Triệu chứng Đông y

Chứng Tâm Can huyết hư

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Chứng Tâm Can huyết hư là tên gọi chung cho một loạt chứng trạng do doanh huyết hao thương, nguồn sinh hoá bất túc khiến cho Tâm Can mất sự chứa đựng dẫn đến Tinh thần không yên và các tổ chức khiếu lưu thông không được nuôi dưỡng; Nguyên nhân bệnh phần nhiều do nội thương mệt nhọc, ốm lâu hao thương doanh huyết hoặc bị xuất huyết kéo dài cũng gây nên bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đầu mắt choáng váng, hồi hộp sợ sệt, mất ngủ hay quên, giấc ngủ không yên; nếu là phụ nữ thì hành kinh rít và ít hoặc kinh bế không thông, hoặc tay chân co giật, sắc mặt kém tươi, lưỡi nhợt rêu lưỡi mỏng, mạch Tế Huyền hoặc Tế sắc.

Chứng Tâm Can huyết hư thường gặp trong các bệnh Bất mị, Kinh quí, Hư lao, Huyễn vậng, Kinh bệnh và bệnh về kinh nguyệt.

Cần chẩn đoán phân biệt với các chứng Tâm huyết hư, chứng Can huyết hư, chứng Can âm hư và chứng Tâm Tỳ đều hư.

Phân tích

Tâm chủ huyết mà Can chứa huyết, cho nên những bệnh chứng âm huyết bất túc đều có thể ảnh hưởng tới công năng của Tâm và Can mà dẫn đến chứng này. Nhưng nói chung, hình thành chứng Tâm Can huyết hư, chủ yếu là do nội thương mệt nhọc doanh huyết của Tâm bị hao thương. Tâm thuộc Hoả mà Can thuộc Mộc, Tâm huyết bất túc thì con trộm khí của mẹ mà khiến cho Can mất chỗ chứa. Hoặc giả hoá nguyên không nuôi được Tâm. Om lâu hao thương âm huyết cũng có thể làm cho Tâm mất sự nuôi dưỡng, Can mất chỗ chứa mà hình thành chứng này.

Lâm sàng biểu hiện chứng này chủ yếu phản ánh trên ba phương diện:

Một là huyết hư nên chứng trạng biểu hiện cộng đồng như choáng váng, hồi hộp, sắc mặt không tươi, hành kinh ít hoặc bế kinh, chất lưỡi nhạt, mạch Tế v.v…

Hai là phương diện tinh thần, vì Tâm chứa thần mà Can chứa hồn, huyết hư thì thần hồn không yên nơi ở, xuất hiện các chứng trạng mất ngủ hay quên, đêm ngủ không yên.

Ba là thể biểu các tổ chức khí quan của Tâm Can mất sự nuôi dưỡng nên xuất hiện các chứng bệnh như mắt hoa tai ù. Chân tay co giật, môi và móng tay chân nhợt, phụ nữ thì kinh nguyệt ít hoặc bế kinh. Chứng này trong những bệnh chứng khác nhau, đặc điểm biểu hiện cũng có chỗ khác nhau.

Như trong bệnh Bất mị, biểu hiện lâm sàng có đặc điểm là hư phiền không ngủ, nằm ngủ mộng phân vân và có kiêm chứng choáng váng hồi hộp. Bởi vì doanh huyết bất túc thì hư hoả quấy rối ở trong cho nên có hiện tượng tâm phiền không ngủ, tức như sách Kim quỹ yếu lược nói “hư lao hư phiền không ngủ được”. Can huyết bất túc thì hồn không ở yên, cho nên đêm ngủ phân vân, sợ hãi không yên; điều trị nên bổ huyết dưỡng Can, ninh tâm an thần, cho uống bài Toan tảo nhân thang (Kim Quỹ yếu lược).

Trong bệnh Kinh qúy có đặc điểm là trong tim hồi hộp không yên, đởm khiếp dễ kinh sợ, có kiêm chứng choáng váng hoa mắt, sắc mặt không tươi, mạch Tế sắc hoặc Kết Đại, chủ yếu là do Tâm huyết hao tổn, thần trí không yên, cho nên xúc động mà hồi hộp, Can huyết không đầy đủ thì phát sinh kinh hãi, hơn nữa còn có các chứng huyết hư khác. Mạch là phủ của huyết, huyết thiếu thì đường mạch không dồi dào, huyết trôi chảy không lợi, cho nên mạch Tế mà sắc; Nếu kiêm cả Tâm xuất hiện mạch Kết Đại; điều trị nên dưỡng huyết ninh tâm, an thần định kinh, dùng bài Thiên vương bố tâm đan (Thế y đắc hiệu phương) hợp với Tứ vật thang (Hoà tễ cục phương) gia giảm.

Hư lao của chứng Tâm Can huyết hư gặp khá nhiều trên lâm sàng, đặc điểm rõ rệt là có chứng huyết hư toàn thân, đều có cả các chứng trạng hồi hộp sợ sệt, choáng đầu mất ngủ, tai ù hoa mắt v.v… hơn nữa còn có cả chứng kém ăn, trướng bụng đoản hơi, mỏi mệt, phụ nữ thì hành kinh ít và rít hoặc bế kinh, sắc mặt xanh nhợt không tươi, môi và móng tay chân, mạch và lưỡi đều có hiện tượng huyết hư, bệnh tình cũng dài; điều trị nên bổ ích huyết của Tâm Can đồng thời kiện Tỳ ích khí để tăng cường nguồn sinh hoá, cho uống bài Quy tỳ thang (Phụ nhân lương phương) hợp với Tứ vật thang.

Huyễn vậng xuất hiện Tâm Can huyết hư, có đặc điểm là chóng mặt từng cơn, đầu choáng váng, mệt nhọc thì bệnh tăng và có kiêm các chứng trạng khác, đây là do huyết hư không làm tươi tốt não tuỷ gây nên, có thể cho uống Đương qui bổ huyết thang (Nội ngoại thương biện hoặc luận) hợp với Bạch vi thang (Bản sự phương) gia giảm.

Chứng Tâm Can huyết hư xuất hiện bệnh Kính gặp ở người cơ thể vốn huyết hư hoặc bị mất huyết, sau khi đẻ; Đó là vì doanh huyết hư kiệt, gân mạch không được nuôi dưỡng gây nên, còn gọi là Huyết hư sinh phong, đúng như câu nói của Trương Cảnh Nhạc: “Các loại âm hư huyết thiếu, không nuôi dưỡng được gân mạch, đến nỗi co giật cứng đơ ngã lan”, đặc điểm bệnh chứng là chân tay co giật hoặc oải lơi, phần nhiều chỉ hơi lay động, lại có kiêm chứng chóng mặt hoa mắt, hồi hộp khổng yên, sắc mặt úa vàng hoặc trắng nhợt, rêu lưỡi ít, chất lưỡi nhợt, mạch Tế vô lực; điều trị nên dưỡng huyết nhu Can, dẹp phong, trừ co cứng; Bệnh nhẹ có thể dùng Bổ Can thang (Y tông kim giám) hoặc Bát chân thang (Chính thể loại yếu) linh hoạt thêm các vị thuốc dẹp phong; Bệnh nặng có thể dùng Đại định phong châu (Ôn bệnh điều biện) gian giảm.

Ớ phụ nữ xuất hiện chứng Tâm Can huyết hư, biểu hiện chủ yếu là kinh nguyệt và bệnh biến thuộc phương diện thai sản, mà phụ nữ hành kinh quá nhiều, băng lậu không dứt, hoặc sinh nở hại huyết lại là một nguyên nhân trọng yếu của chứng Tâm Can huyết hư. Bởi vì Tâm Can huyết hư, huyết hải không đầy đủ kịp thời. Xung Nhâm không được nuôi dưỡng, cho nên thường biểu hiện hành kinh quá muộn mới thấy hoặc là nguyệt kinh quá ít; có đặc điểm là kinh huyết lượng ít mà sắc nhạt, bụng dưới rỗng không mà đau, hơn nữa còn biểu hiện huyết hư như chóng mặt hồi hộp, sắc mặt vàng bủng, chất lưỡi nhạt, mạch Tế v.v… Nếu ở thời kỳ đang có thai, có thể ảnh hưởng tới sự phát dục của thai nhi, dẫn đến các chứng “có thai đau bụng”, “thai động không yên”. Nếu huyết hư ảnh hưởng tới phần Âm, âm hư phong động, có thể gây nên chứng Tử giãn. Sau khi đẻ mà Tâm Can huyết hư, rất hay gặp chứng “Sản hậu huyết vậng” và “bệnh Kính”.

Cũng nên chú ý, chứng Tâm Can huyết hư là một mặt của chứng huyết hư, vì các tạng Tâm Can Tỳ Thận đều liên quan tới sự sinh hoá doanh huyết, như Tâm chủ huyết, Can chứa huyết, Tỳ là nguồn sinh hoá của doanh huyết, lại có thể thống nhiếp huyết mạch, Thận tinh có thể hoá sinh doanh huyết, nên mới nói mầm sống bắt đầu từ Thận. Cho nên huyết hư là phản ánh bệnh biến của nhiều Tạng Phủ. Chứng Tâm Can huyết hư cố nhiên lấy hai tạng Tâm Can làm chủ yếu, nhưng đều có khả năng kiêm bệnh biến ở các tạng khác, đặc biệt là Tỳ. Bởi vì Tỳ hư không vận hoá được thì nguồn sinh hoá cạn kiệt, tinh vi thủy cốc không thể hoá sinh, doanh huyết đến nỗi huyết hư. Nếu Tỳ không thống huyết, rất dễ gây nên bệnh mất huyết, lại càng làm cho huyết ở Tâm và Can bất túc. Cho nên ở chứng Tâm Can huyết hư thường thấy kiêm cả chứng hậu Tỳ khí hư như biếng ăn trướng bụng, ăn không thấy ngon, mệt mỏi yếu sức v.v… Trong điều kiện bổ dưỡng huyết ở Tâm Can đồng thời có kiêm cả kiện Tỳ ích khí để giúp nguồn hoá sinh.

Chẩn đoán phân biệt

Tâm huyết hư, Can huyết hư với chứng Tâm Can huyết hư, ba chứng đều từ bệnh biến huyết hư gây nên can thiệp tới hai tạng Tâm và Can. Tâm chủ huyết, Can tàng huyết, hai tạng này có quan hệ mẫu tử.

Tâm chủ huyết mà chứa thần, vẻ tươi ở mặt. Can chứa huyết có ngụ cả hồn, vẻ tươi ở móng tay chân. Tâm Can huyết hư đều có thể dẫn đến chứng bệnh thần hồn không yên và huyết mất sự nuôi dưỡng; như các chứng hồi hộp mất ngủ, chóng quên dễ sợ hãi, mắt mờ hoa mắt, sắc mặt không tươi gân mạch không l móng tay chân nhợt… cho nên lâm sàng thường phân biệt không khó. Chỗ phân biệt chỉ là bệnh trình trước hay sau, và sự chú trọng vào chỗ khác nhau của bệnh cơ. Ví dụ như chứng Tâm huyết hư, cơ chế bệnh chủ yếu là ảnh hưởng đến công năng Tâm chủ về thần minh dẫn đến các chứng hồi hộp mất ngủ; Còn trọng điểm của chứng Can huyết hư thì lại xuất hiện một loạt chứng hậu Can huyết mất sự nuôi dưỡng. Đặc biệt là huyết hải rỗng không, Xung Nhâm mất sự nuôi dưỡng dẫn đến các bệnh biến về phương diện kinh nguyệt. Chứng Tâm Can huyết hư thì có cả chứng trạng của Tâm Can, vừa có chứng bệnh mất ngủ hay mê dễ kinh hãi do thần hồn không yên, lại vừa có chứng bệnh váng đầu hoa mắt, móng tay chân nhợt, cơ thể co giật, kinh nguyệt không đều do Can mất sự nuôi dưỡng. Giữa ba tạng có mối quan hệ mật thiết, nhân quả với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Hoặc trước tiên là Tâm hư, con ăn trộm khí của mẹ nên Can huyết cũng hư. Hoặc lấy Can hư làm chính bệnh của mẹ liên lụy đến con dẫn đến Tâm huyết bất túc. Nhưng cuối cùng đều dẫn đến cả Tâm và Can đều hư. Khi lâm sàng cần chú ý nắm được chứng chủ yếu, từ quá trình phân tích sự phát triển của bệnh biến để tìm ra cơ chế của bệnh mà tiến hành điều trị sẽ không mất đi tôn chỉ chữa bệnh phải tìm từ gốc của bệnh.

Chứng Can âm hư với chứng Tâm Can huyết hư: Chứng Can âm hư cũng có những chứng trạnơ chóng mặt hoa mắt, đêm ngủ hay mê, tai ù hoa mắt hoặc chân tay co cứng tê dại không biết đau, cho nên cũng cần phân biệt với chứng Tâm Can huyết hư.

Xét theo nguyên nhân và cơ chế bệnh, cả hai đều có phương diện huyết hư, nhưng Tâm Can huyết hư phần nhiều do tư lự mệt nhọc hao thương doanh huyết gây nên, còn chứng Can âm hư thì phần nhiều do Thận âm bất túc, tinh không hoá huyết, huyết không dưỡng âm gây nên. Biểu hiện trên lâm sàng, cả hai đều có chứng trạng Can huyết hư. Nhưng chứng Can âm hư ngoài những biểu hiện về âm huyết mất sự nuôi dưỡng nói chung, vì âm hư sinh nội nhiệt, cho nên có hiện tượng hư nhiệt, như miệng khô họ vùng mặt nóng rát, về chiều gò má đỏ, chất lưỡi ngả màu đỏ và ít tân dịch, mạch Tế Sác; Đặc biệt là biến hoá của mạch và lưỡi, càng là những tiêu chuẩn chủ yếu để phân biệt huyết hư và âm hư.

Chứng Tâm Tỳ đều hư và chứng Tâm Can huyết hư, hai chứng đều có những biểu hiện hồi hộp mất ngủ, sắc mặt không tươi, lưỡi nhợt mạch Tế, tâm thần không yên của Tâm huyết hư. Nhưng trọng điểm cơ chế bệnh của hai chứng này khác nhau. Loại trên là do tư lự mệt nhọc hao thương Tâm Tỳ. Tỳ hư không vận hoá, nguồn sinh hoá thiếu thốn gây nên. Loại sau là do doanh huyết hao thương, Tâm Can không được nuôi dưỡng gây nên. Cho nên điểm phân biệt chủ yếu ở chỗ chứng Tâm Tỳ đều hư có biểu hiện là Tỳ hư, vì Tỳ hư không vận hoá được mà gây nên các chứng kém ăn trướng bụng, đại tiện nhão, yếu sức, hoặc là Tỳ không thống huyết còn có thể dẫn đến chứng xuất huyết. Còn chứng Tâm Can huyết hư, có biểu hiện Can huyết bất túc, vì Can huyết không được nuôi dưỡng nên xuất hiện các chứng váng đầu hoa mắt, hư phiền dễ sợ hãi, đồng thời có thể gây nên kinh nguyệt rít hoặc ít hoặc bế kinh, hoặc huyết hư sinh phong, tay chân co giật bại liệt. Đương nhiên như trên đã nói, chứng Tâm Can huyết hư cùng một loại với các chứng huyết hư khác, nói chung phần nhiều có cả sự biến hoá của Tỳ hư, cho nên trong điều trị nên kiêm cả thuốc kiện Tỳ ích khí để giúp cho nguồn sinh hoá; Nhưng cùng với chứng Tâm Tỳ đều hư lấy bổ ích Tâm Tỳ làm chủ yếu, có chỗ so sánh khác nhau.

Trích dẫn y văn

Có khi do giận dữ hại Can; Có khi do kinh hãi phạm vào Đởm mẹ có thể khiến cho con hư (yếu). Bởi vì Tám huyết bất túc hoặc do ham muốn phóng túng, tư lự vô cùng, làm cho Tâm thần hao tán, vai trò của Tâm không yên ổn, đó là lý do tại sao phải chữa Can Đởm vậy (Kinh quí – Tạp bệnh quảng yếu).

Hỏi đáp - bình luận