh viêm giáp bán cấp, uống prednisolon hai mắt sưng on Bệnh Viêm tuyến giáp bán cấp
Hiền xuân mỹ on Sốt phát ban
Thuốc chữa bệnh on Cơn nhịp xoang nhanh
Sơn Dược on Hoài sơn
Thuốc chữa bệnh on Viêm mũi teo (trĩ mũi)
Nguyễn xuân Hải on Viêm mũi teo (trĩ mũi)
Thuốc chữa bệnh on Dương hư
Nguyễn thị hồng vân on Dương hư
Thuý Nga on Nang khe mang
Nguyễn Để on Hội chứng tiểu não
Nguyễn Để on Hội chứng tiểu não
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Viartril S
Trang on Viartril S
Thuốc chữa bệnh on Hội chứng thực bào tế bào máu
Sơn Dược on Hoài sơn
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Trần thị mai Linh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Suy thượng thận
Lê Duy Khương on Suy thượng thận
Thuy on Hirmen
Thuốc chữa bệnh on Bán chi liên
Dương on Bán chi liên
Thuốc chữa bệnh on Liệt dây thần kinh số 7 – VII
Phạm Thị Thanh Phương on Bệnh rối loạn tic (máy giật) ở trẻ
Thuốc chữa bệnh on Sốt kéo dài là bệnh gì
Đỗ Văn Thanh on Sốt kéo dài là bệnh gì
Kim đình cường on NANG VÀ RÒ KHE MANG I
Thuốc chữa bệnh on Thận dương hư
Thuốc chữa bệnh on Suy thượng thận
dinh xuan truong on Suy thượng thận
Thuốc chữa bệnh on Corticoid là thuốc gì
hùng on Thận âm hư
Cường on Calcium Corbiere
Ha nguyen on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Utrogestan
Hương on Utrogestan
Thuốc chữa bệnh on Nhiễm Khuẩn Huyết
Thuốc chữa bệnh on Sốt kéo dài là bệnh gì
Thuốc chữa bệnh on Quản lý người bệnh thụt tháo
Thuốc chữa bệnh on Áp xe má
Lê văn trà on Áp xe má
Thu vân on Hạ calci máu
Đặng Bình on Đa chấn thương
Thuốc chữa bệnh on Đa chấn thương
Thuốc chữa bệnh on Đa chấn thương
Đặng Bình on Đa chấn thương
Thuốc chữa bệnh on Cách chữa dị ứng thuốc
Thuốc chữa bệnh on Suy thận mạn tính và điều trị
Minh thắng on Nang khe mang
hoàng on Hàn thấp
Nguyễn Thi Thanh Hằng on U hỗn hợp tuyến nước bọt mang tai
Nguyễn Thi Thanh Hằng on U hỗn hợp tuyến nước bọt mang tai
Thuốc chữa bệnh on Dạ giao đằng
Thùy Ngân on Dạ giao đằng
Thuốc chữa bệnh on Cắt chỉ vết khâu
Thuốc chữa bệnh on Viêm mũi xoang dị ứng
Huỳnh như on Viêm mũi xoang dị ứng
Thuốc chữa bệnh on Khe hở vòm miệng
Thuốc chữa bệnh on Liệt dây thần kinh số 7 – VII
Thuốc chữa bệnh on Thận âm hư
Trần Văn Minh on Thận âm hư
Trần Văn Minh on Thận âm hư
Thuốc chữa bệnh on Nizoral cream
Quang: on Nizoral cream
Thuốc chữa bệnh on Sốt kéo dài là bệnh gì
Thuốc chữa bệnh on Bệnh Viêm tuyến giáp bán cấp
uyên on Nang khe mang
Thuốc chữa bệnh on Cách chữa dị ứng thuốc
Đinh Trần Khánh Ngọc on U bạch mạch (Lymphangioma)
Thuốc chữa bệnh on Sốt kéo dài là bệnh gì
Thuốc chữa bệnh on Bonidiabet
Thuốc chữa bệnh on Liệt dây thần kinh số 7 – VII
Tham nguyen on Bonidiabet
Tham nguyen on Bonidiabet
Thuốc chữa bệnh on ALPHACHYMOTRYPSINE CHOAY
Thuốc chữa bệnh on Okacin
vu bá sơn on Okacin
Thuốc chữa bệnh on Cách sử dụng kháng sinh hợp lý
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Bệnh Chảy máu não
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Cách chữa dị ứng thuốc
Thuốc chữa bệnh on Đơn đỏ
Bùi Thế Hưng on Đơn đỏ
Thuốc chữa bệnh on Điều trị các Bệnh bụi phổi
Thuốc chữa bệnh on Nhiễm Khuẩn Huyết
Thuốc chữa bệnh on Bệnh Chảy máu não
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Ngô mây on Calcium Corbiere
Nguyễn Xuân Hùng on Bệnh Chảy máu não
Thuốc chữa bệnh on Hổ cốt
Cường on Hổ cốt
Thuốc chữa bệnh on Cách chữa dị ứng thuốc
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Calcium Corbiere
Thuốc chữa bệnh on Áp xe má
Hải Anh on Áp xe má
Hải Anh on Áp xe má
Hải Anh on Áp xe má
Thuốc chữa bệnh on Áp xe má
Hải Anh on Áp xe má
Thuốc chữa bệnh on Seduxen
Trần Kiên on Seduxen
Nguyên quang thạch. văn thành- yên thành -Nghệ An on Bệnh Viêm cơ (do nhiễm khuẩn -bệnh viêm đa cơ)
Trịnh Nga on Áp xe má
Vc Thị Hải on U bạch mạch (Lymphangioma)
Huong on Renova
thuocchuabenh on BỆNH THƯƠNG HÀN
Lê Hà Linh on BỆNH THƯƠNG HÀN
vũ đăng sơn on Vảy nến
Nguyen van huu on U bạch mạch (Lymphangioma)
nguyễn văn việt on Thông liên thất
Đoan Trâm on Suy giảm miễn dịch
quyen on Calcium Corbiere
Diệp on Calcium Corbiere
thuocchuabenh on Calcium Corbiere
Trân on Calcium Corbiere
Trân on Calcium Corbiere
phạm nhu duy on Điều trị ung thư phổi
chuongnguyen on Ung thư lưỡi
chuongnguyen on Ung thư lưỡi
thang on Thấp nhiệt
thang on Thấp nhiệt
Thân Văn Quý on Đặt nội khí quản
Nguyễn Thị Thu Hồng on Thuốc chống dị ứng và cách dùng
thuocchuabenh on Nhiễm Khuẩn Huyết
Phạm trung phụng on Nhiễm Khuẩn Huyết
thuocchuabenh on Calcium Corbiere
thuocchuabenh on Ung thư sàn miệng
luu hong duc on Thuốc Forane
thuocchuabenh on Bán chi liên
Phan thị bích diệu on Dị tật dính khớp sọ sớm
thuocchuabenh on Calcium Corbiere
Y Huynh on Calcium Corbiere
Nguyễn Thị Thùy on Thải ghép cấp trong ghép thận
nguyễn thị hải anh on Dị dạng động – tĩnh mạch
Huong on Calcium Corbiere
Nguyễn Đình Chiến on Bệnh U xơ thần kinh
Đinh Phương Thảo on Cách chữa dị ứng thuốc
thuocchuabenh on Bệnh U xơ thần kinh
thuocchuabenh on Tỳ âm hư
Đong Phong on Tỳ âm hư
thuocchuabenh on Nhiễm Khuẩn Huyết
Huynh tan vu ky on Thận khí hư
Nguyễn văn khanh on Cách chữa dị ứng thuốc
Bùi Thị Hải Yến on Calcium Corbiere
thuocchuabenh on Tây dương sâm
Dang van Dang on Tây dương sâm
Hoàng mạnh hùng on Sỏi Tuyến Nước Bọt
phuong on Vitamine D3 BON
cindy on Procare
thuocchuabenh on Calcium Corbiere
Nguyễn Thị Thuỳ on Thải ghép cấp trong ghép thận
thuocchuabenh on Viêm thị thần kinh
Phương Thảo on Cách chữa dị ứng thuốc
thuocchuabenh on Procare
Vi on Procare
thuocchuabenh on Calcium Corbiere
quang Thanh on Calcium Corbiere
Nguyễn Thị Cẩm Linh on Nang nhái sàn miệng
Lại thị thảo on Dị dạng động – tĩnh mạch
thuocchuabenh on Bệnh Chảy máu não
thuocchuabenh on Ung thư lưỡi
thuocchuabenh on BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ
nguyen văn tín on Bài thuốc Quyên tý thang
Nguyễn thanh mừng on Liệt dây thần kinh số 7 – VII
thuocchuabenh on Calcium Corbiere
thanh phương on Calcium Corbiere
thuocchuabenh on Nutroplex
trang mai on Nutroplex
trang mai on Nutroplex
thuocchuabenh on Đại kế
Hà Bảo on Đại kế
thuocchuabenh on Bệnh U xơ thần kinh
quyền on Áp xe quanh amidan
Ngô Văn Lộc on Khe hở vòm miệng
Võ duy quân on Nhiễm Khuẩn Huyết
bùi việt hùng on Sỏi Tuyến Nước Bọt
Lưu Đình Thắng on Viễn chí
thuocchuabenh on Hạ khô thảo
bùi thị trang on Hạ khô thảo
bui thi thao on Bệnh U xơ thần kinh
bui thi thao on Bệnh U xơ thần kinh
Trinhhoainam on Đặt nội khí quản
thủy on Lactacyd
thanh nguyen on Bệnh U xơ thần kinh
thuocchuabenh on Intron A
Huong on Intron A
Huon on Intron A
thuocchuabenh on Nhồi máu não
thuocchuabenh on BỆNH THƯƠNG HÀN
lâm thị việt on Tác dụng phụ của corticoid
phạm hùng cường on Nhồi máu não