Hạt ngô – Bắp ngô và tác dụng chữa bệnh

Cây ngô thân thảo, sống hàng năm, cao 1-1,5m. Lá to, dài rộng, có nhiều lông, hoa đực mọc ở ngọn cây, hoa cái có hình trụ mọc ở nách lá, có nhiều lá bấc, các vòi nhụy hình sợi màu vàng, tạo thành tua vượt khỏi lá bấc (gọi là râu ngô). Quả hình trứng hay nhiều góc xếp sát nhau tạo thành 8-10 dãy dọc. Hạt cứng bóng, có màu sắc thay đổi tùy loại. Quả ngô (hạt ngô) ngoài dùng để ăn và chăn nuôi, còn được dùng làm thuốc chữa bệnh.

Cây ngô thân thảo cao 1-1,5m

Giá trị dinh dưỡng của ngô

Ngô chủ yếu bao gồm carbohydrates, có một lượng nhỏ protein và chất béo.

Carbs

Giống như tất cả các loại hạt ngũ cốc, ngô chủ yếu bao gồm các tinh bột và đường.

Tinh bột là thành phần chính tìm thấy trong bắp, chiếm 28-80% trọng lượng khô. Ngô cũng chứa một lượng đường nhỏ (1-3%)

Ngô chủ yếu bao gồm các tinh bột và đường

Ngô đường chứa tinh bột đặc biệt thấp (28%) có hàm lượng cao hơn đường (18%), hầu hết trong số đó là sucrose. Mặc dù hàm lượng đường trong ngô đường, không phải là một loại thực phẩm cao glycemic và xếp hạng thấp hoặc trung bình về chỉ số glycemic

Ngô chủ yếu bao gồm các tinh bột và đường, các chỉ số đường huyết thấp, đó đó ngô không gây đột biến lượng đường trong máu quá lớn.

Chất xơ

Một túi bỏng ngô trung bình (112 g) trong rạp chiếu phim có chứa khoảng 16 gam chất xơ. Chiếm 42% và 64% lượng chất xơ tương ứng cung cấp hàng ngày cho nam giới và phụ nữ.

Hàm lượng chất xơ của các loại ngô khác nhau, nhưng nhìn chung chất xơ chiếm khoảng 9-15%. Chất xơ chủ yêu trong ngô là chất xơ không hòa tan, như hemicellulose, cellulose và lignin.

Ngô có khá nhiều chất xơ. Trong thực tế, một túi bỏng ngô có thể chứa một tỷ lệ lớn chất xơ được đáp ứng hàng ngày.

Protein

Ngô là một nguồn phong phú của protein. Tùy thuộc vào giống ngô, nhưng hầu hết các hàm lượng protein trong ngô khoảng 10-15%.

Các protein có nhiều nhất trong ngô được biết đến như zeins, chiếm 44-79% tổng lượng protein. Nhìn chung, chất lượng protein của zeins là nghèo vì nó thiếu một số axit amin thiết yếu, chủ yếu là lysine và tryptophan.

Ngoài vai trò trong dinh dưỡng, zeins được sử dụng trong sản xuất keo dán, mực in, sơn, kẹo và các loại hạt.

Chất lượng protein trong ngô không được đánh giá cao.

Dầu ngô

Hàm lượng chất béo trong ngô rất ít. Tuy nhiên, ngô non một nguyên liệu dồi dào, rất giàu chất béo và được sử dụng để làm cho dầu ngô (bắp), thường được sử dụng để nấu ăn.

Dầu ngô (bắp) tinh chế chủ yếu bao gồm các axit linoleic, một axit béo không bão hòa đa, trong khi không bão hòa đơn và chất béo bão hòa, tạo nên phần còn lại.

Dầu ngô cũng chứa một lượng đáng kể vitamin E, ubiquinone (Q10) và phytosterol, hiệu quả cho việc giảm mức cholesterol.

Tuy nhiên, vẫn còn có một số mối quan tâm với các loại dầu hạt tinh chế như dầu ngô. Ngô là tốt, nhưng dầu ngô không được khuyến cáo.

Ngô là tương đối thấp trong chất béo. Tuy nhiên, dầu ngô thường được chế biến từ ngô non.

Vitamin và khoáng chất

Bỏng ngô:

  • Mangan: Một yếu tố vi lượng thiết yếu, được tìm thấy với số lượng cao trong ngũ cốc, đậu, trái cây và rau quả. Mangan là kém hấp thu từ ngô do hàm lượng axit phytic.
  • Phốt pho: Được tìm thấy số lượng nhiều trong cả bỏng ngô và ngô, phốt pho là một khoáng chất đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và duy trì các mô cơ thể.
  • Magiê: Một chế độ ăn uống với nhiều khoáng chất quan trọng. Tình trạng nghèo magiê có thể làm tăng nguy cơ của nhiều bệnh mãn tính, như bệnh tim.
  • Kẽm: Một nguyên tố vi lượng có nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể. Do sự hiện diện của axit phytic trong ngô, khiến kẽm khó được hấp thụ.
  • Đồng: Một yếu tố vi lượng chất chống oxy hóa, nói chung là thấp trong chế độ ăn uống phương Tây. Thiếu đồng có thể có tác động xấu đến sức khỏe tim mạch.

Ngô:

  • Axit pantothenic: Một trong những vitamin B, còn được gọi là vitamin B5. Được tìm thấy ở một mức độ trong gần như tất cả các loại thực phẩm.
  • Folate: Còn được gọi là vitamin B9 hoặc axít folic, folate là một chất dinh dưỡng thiết yếu, đặc biệt quan trọng trong thời kỳ mang thai.
  • Vitamin B6: Thuộc một nhóm của các vitamin, phổ biến nhất trong số đó là pyridoxine. Nó phục vụ các chức năng khác nhau trong cơ thể.
  • Niacin: Còn được gọi là vitamin B3, niacin trong ngô không được hấp thu tốt.
  • Kali: Một chất dinh dưỡng cần thiết, quan trọng để kiểm soát huyết áp và có thể cải thiện sức khỏe tim mạch.
Ngô là một nguồn tốt của nhiều loại vitamin và khoáng chất.

Ngô là một nguồn tốt của nhiều loại vitamin và khoáng chất.

Các hợp chất thực vật khác

Ngô có chứa một số hợp chất thực vật hoạt tính sinh học, một số trong đó có thể đem lại sức khỏe tốt cho con người.

Trong thực tế, ngô có chứa một lượng cao chất chống oxy hóa hơn so với nhiều loại hạt ngũ cốc thông thường khác.

  • Axit ferulic: Một trong những chất chống oxy hóa polyphenol chính trong ngô, trong đó có chứa một lượng cao hơn so với các loại ngũ cốc khác như lúa mì, yến mạch và lúa.
  • Anthocyanins: Các sắc tố chống oxy hóa có trách nhiệm cho màu sắc của ngô.
  • Zeaxanthin: Được đặt theo tên ngô (Zea mays), zeaxanthin là một trong những carotenoid phổ biến nhất được tìm thấy trong hầu hết trong những cây thực vật. Ở người, zeaxanthin được liên kết với cải thiện sức khỏe của mắt.
  • Lutein: Một trong các carotenoid chính trong ngô. Giống như zeaxanthin, lutein được tìm thấy trong mắt người (võng mạc), nơi nó phục vụ như là một chất chống oxy hóa, bảo vệ mắt khỏi bị tổn thương oxy hóa.
  • Axit phytic: Một chất chống oxy hóa có thể làm giảm sự hấp thu các khoáng chất dinh dưỡng, chẳng hạn như kẽm và sắt.

Ngô có chứa một lượng cao chất chống oxy hóa cao hơn so với nhiều loại hạt ngũ cốc khác, Ngoài ra ngô rất giàu carotenoids có lợi cho sức khỏe của mắt.

Theo Đông y, hạt ngô có vị ngọt tính bình. Tác dụng lợi niệu đạo, tiêu thũng, bình can, lợi đàm, chữa viêm thận phù thũng, viêm đường tiết niệu và sỏi, xơ gan cổ chướng, viêm túi mật, sỏi mật, viêm gan, đái tháo đường, huyết áp cao, liều dùng 25-30g.

Bài thuốc hay chữa bệnh từ Ngô:

Bài 1. Thuốc chữa bệnh huyết áp cao

+ Ngô non                              300g

Ngô để cả bẹ, râu rửa sạch cho vào nồi luộc, lấy 200ml nước ngô luộc, chia 3 lần uống trong ngày và ăn hết ngô luộc, cần ăn mỗi ngày một lần, ăn trong nhiều ngày.

Bài 2. Thuốc chữa bệnh viêm túi mật

+ Ngô non (cả bẹ, râu) 100g

+ Nhân trần 30g

+ Cam thảo 10g

Các vị thuốc rửa sạch, cho vào nồi cùng 450ml nước đun sôi kỹ, chắt lấy 180ml nước đặc. Người bệnh uống ngày 3 lần, trước bữa ăn, mỗi lần 60ml nước thuốc, và ăn ngô. cần uống liền 10-15 ngày.