Bệnh Nội tiết

Chứng lạc nội mạc tử cung (chứng nội mạc tử cung lạc chỗ)

Đừng quên chia sẻ nếu bài viết hữu ích:

Tên khác: chứng nội mạc tử cung lạc chỗ

Định nghĩa

Bệnh lành tính với đặc điểm là mô nội mạc tử cung nằm ở những vị trí không bình thường, có thể ở trong vòi trứng (ống dẫn trứng), ở phúc mạc, ở buồng trứng hoặc những vị trí khác nữa.

Căn nguyên: chưa biết.

Giải phẫu bệnh

Mô nội mạc tử cung (niêm mạc tử cung) có cấu trúc bình thường và có thể nằm ở những vị trí khác nhau: ở trong lớp cơ hoặc lớp dưới thanh mạc của tử cung (70% số trường hợp), ở buồng trứng (3% số trường hợp), ở vòi trứng (3% số trường hợp), hoặc ở những nơi khác nữa (như đại tràng sigma, trực tràng, da vùng đáy chậu hoặc tầng sinh môn, vết sẹo ở thành bụng, rốn, thậm chí cả lồng ngực). Mô nội mạc tử cung lạc chỗ cũng thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, và do đó cũng gây ra chảy máu ở vị trí lạc chỗ, rồi có thể tạo thành những u nang chứa máu.

Triệu chứng: bệnh rất hay gặp ở phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ. Người ta hay nghĩ tới chẩn đoán nội mạc tử cung lạc chỗ khi gặp các trường hợp vô sinh do vòi trứng nhưng không phải viêm, các trường hợp rối loạn kinh nguyệt thứ phát, rong kinh, hoặc đau ở khung chậu nhỏ (chậu hông bé, tiểu khung) không giải thích được lý do. Nếu nội mạc tử cung lạc chỗ ở trực tràng thì gây ra chảy máu trực tràng. Khi thăm âm đạo bằng ngón tay, có thề phát hiện được: hoặc khối u trong khung chậu nhỏ, hoặc buồng trứng to và đau, hoặc các nốt (cục) trong túi cùng Douglas hoặc các thừng dính ở trong vách trực tràng-âm đạo.

Xét nghiệm cận lâm sàng

  • Soi ổ bụng (soi khung chậu nhỏ): cho phép khẳng định chẩn đoán, lấy bệnh phẩm sinh thiết và xác định vị trí cũng như mức độ rộng của nội mạc tử cung lạc chỗ.
  • Siêu âm, thụt baryt, chụp cắt lớp vi tính: hiếm khi cho những hình ảnh đặc biệt.

Điều trị

  • Nội khoa:danazol hoặc một loại progestérone tổng hợp (ví dụ: lynestrenol) liên tục trong 9-12 tháng. Người ta cũng sử dụng những thuốc tương tự với gonadorelin (xem: leuprorelin). Tỷ lệ có thai sau điều trị nội khoa có thể đạt tới 50%.
  • Ngoại khoa: cắt các nốt (cục, khối u) trong trường hợp mô nội mạc tử cung lạc chỗ lớn, hoặc gây ra vô sinh.

GHI CHÚ: Bệnh lạc nội mạc tử cung là thuật ngữ được dùng để chỉ nội mạc tử cung lạc chỗ vào trong lớp cơ tử cung, với biểu hiện rong kinh và chảy máu giữa những kỳ hành kinh.

Hỏi đáp - bình luận