CECLOR CD – kháng sinh

Thuốc Tân dược
Tính chất diệt khuẩn của Thuốc ceclor CD là do bởi cefaclor. Các thử nghiệm in vitro cho thấy cephalosporin có tác dụng diệt khuẩn do ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào. Cefaclor không bị ảnh hưởng bởi enzym b-lactamase, do đó cefaclor diệt được những vi khuẩn tiết enzym b-lactamase kháng với penicillin và một số cephalosporin.

THUỐC CECLOR CD

ELI LILLY

viên nén phóng thích chậm 375 mg : hộp 10 viên.

THÀNH PHẦN

cho 1 viên

Cefaclor monohydrate, tương đương Cefaclor                                   375 mg

DƯỢC LỰC

In vitro, tính chất diệt khuẩn của Thuốc ceclor CD là do bởi cefaclor. Các thử nghiệm in vitro cho thấy cephalosporin có tác dụng diệt khuẩn do ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào. Cefaclor không bị ảnh hưởng bởi enzym b-lactamase, do đó cefaclor diệt được những vi khuẩn tiết enzym b-lactamase kháng với penicillin và một số cephalosporin. Thuốc ceclor CD đã chứng minh hiệu quả diệt khuẩn cả trên lâm sàng và in vitro đối với các vi khuẩn sau :

Vi khuẩn gram dương :

Staphylococcus aureus (bao gồm những chủng tiết b-lactamase) Staphylococcus epidermidis (bao gồm những chủng tiết b-lactamase) Staphylococcus saprophyticus

Streptococcus pneumoniae

Streptococcus pyogenes (liên cầu nhóm A).

Ghi chú : Cefaclor không nhạy cảm với chủng tụ cầu kháng Methicillin. Vi khuẩn gram âm :

Haemophilus parainfluenzae

Haemophilus influenzae (bao gồm những chủng tiết b-lactamase)

Moraxella (Branhamella) catarrhalis (bao gồm những chủng tiết b-lactamase) Escherichia coli

Klebsiella pneumoniae Proteus mirabilis

Mặc dầu hiệu quả trên lâm sàng chưa được xác định, nhưng in vitro, cefaclor nhạy cảm với các vi khuẩn sau:

Vi khuẩn gram âm : Citrobacter diversus Neisseria gonorrhoeae Vi khuẩn kỵ khí : Propionibacterium acnes

Các chủng Bacteroides (ngoại trừ Bacteroides fragilis) Peptococci

Peptostreptococci

Ghi chú : Pseudomonas sp, Acinetobacter calcoaceticus, hầu hết các chủng enterococci, Enterobacter sp, Proteus indol dương tính và Serratia sp đề kháng với cefaclor.

Thử nghiệm kháng sinh đồ :

Phương pháp khuếch tán : Các phương pháp định lượng yêu cầu phải đo đường kính vòng vô khuẩn để ước tính độ nhạy cảm của kháng sinh. Đây là phương pháp được Ủy Ban Quốc Gia về Chuẩn Mực Xét Nghiệm Lâm Sàng (NCCLS) của Hoa kỳ chấp thuận. Phương pháp này đề nghị dùng đĩa kháng sinh cefaclor để đánh giá độ nhạy cảm của vi khuẩn. Biện luận kết quả dựa vào đường kính vòng vô khuẩn và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cefaclor. Kết quả kháng sinh đồ với một đĩa kháng sinh chuẩn duy nhất chứa 30 mg cefaclor sẽ được biện luận theo những tiêu chuẩn sau :

Đường kính vòng vô khuẩn (mm) Biện luận kết quả
>= 18 (S) Nhạy cảm
15 – 17 (I) Trung gian
<= 14 (R) Đề kháng

Khi thử nghiệm với H. influenzae*

Đường kính vòng vô khuẩn (mm) Biện luận kết quả
>=20 (S) Nhạy cảm
17 – 19 (I) Trung gian
<= 16 (R) Đề kháng
  • Thử nghiệm này sử dụng môi trường cấy Haemophilus test medium (HTM).

Kết quả “nhạy cảm” nghĩa là vi khuẩn gây bệnh có thể bị ức chế với nồng độ kháng sinh đạt được trong máu. Kết quả “trung gian” nghĩa là vi khuẩn nhạy cảm khi dùng kháng sinh liều cao hoặc khi các vùng bị nhiễm khuẩn như các tổ chức, dịch cơ thể (ví dụ : nước tiểu) đạt được nồng độ kháng sinh cao. Kết quả “đề kháng” cho thấy nồng độ kháng sinh đạt được không thể ức chế được vi khuẩn và nên chọn kháng sinh khác.

Các phương pháp chuẩn mực yêu cầu phải sử dụng các vi khuẩn chứng ở phòng xét nghiệm. Với đĩa tẩm 30 mg cefaclor phải tạo được đường kính các vòng vô khuẩn như sau :

 

Vi khuẩn Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
  1. coli ATCC 25922
23 – 27
  1. aureus ATCC 25923
27 – 31
  1. influenzae ATCC 49766*
25 – 31
  • Thử nghiệm này sử dụng môi trường cấy Haemophilus test medium (HTM).

Ngoài M. catarrhalis và H. influenzae, các vi khuẩn khác có thể thử nghiệm với đĩa tẩm cephalothin 30 mg hoặc bằng phương pháp pha loãng. Dùng Thuốc ceclor CD mang lại hiệu quả đáp ứng thỏa đáng về lâm sàng cũng như về vi khuẩn học trong hầu hết các trường hợp nhiễm M. catarrhalis, không cần dựa vào kết quả đo đường kính vòng vô khuẩn, do vậy, ít khi dùng cefaclor để thử nghiệm độ nhạy cảm trên vi khuẩn này. Nên thử nghiệm H. influenzae với đĩa tẩm cefaclor trên môi trường Mueller-Hinton chocolate và biện luận kết quả theo các tiêu chuẩn đã nêu ở trên. Haemophilus influenzae cũng có thể thử nghiệm trên môi trường Haemophilus test medium (HTM) và sử dụng các tiêu chuẩn do NCCLS đề nghị để biện luận kết quả như sau :

Đường kính vòng vô khuẩn (mm) Biện luận kết quả
>= 24 (S) Nhạy cảm
19 – 23 (I) Trung gian
<= 18 (R) Đề kháng

Phương pháp pha loãng : Các phương pháp pha loãng trong thạch và canh thang như NCCLS đề nghị, có thể dùng để xác định nồng độ ức chế tối thiểu của cefaclor. Kết quả thử nghiệm này được biện luận theo các tiêu chuẩn sau :

Nồng độ ức chế tối thiểu (mg/mL) Biện luận kết quả
<= 8 (S) Nhạy cảm
16 (I) Trung gian
>= 32 (R) Đề kháng

Giống như các phương pháp khuếch tán chuẩn, phương pháp pha loãng cũng yêu cầu phải dùng các chủng vi khuẩn chứng ở phòng xét nghiệm. Dùng bột cefaclor chuẩn sẽ cho kết quả nồng độ ức chế tối thiểu như sau :

Chủng vi khuẩn Nồng độ ức chế tối thiểu (mg/ml)
  1. coli ATCC 25922
1 – 4
  1. aureus ATCC 29213
1 – 4
  1. faecalis ATCC 29212
> 32
  1. influenzae ATCC 49766*
1 – 4
  • Các thử nghiệm pha loãng canh thang dùng môi trường cấy Haemophilus test medium (HTM).

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Thuốc ceclor CD được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa sau khi uống. Mặc dầu Thuốc ceclor CD có thể uống lúc no hoặc lúc đói, tuy nhiên uống lúc no thuốc sẽ được hấp thu tốt hơn. Uống thuốc sau khi ăn một giờ, sinh khả dụng của Thuốc ceclor CD trên 90% so với cefaclor. Nếu uống lúc đói thì con số này là 77%. So với Cefaclor (uống lúc đói), nồng độ đỉnh trung bình trong huyết thanh của Thuốc ceclor CD (đo cả lúc no lẫn lúc đói) đều thấp hơn và đạt đến chậm hơn từ 40 đến 90 phút. Các thuốc ức chế H2 dùng chung không làm hạn chế sự hấp thu của Thuốc ceclor CD. Các thuốc kháng acid chứa hydroxide nhôm hoặc hydroxide magnesium được uống một giờ sau khi dùng Thuốc ceclor CD, không ảnh hưởng đến tốc độ nhưng làm giảm 17% mức độ hấp thu của Thuốc ceclor CD.

Sau khi dùng liều 375 mg, 500 mg và 750 mg, nồng độ đỉnh trung bình trong huyết thanh lần lượt là 4, 8 và 11 mg/ml đạt được sau 2,5 đến 3 giờ. Không ghi nhận có sự tích lũy thuốc khi dùng liều hai lần mỗi ngày.

Thời gian bán hủy trung bình trong huyết thanh ở người bình thường khoảng một giờ (từ 0,6 – 0,9 giờ) và không phụ thuộc vào liều dùng. Ở người cao tuổi (trên 65 tuổi) có creatinine máu bình thường, thì nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết thanh có thể cao hơn và diện tích dưới đường cong (AUC) có thể bị ảnh hưởng do giảm nhẹ chức năng thận và không có ý nghĩa trên lâm sàng. Vì vậy, không cần thiết phải điều chỉnh liều dùng ở người cao tuổi có chức năng thận bình thường. Không có bằng chứng nào về sự chuyển hóa cefaclor ở người.

CHỈ ĐỊNH

Thuốc ceclor CD được chỉ định trong nhiễm khuẩn do các vi khuẩn nhạy cảm sau :

  • Viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn do pneumonia. H. influenzae (bao gồm những chủng tiết b-lactamase), H. parainfluenzae, M. catarrhalis (bao gồm những chủng tiết b-lactamase) và S. aureus.
  • Viêm họng và viêm amiđan do pyogenes (liên cầu nhóm A). (Penicillin là thuốc thường được chọn để điều trị và phòng ngừa nhiễm khuẩn do liên cầu, kể cả điều trị dự phòng thấp khớp.

Nói chung, Thuốc ceclor CD điều trị có hiệu quả các trường hợp nhiễm liên cầu ở vùng hầu họng; tuy nhiên, hiện nay chưa có các số liệu đáng kể về hiệu quả của Thuốc ceclor CD trong phòng ngừa thấp khớp).

  • Viêm phổi do pneumoniae, H. influenzae (bao gồm những chủng tiết b-lactamase) và M. catarrhalis (bao gồm những chủng tiết b-lactamase).
  • Nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới không biến chứng bao gồm viêm bàng quang và vi khuẩn niệu không triệu chứng do E. coli, pneumoniae, P. mirabilis và S. saprophyticus.
  • Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da do pyogenes (liên cầu nhóm A), S. aureus (bao gồm những chủng tiết b-lactamase) và S. epidermidis (bao gồm những chủng tiết b-lactamase).

Nên nuôi cấy và làm kháng sinh đồ để xác định vi khuẩn gây bệnh và độ nhạy cảm với cefaclor. Có thể bắt đầu điều trị ngay trong khi chờ đợi các kết quả này, nhưng một khi đã có kết quả kháng sinh đồ, thì phải thay đổi cho phù hợp.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Thuốc ceclor CD không dùng cho người bệnh có tiền sử mẫn cảm với cefaclor và các kháng sinh nhóm cephalosporin khác.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG

Trước khi áp dụng phương pháp điều trị với Thuốc ceclor CD, cần hỏi xem trước đây người bệnh có tiền sử phản ứng quá mẫn với cefaclor, cephalosporin, penicillin hoặc các thuốc khác hay không. Thận trọng sử dụng kháng sinh ở người bệnh mẫn cảm với penicillin và nói chung, là ở bất cứ người bệnh nào có biểu hiện dị ứng, nhất là dị ứng với thuốc. Nếu có phản ứng với Thuốc ceclor CD thì nên ngừng thuốc ngay. Trường hợp phản ứng nghiêm trọng có thể cần phải dùng đến adrenaline và các biện pháp hồi sức cấp cứu khác.

Viêm ruột kết màng giả gặp ở hầu hết các trường hợp dùng kháng sinh phổ rộng (gồm các nhóm macrolide, penicillin bán tổng hợp và cephalosporin) ; vì vậy việc cân nhắc chẩn đoán bệnh nhân bị tiêu chảy trong khi dùng kháng sinh rất quan trọng. Viêm ruột kết màng giả có thể ở mức độ từ nhẹ đến nặng. Trường hợp nhẹ chỉ cần ngừng thuốc, trường hợp nặng phải cần đến những biện pháp điều trị thích hợp.

THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

Sử dụng Thuốc ceclor CD dài ngày có thể làm phát triển quá mức các chủng vi khuẩn không nhạy cảm. Cần theo dõi người bệnh cẩn thận, nếu bị bội nhiễm, phải có các biện pháp điều trị thích hợp. Tính gây ung thư, đột biến và vô sinh : Chưa có các nghiên cứu trên loài vật để xác định khả năng gây ung thư và đột biến của Thuốc ceclor CD. Các nghiên cứu về khả năng sinh sản cho thấy không có bằng chứng gây vô sinh.

Sử dụng cho trẻ em : Chưa xác định được tính hiệu quả và độ an toàn trên trẻ em.

LÚC CÓ THAI

Các nghiên cứu về khả năng sinh sản thực hiện ở chuột nhắt, chuột cống với liều gấp 12 lần và ở loài chồn sương với liều gấp 3 lần liều dùng tối đa cho người không thấy có bằng chứng gây vô sinh hoặc gây nguy hại cho bào thai do cefaclor. Tuy nhiên chưa có đầy đủ các nghiên cứu có kiểm soát chặt chẽ trên phụ nữ có thai. Vì các nghiên cứu trên loài vật không phải bao giờ cũng có thể suy đoán được đáp ứng của người, nên chỉ dùng thuốc này trên phụ nữ có thai khi thật cần thiết.

Chuyển dạ và sinh đẻ : Chưa nghiên cứu việc dùng Thuốc ceclor CD trong thời kỳ chuyển dạ sinh. Chỉ nên dùng thuốc khi thật cần thiết.

LÚC NUÔI CON BÚ

Chưa có nghiên cứu về việc dùng Thuốc ceclor CD trên đối tượng này. Một lượng nhỏ cefaclor được tìm thấy trong sữa mẹ sau khi dùng một liều 500 mg. Nồng độ trung bình trong sữa là 0.18, 0.21, 0.16 mg/ml tương ứng với các thời điểm sau 2, 3, 4 và 5 giờ. Sau 1 giờ nồng độ trong sữa chỉ ở dạng vết. Ảnh hưởng của thuốc trên trẻ bú mẹ chưa được biết. Cẩn thận khi dùng Thuốc ceclor CD cho các bà mẹ cho con bú.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Mức độ hấp thu Thuốc ceclor CD giảm nếu uống các loại thuốc kháng acid có chứa hydroxide nhôm hoặc hydroxide magnesium trong vòng 1 giờ sau khi uống Thuốc ceclor CD. Các thuốc kháng H2 không làm thay đổi tốc độ và mức độ hấp thu thuốc. Cũng như các kháng sinh thuộc nhóm b-lactam khác, probenecid ức chế sự thải trừ Cefaclor qua thận (có lẽ cả với Thuốc ceclor CD). Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy không có tương tác đối với các thuốc khác.

Các sai lệch đối với kết quả xét nghiệm : Người bệnh dùng Thuốc ceclor CD có thể có kết quả dương tính giả đối với xét nghiệm đường niệu khi thử với các dung dịch Benedict, Fehling hoặc với viên Clinitest, nhưng không ảnh hưởng khi dùng phương pháp Tes-Tape (Glucose Enzymatic Test Strip, USP. Lilly).

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

Đa số các phản ứng phụ của Thuốc ceclor CD trong các thử nghiệm lâm sàng đều nhẹ và chỉ thoáng qua. Ngừng thuốc do các phản ứng phụ xảy ra ở 1.7% số người bệnh. Sau đây là các phản ứng phụ được ghi nhận khi dùng Thuốc ceclor CD trong các thử nghiệm lâm sàng. Tỷ lệ xảy ra các phản ứng thường dưới 1%.

Hệ tiêu hóa : tiêu chảy (3,4%), buồn nôn (2,5%), nôn và khó tiêu.

Phản ứng quá mẫn : Khoảng 1,7% người bệnh có phản ứng nổi ban, nổi mề đay và ngứa. Có gặp một trường hợp (0,03%) phản ứng giống-bệnh-huyết-thanh trong số 3.272 người bệnh dùng Thuốc ceclor CD trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát.

Nhiều trường hợp phản ứng giống-bệnh-huyết-thanh đã từng được ghi nhận ở người bệnh dùng cefaclor gồm các triệu chứng như : hồng ban đa dạng, nổi mẩn và các biểu hiện ngoài da khác kèm theo viêm khớp/đau khớp, không hoặc có sốt và khác với bệnh huyết thanh kinh điển ở chỗ ít khi gặp bệnh lý hạch bạch huyết và protein niệu, không có phức hợp miễn dịch lưu hành và các phản ứng này không để lại di chứng. Đôi khi có các triệu chứng đơn thuần xảy ra nhưng không phải là phản ứng giống-bệnh-huyết-thanh. Trong các nghiên cứu tiếp tục thêm sau đó, các phản ứng giống-bệnh-huyết-thanh xuất hiện còn là do quá mẫn cảm và thường dễ xảy ra trong hoặc sau khi dùng liệu trình cefaclor lần thứ hai (hoặc kế tiếp). Các phản ứng này

thường xảy ra ở trẻ em hơn là ở người lớn và biến thiên từ 1 trên 200 người bệnh (0,5%) trong một nghiên cứu khu trú ; 2 trên 8346 người bệnh (0,024%) trong các thử nghiệm lâm sàng rộng rãi (với tỉ lệ xảy ra ở trẻ em là 0,055%) và 1 trên 38000 người bệnh (0,003%) theo các báo cáo ngẫu nhiên. Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng thường xảy ra vài ngày sau khi bắt đầu điều trị và giảm dần trong vòng vài ngày sau khi ngừng thuốc ; các phản ứng này hiếm khi cần phải nhập viện, thường chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn (thời gian nằm viện trung bình 2-3 ngày, dựa trên những kết quả khảo sát sau khi đưa thuốc vào thị trường). Đối với những trường hợp cần vào viện, các triệu chứng thường thấy từ nhẹ đến nặng và thường nặng hơn đối với trẻ em. Các thuốc kháng histamine và corticoid tỏ ra có hiệu quả trong xử trí các dấu hiệu và triệu chứng này. Không có di chứng trầm trọng nào được ghi nhận.

Hệ tạo máu và bạch huyết : tăng bạch cầu ưa eosin.

Hệ tiết niệu sinh dục : Nhiễm candida âm đạo (2,5%) và viêm âm đạo (1,7%).

Sau dây là các phản ứng phụ gặp ở người bệnh dùng Thuốc ceclor CD ; chưa rõ có phải do thuốc gây ra hay không :

Hệ thần kinh trung ương : nhức đầu, chóng mặt và ngủ gà. Gan : Tăng thoáng qua SGOT, SGPT và phosphatase kiềm. Thận : Tăng thoáng qua BUN hoặc creatinine.

Các xét nghiệm : Giảm tiểu cầu thoáng qua, giảm bạch cầu, tăng bạch cầu limphô, giảm bạch cầu đa nhân trung tính và kết quả phân tích nước tiểu bất thường.

Ngoài các phản ứng phụ gặp ở người bệnh dùng Thuốc ceclor CD được liệt kê ở trên, dưới đây là các phản ứng phụ và những thay đổi xét nghiệm ghi nhận được ở người bệnh dùng cefaclor : Hồng ban đa dạng, sốt, phản ứng phản vệ (thường dễ xảy ra ở người bệnh có tiền sử dị ứng penicillin), hội chứng Stevens-Johnson, thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính và ngứa bộ

phận sinh dục. Các triệu chứng viêm ruột kết màng giả có thể xuất hiện trong hoặc sau khi điều trị bằng kháng sinh. Các phản ứng dạng phản vệ có thể biểu hiện qua các triệu chứng riêng lẻ gồm phù mạch, suy nhược, phù (ở mặt và chi), khó thở, dị giác, ngất hoặc dãn mạch.

Hiếm khi các triệu chứng quá mẫn kéo dài trong vài tháng.

Các phản ứng sau đây rất ít khi gặp ở người bệnh dùng cefaclor :

Hoại tử biểu bì nhiễm độc, viêm thận kẽ có hồi phục, rối loạn chức năng gan bao gồm ứ mật, thời gian prothrombin kéo dài ở người bệnh dùng cefaclor cùng với warfarin, hưng phấn có hồi phục, căng thẳng, mất ngủ, lú lẫn, tăng trương lực cơ, thiếu máu bất sản, tăng bạch cầu hạt và thiếu máu huyết tán.

Ngoài ra còn gặp các phản ứng như ở những người dùng kháng sinh nhóm b-lactam bao gồm : Viêm ruột kết, rối loạn chức năng thận và bệnh lý thận do nhiễm độc.

Một vài kháng sinh nhóm b-lactam có thể gây kích hoạt các cơn động kinh, nhất là ở người bị suy thận không được giảm liều đủ mức. Nếu cơn động kinh xuất hiện liên quan đến việc dùng thuốc, nên ngừng thuốc ngay. Có thể dùng thuốc chống động kinh khi cần thiết.

LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG

Thuốc ceclor CD có thể uống lúc đói hoặc lúc no. Tuy nhiên uống lúc no thuốc được hấp thu tốt hơn (xem Dược động học). Viên thuốc không được cắt, nghiền nát hoặc nhai.

Liều khuyên dùng trong viêm họng, viêm amiđan, nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da là 375 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ. Với nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới, liều khuyên dùng là 375 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ hoặc 500 mg, dùng mỗi ngày 1 lần. Liều khuyên dùng trong viêm phế quản là 375 mg hoặc 500 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ. Với bệnh viêm phổi, liều khuyên dùng là 750 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ.

Trong nhiễm khuẩn do S. pyogenes (liên cầu nhóm A), liệu trình Thuốc ceclor CD nên kéo dài ít nhất là 10 ngày.

Thuốc ceclor CD nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng từ 15oC đến 30oC (59oF đến 86oF).

QUÁ LIỀU

Dấu hiệu và triệu chứng : Các triệu chứng ngộ độc khi dùng quá liều Thuốc ceclor CD có thể gồm buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị và tiêu chảy. Mức độ đau vùng thượng vị và tiêu chảy phụ thuộc vào lượng thuốc đã dùng. Nếu có thêm các triệu chứng khác, có thể là do phản ứng thứ phát của một bệnh tiềm ẩn, phản ứng dị ứng hay tác động của chứng ngộ độc khác đi kèm.

Điều trị : Để điều trị quá liều, cần cân nhắc đến khả năng quá liều của nhiều loại thuốc, tương tác giữa các loại thuốc, dược động học bất thường của người bệnh.

Bảo đảm đường thở thông, hô hấp hỗ trợ và truyền dịch. Theo dõi cẩn thận và duy trì ở mức cho phép các dấu hiệu sinh tồn, các chất khí trong máu, các chất điện giải… Có thể làm giảm sự hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa bằng cách dùng than hoạt. Trong nhiều trường hợp, biện pháp này có hiệu quả hơn là rửa ruột hoặc gây nôn. Nên cân nhắc việc dùng than hoạt thay cho việc rửa dạ dày hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Dùng nhiều liều than hoạt liên tiếp có thể làm gia tăng sự thải trừ các thuốc đã được hấp thu. Cần bảo vệ đường thở của người bệnh khi áp dụng biện pháp rửa dạ dày hoặc dùng than hoạt.

Dùng thuốc lợi niệu mạnh, thẩm phân màng bụng, thẩm phân tách máu hoặc truyền máu tỏ ra không có hiệu quả trong xử trí quá liều cefaclor.

Tìm kiếm điều bạn cần
Đừng quên chia sẻ nếu thông tin hữu ích

Hỏi đáp - bình luận