Triệu chứng Đông y

Chứng Tâm Đởm bất ninh – Tâm Đởm khí hư

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Chứng Tâm Đởm bất ninh còn gọi là chứng Tâm Đởm khí hư, gọi chung cho những chứng trạng do Tâm Đởm khí hư dẫn đến thần hồn bất ninh, sợ hãi không yên. Nguyên nhân bệnh phần nhiều có liên quan tới thể trạng vốn hư yếu hoặc tổn thương về tình chí; sau khi ốm lâu ngày cũng có thể có chứng này.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sợ sệt không yên, đởm khiếp hay sợ, đêm ngủ hay mê, đoản hơi ngực khó chịu, có lúc tự ra mồ hôi, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Tế Huyền vô lực.

Chứng này thuờng gặp trong các bệnh Kinh quý chính xung Bất mị.

Trong lâm sàng cần chẩn đoán phân biệt chứng Tâm Đởm bất ninh với các chứng Tâm khí hư, chứng Can Đởm bất ninh, chứng Tâm Tỳ đều hư.

Phân tích

Chứng Tâm Đởm bất ninh phần nhiều phát sinh ở người vốn Tâm Đởm hư khiếp hoặc là sau khi ốm nặng kéo dài. Tâm khí bất túc, bệnh con liên lụy đến mẹ, Đởm khí cũng khiếp nhược. Hoặc là Can Đởm khí hư, mộc không sinh hoả, Tâm khí cũng hư… đều có thể dẫn đến Tâm Đởm đều hư. Vì Tâm chủ về thần minh, Tâm có dồi dào khí huyết vượng thịnh thì tâm thần ở yên ổn, tư duy bình thường. Đởm chủ về quyết đoán, Đởm khí mạnh mẽ thì tình chí ổn đỉnh, mưu lự từ đó mà ra. Nếu Tâm Đởm bị hư khiếp mà bị kinh sợ đột ngột, hoặc tai bị nghe thấy tiếng vang lớn, mắt nhìn thấy vật khác thường, hoặc lâm nguy gặp chuyện hiểm nghèo, thì tinh thần không trụ vững, Đởm khí khó mà quyết đoán, sẽ xuất hiện một loạt các chứng trạng về phương diện tình chí như hay sinh dễ sợ, thần hồn không yên.

– Nhưng trong tật bệnh khác nhau, chứng Tâm Đởm bất ninh cũng có những đặc điểm biểu hiện không giống nhau. Trong bệnh Kinh quí chinh sung, đặc điểm của chứng Tâm Đởm không yên là Tâm thường sợ sệt nơm nớp, nằm ngồi không yên, hay hãi dễ sợ hoặc trong Tâm như rỗng không, có cảm giác như có người sắp đến bắt, gặp tí chút sợ hãi hoặc nghe thấy tiếng động mạnh thì trong Tâm hồi hộp không yên thậm chí đánh trống ngực dồn dập, đồng thời giấc ngủ không ngon, vã mồ hôi và đoản hơi, lưỡi nhạt, mạch Huyền mà Tế; Chủ yếu là Tâm hư Đởm khiếp, không tự ổn định gây nên bệnh, thực như sách Y phương loại tụ có câu nói: “Tâm hư thì hãi nhiều. Đởm hư thì sợ nhiều, đó đều do khí huyết không đầy đủ, Tạng Phủ hư kém, phong tà can thiệp lấn vào kinh lạc. Tâm đã bất túc. Đởm khí suy vi, cho nên thần trí khủng khiếp mà sợ hãi vậy”. Điều trị nên dưỡng Tâm ích khí mạch Đởm và trấn kinh làm chủ yếu thì Tâm yên. Đởm mạnh, sợ sệt biến mất, sợ hãi không nổi lên, có thể dùng Bình bổ trấn tâm đan (Hoà tễ cục phương) hợp với Từ châu hoàn (Thiên kim phương) gia giảm.

– Trong bệnh Bất mị (mất ngủ) đặc điểm của chứng Tâm Đởm bất ninh là trong Tâm không yên khó mà chợp mắt, giấc ngủ hay mơ, nhất là có chứng ác mộng phân vân, lại có thêm chứng váng đầu buồn nôn, đoản hơi yếu sức, rêu lưỡi mỏng nhớt, mạch Tế mà Nhược. Đây là do Tâm Đởm hư khiếp, thần hồn không yên ổn gây nên, điều trị nên bổ ích Tâm Đởm, yên thần hồn, có thể dùng Toan tảo nhân gia giảm (Kim Quỹ yếu lược). Nếu có kiêm đờm nhiệt, có thể hợp dùng bài Ôn đởm thang (Thiên Kim yếu phương) gia giảm, hoặc dùng bài Cao thẩm vô ưu tán (Cổ kim Y giám ) gia giảm.

Chứng Tâm Đởm bất ninh gặp nhiều ở phụ nữ, nam giới gặp cũng không ít nhất là ở thể trạng hư yếu hoặc sau khi ốm nặng, ốm kéo dài, thần khí chưa hồi phục, thường hay bị chứng này. Trẻ em vì Tạng Phủ non nớt, khí huyết chưa đầy đủ, cho nên nếu bị hãi sợ thời càng dễ tổn hại khí của Tâm Đởm, khiến cho khí huyết lìa tan, thần hồn không yên. Nhưng biểu hiện thì chủ yếu là khóc về đêm hoặc giấc ngủ không yên và từng lúc sợ hãi. Lại vì khí của Tâm Đởm bị tổn thương mà thần khí ly tán, cho nên không thể nhận định sai lầm là Thực chứng mà chỉ dùng các thuốc trấn tĩnh đàn áp, mà nên thu liễm thần khí để yên định tâm thần, có thể dùng Bí chỉ an thần hoàn (Ầu ấu tập thành).

Nếu vì sợ hãi mà thần hồn lìa tan, thần chí không tỉnh táo, lại nên ích khí đề phòng chứng thoát, cứu vãn nguyên dương, có thể dùng Độc sâm thang (Thập dược thần thư). Những trường hợp này không thể so sánh với loại Tâm Đởm khí hư nói chung.

Ngoài ra, chứng Tâm Đởm bất ninh thường do tâm khí bất túc, sự sơ tiết khí cơ của Can Đởm mất chức năng đến nỗi thủy thấp tân dịch không phân bố được hình thành chứng Đàm ẩm. Tiến thêm bước nữa quấy rối tâm thần, biến thành chứng hư thực lẫn lộn. Nên căn cứ vào sự tiêu bản, trước sau, nặng nhẹ của Đàm ẩm, hoặc lấy trị đàm là chủ yếu, hoặc ích khí hoá đàm cùng dùng, có thể chọn dùng các bài như Ôn đởm thang. Chứng Tâm Đởm bất ninh còn có thể do Tâm khí bị hư, dần dần liên lụy đến Âm huyết dẫn đến chứng Tạng táo xuất hiện các chứng buồn thương muốn khóc, hay ngáp, tâm phiền mất ngủ, nằm ngồi không yên điều trị nên hợp dùng với bài Cam mạch đại táo thang(Kim Quỹ yếu lược) để dưỡng tâm trừ phiền, nhuận táo an thần.

Chẩn đoán phân biệt

– Chứng Tâm khí hư với chứng Tâm Đởm bất ninh tham khảo chứng Tâm khí hư.

– Chứng Tâm Đởm bất ninh với chứng Can Đởm bất ninh: hai chứng đều do tổn thương thất tình mà có bệnh biến về phương diện tinh thần tình chí. Can chứa hồn chủ về mưu lự, Đởm chủ về quyết đoán, cho nên Can Đởm bất ninh cũng có thể xuất hiện dễ sợ hay hãi, kém ngủ hay mê; Cần phải phân biệ t với Tâm Đởm bất ninh.

Phát sinh chứng Can Đởm bất ninh phần nhiều do mệt nhọc hoặc tổn thương về tình chí, âm huyết suy hao ngấm ngầm dẫn đến Can Đởm hư khiếp khiến cho hồn của Can không yên chốn, Đởm mất sự thanh tĩnh, xuất hiện các chứng trạng tinh thần không yên như tâm phiền mất ngủ, ác mộng sợ hãi hoặc động đến việc là sợ sệt. Ngoài ra còn có thể thấy các chứng do Can âm huyết hư khác như: Can khai khiếu lên mắt, âm huyết hư thì mặt không được nuôi dưỡng cho nên hoá mắt chóng mặt, mắt nhìn không tỏ. Âm huyết hư, hoả của Can Đởm bốc lên, lại có thể thấy các chứng trạng đắng miệng họng khô và nôn mửa ra nước đắng. Mạch Huyền mà Tế cũng là hiện tượng âm huyết bất túc. Tóm lại, hai chứng tuy đều có biểu hiện Đởm hư, nhưng một loại chủ yếu là ở Can, một loại chủ yếu là ở Tâm; một loại là âm huyết bất túc, một loại là khí phận hư yếu, phân biệt không khó khăn gì.

– Chứng Tâm Tỳ đều hư và chứng Tâm Đởm bất ninh: cả hai cùng là Hư chứng, đều có thể do Tâm hư mà dẫn đến tinh thần không yên, xuất hiện các chứng hồi hộp, sợ sệt, mất ngủ hay mê v.v… Cho nên cần phải phân biệt. Nói theo nguyên nhân bệnh, Tâm Đởm bất ninh phần nhiều thể trạng vốn hư khiếp mà bị sợ hãi đột ngột có liên quan với nhau; Tâm Tỳ đều hư tổn thương tư lự mệt nhọc là phần nhiều.

Xét theo cơ chế bệnh, loại trên là bệnh ở Tâm Tỳ, chủ yếu là do Tâm huyết Tỳ khí bị hư. Loại sau là bệnh ở Tám Đởm, chủ yếu là do khí phận bất túc.

Biểu hiện lâm sàng, Tâm Tỳ đều hư chủ yếu lấy Tâm huyết hư, Tâm thần không yên nên hồi hộp hay quên, hay mê dễ tỉnh giấc, Cùng với Tâm Đởm bất ninh do Kinh đến Quý, sợ hãi không yên, nơm nớp không yên có chỗ khác nhau. Tuy cùng là hồi hộp, nhưng loại trên do Tâm huyết hư, không thể kiềm chế mà hồi hộp, loại sau Tâm khí tuy hư, lại bị quấy nhiễu sợ hãi đến nỗi tâm thần không yên cho nên mới từ Kinh đến Quý, vả lại chứng Tâm Tỳ đều hư còn có thể thấy các chứng Tỳ khí hư mà thiểu hơi biếng nói, mỏi mệt tinh thần bạc nhược, ăn uống vô vị, đầy bụng đại tiện lỏng; Còn chứng Tâm Đởm bất ninh thì biểu hiện về Tỳ khí hư không đột xuất. Ngoài ra, chứng Tâm Tỳ đều hư do Tâm huyết bất túc có thể xuất hiện các chứng sắc mặt không tươi, chất lưỡi nhạt, mạch Tế vô lực v.v… hiện tượng Hư so với chứng Tâm Đởm bất ninh lại càng rõ rệt hơn.

Trích dẫn y văn

– Hoặc do công việc mà quá hãi sợ, hoặc nghe tiếng lạ, trèo cao dấn thân nơi nguy hiểm, kinh hãi tâm thần, khí với rãi bị uất lại khiến chí Kinh Quý. Kinh quý không ngừng biến thành các chứng. Hoặc là hồi hộp đoản hơi, mỏi mệt tự ra mồ hôi, chân tay phù thũng, ăn uống vô vị, tâm hư phiền muộn, nằm ngồi không yên, đều là chứng hậu Tâm hư Đởm khiếp. Phép điều trị phải ninh Tâm để làm mạnh Đởm khí, không trường hợp nào là không khỏi (Tế sinh phương).

-Nghĩ như Đởm hư không ngủ được, đó là khí hư tà ở năm Tạng xâm lấn lên Tâm, Tâm có sự lo buồn vướng mắc, khí sẽ ẩn náu ở Đởm cho nên giấc ng phần nhiều Tâm hay sợ hãi, tinh thần khiếp nhược; Bởi vì Tâm khí buồn thương, Can Đởm hư lạnh đến nỗi không ngủ được (Ngữ tạng môn – Y phương loại tụ).

Hỏi đáp - bình luận