Triệu chứng Đông y

Chứng Can hoả phạm Phế

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Chứng Can hoả phạm Phế còn gọi là chứng “Mộc hoả hình kim”, tên gọi chung cho toàn bộ chứng trạng do tình chí uất kết khí uất hoả hun đốt Phế âm, hoặc tà nhiệt uất kết ở kinh Can phạm lên Phế, Phế mất sự túc giáng mà gây nên bệnh.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là khái thấu từng cơn, khí nghịch, khạc đờm vàng dính, thậm chí ho mửa ra máu tươi, đau vùng ngực sườn, nóng nẩy hay giận, tâm phiền đắng miệng, váng đầu mắt đỏ, đại tiện khô kết, tiểu tiện vàng đỏ, lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Huyền Sác.

Chứng Can hoả phạm Phế thường gặp trong các bệnh Khái thấu và Các huyết.

Cần chẩn đoán phân biệt với chứng Đàm nhiệt úng tắc ở Phế.

Phân tích

– Chứng Can hoả phạm Phế gặp trong bệnh Khái thấu có những chứng trạng khái thấu từng cơn, luôn cảm thấy trong ngực khí nghịch mà ho khan, khi ho đau lan toả tới ngực sườn, khạc ra đờm vàng dính và ít, mặt đỏ họng khô, khát nước, nóng nẩy hay giận, chất lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng mỏng và ít tân dịch, mạch Huyền Sác.

Do Can uất trệ lâu ngày hoá hoả, hoả khí nghịch lấn lên Phế. Hun đốt tân dịch thành đàm, Kim bị hư không chế được Mộc, Phế khí mất sự thanh túc gây nên; Điều trị nên tiết Phế thanh Kim, bình Mộc giáng hoả, chọn dùng bài Đan thanh ẩm (Y thuần đắng nghĩa).

– Trong bệnh Các (lạc) huyết xuất hiện khái thấu trong đàm có lẫn máu, hoặc ho mửa ra máu tươi, ngực sườn đau thắt, nóng nảy hay giận, đại tiện khô kết, tiểu tiện vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác; Đó là Can hoả găng một phía, hoả tà bức bách Phế, Phế mất sự thanh túc, dương lạc bị tổn thương, huyết dịch ly kinh gây nên; Điều trị nên thanh nhiệt làm sạch Phế, bình Can yên đường Lạc, mát huyết chỉ huyết, cho uống bài Tả bạch tán (Tiểu nhi dược chứng trực quyết) Đại cáp tán (Nghiệm phương) hợp với Long Đởm tả Can thang (Y tông kim giám) gia giảm.

Chứng Can hoả phạm Phế thường phát sinh ở người tính tình vốn nóng nảy dễ cáu giận, bởi vì giận là chí của Can, giận thì khí bốc lên, khí hữu dư sẽ là hoả, hoả khí ngang ngược tất phạm tới Phế kim – Trong quá trình diễn biến cơ chế bệnh, thường do mộc hoả hun đốt xâm phạm Phế và lấn Tỳ, thắng kẻ hơn mình, vũ cái mình không thắng được, làm hao khí tổn tân dịch, từ đó mà hình thành chứng Khí Âm đều hư. Tất cả vì Can khí găng một phía, xuất hiện chứng trạng khái thấu đờm dính khó khạc hoặc ho khan ít đờm, miệng khô họng ráo, khàn tiếng, về chiều nóng từng cơn, lòng bàn tay chân nóng, mồ hôi trộm, thân thể gầy còm, ít rêu lưỡi hoặc tróc mảng, mạch Tế Sác v.v…

Chẩn đoán phân biệt

Chứng Đàm nhiệt úng tắc ở Phế với chứng Can hoả phạm Phế, trên lâm sàng cả hai đều xuất hiện chứng trạng của Phế kinh. Nhưng loại trên phần nhiều nguyên nhân do ngoại cảm tà khí ôn nhiệt hoặc là phong hàn phạm Phế, uất lại hoá nhiệt, nhiệt nung nấu tân dịch, tân dịch tụ lại thành đàm, đàm nhiệt úng tắc ở Phế kinh. Phế mất thanh túc gây nên, đó là bệnh biến của bản thân tạng Phế; cho nên có các chứng trạng chủ yếu do đàm nhiệt úng tắc Phế như khái suyễn thở thô, đờ m ra như mủ vàng tanh hôi, ngực khó chịu và đau, họng đau khát nước, đại tiện bế, tiểu tiện rít khó đi, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Sác v.v… Loại sau thì do thất tình làm mất sự thoải mái, Can uất hoá hoả, Mộc hoả hình Kim gây nên, bệnh xuất phát từ tạng Can ảnh hưởng tới tạng Phế cho nên ngoài chứng trạng của Phế kinh như khái thấu khí nghịch khạc ra huyết, còn thấy cả chứng trạng Can uất hoá hoả như ngực sườn đau rát, tâm phiền hay giận v.v… làm cơ sở để chẩn đoán phân biệt.

Trích dẫn y văn

– Hoả hình Kim mà lá phổi khô quắt và ngứa, ngứa thì gây ho, như vậy không cần thiết phải có đàm cho nên gọi là ho khan. Ho nhiều thì Phế lạc tổn thương mà xuất huyết. Thấu thì có kiêm đàm, trong đờm có lẫn sợi huyết, nó cũng là cái huyết ở Phế lạc (Khái Thấu huyết- Y biển).

– Huyết chứng là từ hoả… Giận thì hoả bùng lên từ Can… Nếu hai bên sườn đau xiên hoặc là hay uất giận, lúc nóng rét, đấy là bệnh ở tạng Can(Các thoá huyết – Y biển).

– Hoả hun đốt Phế Kim; khô ngứa không chịu nổi là do khái; Khái là vì ngứa; Ngứa là do hảo táo ; Khái là phải có Hoả… Nội thương coi khái thấu làm trọng, như Hoả ở Can Thận, thoạt đầu chỉ là bệnh ở Hạ tiêu, chưa can thiệp lấn chiếm lên trên. Lâu ngày thì bốc lên, liên lụy tới Phế thì bệnh càng nặng… Ho gấp và thổ nghịch, đau sườn, đó là Can hoả, gia (Chí trong nguyên phương Tả bạch tán)Thanh bì, Thanh đại v.v… (Khái thấu – Y biển).

Hỏi đáp - bình luận