Ỉa máu (đại tiện huyết) Đông y và pháp, phương thuốc điều trị

Bệnh chứng Đông y

ỉa máu là máu theo đường đại tiện ra ngoài. Máu có thể ra một mình (ỉa toàn máu), có thể ra trước phân, có thể ra sau phân. Máu ra có thể màu đỏ, có thể màu sẫm hoặc đen. Kim quỹ yếu lược chia ra làm cận huyết, viễn huyết. Các y gia sau này cũng cho rằng máu ra sau phân là viễn huyết, có thể từ vị, tiểu trường xuống đại trường để ra ngoài. Máu ra trước phân là cận huyết, huyết ở đại trường hay hậu môn chảy ra, ỉa máu đỏ tươi, được gọi là trường phong (bệnh thường ở đại trường, hậu môn, trĩ), ỉa máu tím đen thường gọi là tạng độc (bệnh thường ở trường vị).

Nguyên nhân gây ỉa máu thường là tỳ hư không nhiếp được huyết, hoặc thấp nhiệt đi xuống trú ở đại tràng làm tổn thương lạc mạch ở đại trường. Tuệ Tĩnh cho là: “tạng phủ chứa thấp nhiệt độc hoặc lo nghĩ, rượu chè, sắc dục quá độ, hoặc ham ăn chiên sào, nhiệt độc quá nhiều gây nên, hoặc cảm phong tà, hoặc cảm thử thấp gây nên”. (Nam dược thần hiệu – Tiện huyết)

Phép điều trị chủ yếu thường là ích khí bổ tỳ cho thể tỳ hư không nhiếp huyết, thanh hóa thấp nhiệt cho thể thấp nhiệt đi xuống trú ở đại trường. Tuệ Tĩnh cho là phải thanh nhiệt giải độc.

ỉa máu do tỳ hư không nhiếp huyết

Triệu chứng: ỉa phân ra trước huyết ra sau, màu thường tím đen, nặng thì chất phân ra như nhựa đường, bụng đau âm ỉ, phân nhão lỏng, người mệt mỏi, ăn uống kém, lưỡi nhợt tím, mạch tế sác.

Phép điều trị: Kiện tỳ ôn trung Phương thuốc: (Thuốc nam châm cứu)

Lá ngải khô                  40g             Đất lòng bếp            40g

Đậu đen sao                 40g             Gừng nướng           12g.

Phương thuốc: Hoàng thổ thang (Kim quỹ yếu lược)

Cam thảo                 3 lạng             Can địa hoàng      3 lạng

Bạch truật                3 lạng             A giao                  3 lạng

Phụ tử bào              3 lạng

Hoàng thổ              8 lạng

Sắc Hoàng thổ trước, gạn lấy nước sắc để sắc thuốc khác.

Ý nghĩa: Hoàng.thổ, Ngải để ôn trung cầm máu. A giao, Sinh địa, Đậu đen để tư âm dưỡng huyết cầm máu, Phụ tử; Gừng, Truật để ôn trung kiện tỳ.

A giao
A giao

Phương thuốc: Lý vật thang (Kim quỹ dực phương)

Là phương Lý trung thang (Sâm khương truật thảo) phối hợp với phương Tứ vật thang (Thục thược khung quy) để ôn bổ tỳ vị dưỡng huyết chỉ huyết.

Cũng có thể dùng Bổ trung ích khí thang (Sâm kỳ truật thảo quy trần thăng sải) hoặc Quy tỳ hoàn (Sâm kỳ truật thảo quy mộc hương, phục thần, táo nhân, viễn, nhãn).

ỉa máu do thấp nhiệt đi xuống trú ở đại trường.

Triệu chứng: ỉa máu tươi hoặc ỉa máu trước phân sau, ỉa không thông thoát, mạch nhu sác.

Phép điều trị: Thanh nhiệt hóa thấp.

Phương thuốc: (Thuốc nam châm cứu)

Hoa hòe            30g           Lá trắc bá sao đen               30g

Chỉ xác             20g           Hoa kinh giới sao đen         30g

Sấy khô tán mịn rây kỹ mỗi lần dùng 8 gam uống. Hoặc giảm liều sắc uống.

Phương thuốc: Hòe hoa tán (Y tông kim giám)

Hoa hòe sao                            Trắc bá diệp sao

Chỉ xác sao dấm                     Hoàng liên

Kinh giới tuệ sao

Tán mịn, chiêu bằng nước sắc ô mai.

Hòe hoa tán của Bản sự phương không có Hoàng liên.

Ý nghĩa: Hoa hòe chuyên để thanh thấp nhiệt ở đại trường, lương huyết chỉ huyết. Trắc bách diệp trợ Hòe hoa, Kinh giới tuệ để sơ phong trong huyết, chỉ huyết. Hoàng liên để thanh nhiệt. Chỉ xác để hạ khi khoan trường.

Phương thuốc này chủ yếu để chữa trường phong.

Các phương thuốc (Trích từ Nam dược thần hiệu – Tiện huyết)

Hoa kinh giới, Hoa hòe lượng bằng nhau sao đen

Tán mịn, mỗi lần uống 3  đồng cân với nước trà hay nước sắc bạc hà.

  • Củ nghệ xắt lát sấy khô 1 phần Hoa hòe sao 2 phần

Tán mịn mỗi lần uống 2  đồng cân, ngày uống 2 lần bằng thang thuốc mực tàu.

* Mướp lquả đã qua mùa sương và đã già

Hái đốt tồn tính (ti qua), mỗi lần uống 2  đồng cân với rượu lúc đói.

  • Mướp một phần đốt tồn tính, Hoa hòe 1/2 phần sao đen, tán mịn, uống với nước cơm, mỗi lần 2 đồng cân.
  • Ngải cứu 1 nắm Đậu đen 100 hột Nước 1 bát

Sắc còn nửa bát, hòa với nửa chén mật ong uống khi đói.

Hỏi đáp - bình luận