Amrinone – thuốc tăng sức bóp cơ tim

Cơ chế tác dụng: Amrinone là thuốc tăng sức bóp cơ tim tác dụng nhanh có thể dùng đường tĩnh…

Cơ chế tác dụng:

Amrinone là thuốc tăng sức bóp cơ tim tác dụng nhanh có thể dùng đường tĩnh mạch. Amrinone là một thuốc ức chế phosphodiesterase. Hiệu quả của amrinone trên huyết động tương tự như dobutamin. ở liều 2 – 15µg/kg/phút nó làm tăng cung lượng tim, giảm sức cản ngoại biên và tiền gánh. Liều cao hơn nó gây nhịp nhanh giống như dobutamin. amrinone có thể làm thiếu máu cơ tim nặng thêm và cần thận trọng khi sử dụng thuốc này cho các bệnh nhân bị bệnh thiếu máu cơ tim. Việc theo dõi liên tục các chỉ số huyết động trung ương là rất cần thiết cho việc điều chỉnh liều chính xác khi bắt đầu điều trị bằng amrinone.

Chỉ định:

Cần cân nhắc việc sử dụng amrinone ở những bệnh nhân suy tim ứ huyết nặng kháng trị với các thuốc lợi tiểu, giãn mạch và các thuốc vận mạch thông thường.

Liều lượng:

Amrinone có thời gian bán huỷ dài (4 – 6giờ). Có thể sử dụng liều lớn bắt đầu từ 0,75mg/kg. Do tác dụng giảm hậu gánh của amrinone là trực tiếp tỉ lệ với liều và tốc độ truyền nên liều khởi đầu thường không vượt quá 1mg/kg, liều này có thể truyền trong 2 – 5 phút, nhưng tốt hơn là truyền 10 – 15 phút để giảm tối thiểu nguy cơ tụt huyết áp ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái nặng và huyết áp đang ở mức giới hạn. Tiếp theo đó là liều duy trì bắt đầu truyền ở tốc độ 2 – 5µg/kg/phút và chỉnh liều 10 – 15µg/kg/phút theo sự đáp ứng của huyết động.

Do tầm quan trọng của tính tương kị hoá học amrinone lactat không được hoà trực tiếp vào các loại dịch dextrose trước khi truyền. Nhưng vẫn có thể truyền nó qua một catheter tĩnh mạch cùng với dung dịch dextrose. Để truyền tĩnh mạch liên tục, cần phải pha amrinone vào natriclorua 0,45% hoặc 0,9% với nồng độ 1 – 3mg/ml. Nên dùng amrinone qua một bơm truyền dịch để chỉnh liều chính xác.

Chú ý:

+ Amrinone có thể gây ra hoặc làm xấu đi tình trạng thiếu máu cơ tim. Theo dõi liên tục huyết động trung ương là quan trọng vì những thay đổi các chỉ số huyết động trung ương có thể xuất hiện không đồng thời với những biến đổi của huyết áp và tần số tim. Để giảm tối thiểu tác dụng phụ của amrinone, nên dùng liều thấp nhất có thể đạt được hiệu quả mong muốn. Amrinone có thể gây ra giảm tiểu cầu (khoảng 2 – 3% trường hợp dùng thuốc) do nó làm giảm thời gian sống của tiểu cầu. Tác dụng không mong muốn này xuất hiện trong vòng 48 – 72 giờ sau bắt đầu điều trị. Giảm tiểu cầu thường là hiếm khi đi kèm chảy máu và nó mất đi khi ngừng thuốc. Mức giảm tiểu cầu phụ thuộc vào liều thuốc. Các tác dụng phụ khác gồm: rối loạn tiêu hoá, đau cơ, sốt, rối loạn chức năng gan và kích thích tâm thất. Trong phân tử amrinone có chứa metabisulfit nên chống chỉ định dùng nó ở bệnh nhân dị ứng với các bisulfit.

+ Nguyên tắc giảm liều các thuốc vận mạch:

Khi giảm liều các thuốc vận mạch có tác dụng inotrope (+) nên giảm từ từ và có theo dõi chặt chẽ vì những thuốc này tác động lên việc kiểm soát thần kinh-thể dịch đối với huyết áp và thể tích tuần hoàn. Đồng thời cần phải đảm bảo bổ sung đầy đủ lượng dịch trong lòng mạch để tránh tụt huyết áp sau khi giảm liều.